Ngữ Văn Online

Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.

Phong phú

Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.

Chất lượng

Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.

Uy tín

Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.

Tổng Hợp Các Kiến Thức Ngữ Văn 10

Tổng Hợp Các Kiến Thức Ngữ Văn 10

Lượt xem 76
Lượt tải 54



TỔNG HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN 10


1. Tổng quan văn học Việt Nam:


  • Nền Văn học dân gian ra đời từ thời vin cổ tiếp tục phát triển về sau này. Tính nhân dân, tính dân tộc của từ nội dung tới hình thức tác dụng sâu sắc đến s hình thành phát triển của nền văn học viết.

  • Văn học viết ra đời vào khoảng thế k thứ 10 gồm 3 bộ phận: Văn học viết bằng chữ Hán, Văn học viết bằng chữ Nôm Văn học viết bằng chữ quốc ngữ. Ba bộ phận văn học y nối tiếp, kế thừa phát triển cho thy tinh thần sáng tạo, ý trí tự lp t cường sức mnh Việt Nam cùng to lớn.

  • Văn học dân gian cội ngun của nền văn học dân tộc. Hai thành phần Văn học viết Văn học dân gian luôn luôn tác động qua li, hội t kết tinh những thiên tài văn chương như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, v.v...

  • thể chia làm 3 thời k ln:


+ Thi k t thế k th X đến thế k XIX: Thơ văn Hán - Nôm.


+ Thi k t thế k th XX đến năm 1945: Thơ văn Hán Nôm - thơ văn quốc ngữ.


+ Thi k t sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay: thơ văn quốc ngữ mang nội dung cách mạng, kháng chiến, yêu nước tiến bộ.

2. Khái quát văn học dân gian Việt Nam:


- Những đặc trưng bản của văn học dân gian Việt Nam:


+ Văn học dân gian một thành tố của văn hoá dân gian, tức phôncơlo (trí tuệ nhân dân).

+ Văn học dân gian còn gọi văn học truyền ming hoặc văn học bình dân.


+ Văn học dân gian những sáng tác tập th truyn ming của nhân dân, ra đời từ thi vin cổ, phát triển qua các thời lịch sử, đến cả hiện nay mai sau. Văn học dân gian những đặc trưng riêng so với văn học viết; cùng với văn học viết hp thành nền văn học dân tộc.

- Hệ thng thể loi của văn học dân gian Việt Nam:


+Thơ ca dân gian: tục ngữ, câu đố, ca dao, hò, vè, truyện thơ.


+Truyện dân gian: thần thoi, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.


+ Sân khấu dân gian: chèo, tuồng đồ.


  • Những giá trị bản của văn học dân gian Việt Nam:


+ Văn học dân gian kho tri thức cùng phong phú về đời sống các dân tộc. + Văn học dân gian giá trị giáo dục sâu sắc vđạo làm người.

+Văn học dân gian giá trị thẩm to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc.

  1. Khái quát văn học Việt Nam từ TK X-hết TK XIX:


  • Các thành phần các giai đoạn phát triển:


  • Giai đoạn từ thế k X đến thế k XV.


+ 3 cuộc kháng chiến đại: thời đánh bại giặc Tng; thi Trần ba lần đánh thắng giặc Nguyên - Mông; thời đánh đuổi quân "cuồng Minh" tàn bạo.

+ Chu ảnh hưởng tưởng của đạo Phật, đạo Nho đạo Lão; sâu sắc nhất bao trùm nhất đạo Nho.

+ Văn học Hán Nôm thấm nhuần tưởng yêu nước tinh thần dân tộc, ý chí chống xâm lăng. Tác giả tiêu biểu nhất: Thường Kiệt, Trn Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Thánh Tông.

* Giai đoạn t thế k XVI đến đầu thế k XVIII.


+ Chế độ phong kiến khủng hoảng. Nội chiến Nam - Bc triều; Trịnh - Nguyễn phân tranh. Khởi nghĩa nông dân nổi lên như bão.

+ Văn thơ chữ Nôm phát triển mnh. Cảm hứng nhân đạo dào dạt nói lên nỗi đau thương của con người, biểu l tấm lòng thương dân lo đời. Tác giả tiêu biểu nhất Nguyn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ....

  • Giai đoạn từ nửa sau thế k XVIII đến nửa đầu thế k XIX


+ Chế độ phong kiến Việt Nam (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) khủng hoảng trm trng sụp đổ. Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn quét sạch thù trong giặc ngoài. Gia Long thiết lập triu Nguyễn. Nước ta rơi vào hiểm ho xâm lăng của thực dân Pháp.

+ Văn học viết Hán, Nôm phát triển rực r. Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm văn chương. "Chinh phụ ngâm", "Cung oán ngâm khúc","Truyện kiều"... những áng thơ kiệt tác. Tên tuổi những nữ Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Huyện Thanh Quan sáng chói cùng với Nguyn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Quát.....


  • Giai đoạn nửa sau thế k XIX.


+ Thực dân Pháp xâm lăng, rồi thống trị nước ta. Phong trào yêu nước chống Pháp.


+ Bắt đầu văn thơ viết bằng chữ quốc ngữ. Giai đoạn cuối cùng của văn học ch Nôm.

+ Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... những nhà thơ tiểu biểu nhất giai đoạn này

  • Những đặc điểm ln về nội dung: chủ nghĩa yêu nước, ch nghĩa nhân đạo cảm hứng thế sự.

  • Những đặc điểm ln về nghệ thuật: Tính quy phạm sự phá vỡ tính quy phạm.Khuynh hướng trang nhã xu hướng bình dị. Tiếp thu dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài.











CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY


    1. Tìm hiểu chung


      1. Về khái niệm sử thi


S thi những tác phẩm tự s dân gian quy lớn, s dụng ngôn ngữ vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về mt hay nhiu biến c ln diễn ra trong đời sống cộng đồng của dân thời c đại.

hai tiểu loi sử thi dân gian:


  • S thi thn thoại loại sử thi kể về s hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, s hình thành các dân tộc, các vùng trú thời cổ đại của họ hoặc cũng khi kể về s xut hin nền văn minh buổi đầu. nước ta một số bộ s thi tiêu biểu cho tiểu loại này như: Đẻ đất đẻ nước (Mường), m ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mơ- nông),….

  • S thi anh hùng những câu chuyện kể về cuộc đời những chiến công hiển hách của người anh hùng người đại din cao nhất cho sự giàu có, quyền lực, sức mạnh


ước của cộng đồng người thi c đại. Các tác phẩm tiêu biểu trong tiểu loại này là: Đam Săn, Đăm Di, Xing Nhã, Khinh - đê); Đam Noi (Ba- na),…. Trong số những tác phẩm này thì tác phẩm được biết đến rộng rãi nổi tiếng hơn cả sử thi Đam Săn.

      1. Về đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây


Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi về làm chồng hai chị em trưởng Nhị Bhị, Đam Săn trở nên một trưởng giàu uy danh lừng lẫy. Các trưởng Kên Kên(Mtao Grứ) trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đam Săn cùng các lệ lên rẫy, ra sông lao động sản xuất đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng bắt Nhị về làm vợ. Cả hai lần ấy Đam Săn đều t chức đánh trả chiến thng, vừa cứu được vợ li vừa sáp nhập được đất đai, của cải ca k địch khiến cho oai danh của chàng càng lừng ly, bộ tộc càng giàu đông đúc hơn.

Đoạn trích ngợi ca cuộc chiến đấu của Đam Săn. Đó cuộc chiến đấu danh dự, hạnh phúc gia đình hơn nữa cuộc sống bình yên sự phồn vinh của th tộc.

Đoạn trích này tiêu biểu cho những đặc trưng của th loi sử thi anh hùng.


  1. Đọc hiu

    1. Tóm tắt diễn biến trận đánh theo đúng trật tự của các tình tiết sự kiện

  1. Đam Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến nhưng Mtao Mxây còn bỡn cợt chàng chưa chịu giao chiến ngay.

  2. Bước vào cuộc chiến: Hiệp đấu thứ nhất

-Hai bên lần lượt múa khiên.

+Mtao Mxây múa trước: tỏ ra yếu ớt kém cỏi

+ Đam Săn múa khiên: tỏ ra mạnh mẽ, tài giỏi hơn

-Kết quả hiệp đấu: Mtao Mxây chạy khắp nơi để tránh đường khiến Đam Săn múa. Hiệp đấu thứ hai

-Đam Săn múa khiên: sức mạnh như gió bão. Cây giáo đâm liên tiếp Mtao Mxây nhưng không thủng.

-Kết quả


+ Đam Săn nhờ sự giúp đỡ của Ông Trời đã cắt được đầu của Mtao Mxây.

+ Dân làng Mtao Mxây nhất loạt theo Đam Săn về ngôi làng mới.

  1. Cuộc chiến giữa Đam Săn và Mtao Mxây là cuộc chiến tranh mang tính chất thống nhất cộng đồng. Nó không phải một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mục đích tàn sát, cướp bóc và chiếm giữ. Chính thế thái độ của lệ cả hai phía đối với việc thắng thua của hai trưởng cũng những nét riêng:

  • phía Mtao Mxây: Sau khi trưởng của mình thất bại, đông đảo lệ đều tâm phục nghe theo lời vị trưởng mạnh hơn (“không đi sao được!… người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”).Thái độ hành động của đoàn người này chứng tỏ họ luôn ước được trở thành một tập thể giàu hùng mạnh.Họ luôn ướcđược một người lãnh đạo dũng cảm, tài ba.

  • phía Đam Săn: Dân làng tưng bừng náo nhiệt chào đón vị anh hùng của mình mới chiến thắng trở về. Họ đi lại sửa soạn vui mừng tấp nập không chỉ để mừng buôn sóc được mở mang, được hùng mạnh giàu còn để tiếp đón những người lệ mới bằng sự chân thành hoà hợp (“... Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực. Các gái đi lại đụng vú. Cảnh làng một trưởng nhà giàu trông sao vui thế!”).

  1. Đoạn trích tuy miêu tả cuộc chiến tranh giữa các thị tộc trong thời nguyên thuỷ, thế nhưng lại không chú trọng miêu tả cảnh chết chóc đau thương. Trái lại, tác giả dân gian chủ yếu miêu tả cảnh chiến thắng tưng bừng của phía Đam Săn. Cuộc chiến dừng lại khi Mtao Mxây thất bại. Thế nhưng sự thất bại của Mtao Mxây không làm cho dân làng lo sợ, hoang mang. Họ ngay lập tức theo về phía Đam Săn, hoà nhập với cuộc đồng mới một cách rất tự nhiên. Dân làng của Đam Săn cũng vậy, họ đón tiếp những người bạn mới rất chân tình. Không khí của buổi tiệc sau chiến thắng tưng bừng náo nhiệt vui say không hề một chút gợn nào. Lựa chọn cách thể hiện nghệ thuật này, tác giả dân gian đã nhận ra tính tất yếu của cuộc chiến tranh thị tộc - đó cuộc chiến tranh không kìm hãm sự phát triển của hội Ê-đê, trái lại, giúp những tập thể lẽ tẻ, rời rạc tập hợp thành những tập thể lớn hơn, mạnh hơn. cũng chỉ như vậy, họ mới trở thành một dân tộc trưởng thành thực sự. Cách lựa chọn để hiện nghệ thuật ấy cũng cách để dân gian ngợi ca tầm vóc sứ mệnh lịch sử của người anh hùng. Chỉ những con người - ưu của thời đại như vậy mới đủ sức đứng lên thống nhất các thị tộc nhỏ lẻ lại với nhau, gom những thị tộc ấy lại thành một cộng đồng lớn mạnh giàu có.


  1. Trong đoạn trích này, kiểu câu được dùng nhiều nhất kiểu câu sử dụng biện pháp so sánh, von.Những câu ấy, hoặc chứa biện pháp so sánh kiểu tương đồng (chàng múa trên cao, gió như bão; chàng múa dưới thấp, gió như lốc; đoàn người đông như bầy tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối...), hoặc so sánh kiểu tăng cấp (Đam Săn múa khiên), cũng trường hợp so sánh kiểu tương phản (đối lập giữa cảnh múa khiên của Đam Săn và Mtao Mxây). Những câu văn theo kiểu đòn bẩy này có giá trị rất lớn trong việc miêu tả nhân vật người anh hùng. Nó khẳng định nâng bổng lên tài năng, sức mạnh của Đam Săn - người anh hùng uy danh lừng lẫy làm mờ đi cả sự giàu sức mạnh của kẻ thù.

Cần lưu ý thêm, nếu chúng ta tiến hành phân loại thì thể thấy rất ràng: các hình ảnh, sự vật được đem ra để so sánh đây đều lấy ra từ thế giới tự nhiên, từ trụ. Như thế hàm ý của tác giả muốn lấy trụ để "đo" kích cỡ, tầm vóc của nhân vật anh hùng. Thủ pháp nghệ thuật này một thủ pháp quen thuộc của sử thi. Nó giúp mang lại những giá trị thẩm mỹ rất đặc trưng cho thể loại này: đặc trưng về sự trang trọng, hoành tráng dữ dội.

  1. Sự xuất hiện của Ông Trời (thần linh) việc can thiệp của Ông Trời vào chiến thắng của Đam Săn chứng tỏ thời ấy, con người thần linh gắn mật thiết với nhau. Hay nói cách khác, dấu vết của duy thần thoại trong sử thi, dấu vết của một hội chưa sự phân hóa giai cấp rạch ròi. Tuy nhiên cũng từ câu chuyện này có thể nhận thấy, can thiệp vào công việc của con người nhưng thần linh chỉ đóng vai trò người "cố vấn", "gợi ý" hành động chứ không phải người quyết định tối cao kết quả của cuộc chiến. Như vậy trong mối quan hệ với các thần, người anh hùng vẫn giữ được vai trò quyết định tính độc lập riêng. Sắp đặt câu chuyện theo kiểu như vậy cũng một hình thức đề cao vai trò của nhân vật anh hùng, đề cao tinh thần dân chủ của thời thị tộc cổ xưa.



=> An Dương Vương chủ quan, quá cảnh giác. Ông người đầu tiên phải

gánh trách nhiệm về việc mất nước. Trách nhiệm của Mỵ Châu

  • Lén cho Trọng Thủy xem nỏ thần => tiết lộ mật quan trọng của quốc gia.

  • Rắc lông ngỗng => dẫn đường cho giặc đuổi theo, dồn vua cha đến bước đường cùng

. => Mỵ Châu một kẻ ngây thơ nhẹ dạ, không biết suy nghĩ nặng nhẹ, đem tình vợ chồng đặt lên trên nghĩa vụ đối với đất nước. Nhân vật Mỵ Châu

  • Lấy Trọng Thủy: vâng theo lời cha.

  • Cho Trọng Thủy xem nỏ thần: phục tùng chồng, yêu chồng quáng, cả tin nhẹ dạ.

  • Rắc lông ngỗng: không chịu được nỗi đau ly biệt, muốn gặp lại chồng.

Mỵ Châu ngây thơ, hết lòng yêu thương Trọng Thủy bằng một tình cảm chân thành, mãnh liệt thiếu trí, không biết tình cảm đó thể xung đột, đe dọa lợi ích quốc gia gây ra bi kịch cho bản thân mình

Nhân vật Trọng Thủy

    • Lấy cắp lẫy nỏ

    • Nếu chẳng may giặc giã…

    • Dẫn quân đuổi theo


=> Trọng Thủy một tên gián điệp đích thực đắc lực của Triệu Đà. Từ đầu đến cuối, hắn lừa dối Mỵ Châu gây ra cái chết của cha con An Dương Vương.

  • Cái chết của Trọng Thủy:

Nguyên nhân: nảy sinh tình cảm vợ chồng, không giải quyết được mâu thuẫn trong con người mình

=> Trọng Thủy nhân vật phức tạp, vừa thủ phạm, vừa là nạn nhân của chiến tranh xâm lược

=> tố cáo chiến tranh.

=> bi kịch của kẻ bị kẹt giữa tham vọng tình yêu.


3. Thái độ của tác giả dân gian

* Đối với An Dương Vương

    • An Dương Vương chém đầu Mỵ Châu

=> Người lãnh tụ phải cộng đồng thẳng tay trừng trị kẻ tội đó con ruột của mình cái chung phải đặt lên trên cái riêng.

    • An Dương Vương cầm theo sừng tê bảy tấc theo Rùa vàng xuống biển

=> Trong lòng nhân dân, người anh hùng dựng nước bất tử.

* Đối với Mỵ Châu

    • Rùa vàng nói: “Giặc sau lưng nhà vua đó!”

=> Đại diện cho trí tuệ và sự phán quyết mạnh mẽ của cha ông, nghiêm khắc phê phán kẻ tội.

    • Máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch

=> Nhân dân bao dung, an ủi cho tấm lòng trong trắng ngây thơ của Mỵ Châu (bị lừa dối, vô tình phạm tội).

=> Cái chung bao giờ cũng phải được đặt trên cái riêng, đôi khi phải hi sinh tình riêng cho cái chung.

* Đối với Trọng Thủy


  • Cái chết của Trọng Thủy: hắn giặc ngoại xâm, là kẻ phụ tình => phải bị đền tội.

    • Chi tiết ngọc trai giếng nước: Hóa giải oan tình của Mỵ Châu.

Nhân dân ta cũng tha thứ cho Trọng Thủy. Hắn cũng bị vua cha lợi dụng

=> vẻ đẹp hòan mỹ, thể hiện sự bao dung, nhân hậu của nhân dân ta

  1. Tổng kết

Nội dung: bài học lịch sử:

- Cảnh giác với kẻ thù.

  • Xử đúng mối quan hệ giữa chung riêng, nhà nước, nhân cộng đồng. Nghệ thuật

    • Kết cấu chặt chẽ.

  • Xây dựng nhân vật vừa phản ánh được mâu thuẫn nhân, vừa phản ánh mâu thuẫn giữa dân tộc với kẻ thù xâm lược.

    • Xây dựng tình tiết nghệ thuật đẹp, đọng, hàm súc.










TẤM CÁM

  1. Tìm hiểu chung

    1. Truyện cổ tích

    • Truyện cổ tích những tác phẩm tự sự dân gian cốt truyện hình tượng được hư cấu chủ định, kể về số phận những con người bình thường trong hội giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo lạc quan của nhân dân lao động.


  • Truyện cổ tích được chia thành ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt cổ tích thần kì. Truyện cổ tích thần phong phú nhất chiếm số lượng nhiều nhất.

    1. Đặc trưng của truyện cổ tích thần

  • Sự tham gia của yếu tố thần khá phổ biến (tiên, bụt, sự biến hoá thần kì, những vật phép màu…).

    • Kết cấu tương đối thống nhất: Dạng kết cấu phổ biến nhân vật chính trải qua những phiêu lưu, hoạn nạn, thử thách, cuối cùng đạt được ý nguyện của mình.

    • Nhân vật chính phần lớn những con người bình thường

    • Mâu thuẫn, xung đột gia đình hội được thể hiện dưới dạng khái quát: đấu tranh giữa cái tốt cái xấu, giữa cái thiện cái ác.

    1. Tấm Cám truyện cổ tích tiêu biểu cho loại cổ tích thần

Câu chuyện cuộc đấu tranh cùng quyết liệt giữa cái thiện cái ác. Mẹ con Cám tàn nhẫn độc ác đã chiếm đoạt tất cả những thuộc về Tấm và hơn nữa còn muốn tiêu diệt Tấm đến cùng. Thế nhưng bằng sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt, bằng ước và niềm lạc quan của người lao động, Tấm đã đứng lên chiến đấu quyết liệt với cái ác giành chiến thắng.

  1. Đọc hiểu

  1. Diễn biến của truyện thể chia thành hai giai đoạn

    • Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi xem hội phản ánh mâu thuẫn xoay quanh những quyền lợi về vật chất tinh thần trong cuộc sống hàng ngày.

    • Đoạn còn lại liên quan đến cái chết của Tấm và sự hóa thân trở đi trở lại của cô, xuất hiện những mâu thuẫn về địa vị quyền lợi đẳng cấp (mâu thuẫn hội) nên tính quyết liệt của mâu thuẫn hiện hơn. Diễn biến của cốt truyện cho ta hình dung về xu hướng phát triển của hai tuyến nhân vật:

  • Tuyến mẹ con Cám: càng ngày càng tỏ ra độc ác hơn, tàn nhẫn hơn. - Tuyến nhân vật Tấm, từ những hành động phản ứng yếu ớt, đã trở nên quyết liệt chủ động hơn để đòi lại hạnh phúc đích thực của mình.


  1. Nhân vật Tấm Tấm

sau khi chết đã hóa thân trở đi trở lại thành: chim vàng anh - hai cây xoan đào - khung cửi - quả thị, nghĩa đều hóa thành vật. Sự hóa thân thần này phản ánh một quan niệm của dân gian xưa: quan niệm đồng nhất giữa người vật. Cả bốn hình thức biến hóa này đều cho thấy vẻ đẹp về phẩm chất của nhân vật vẫn không thay đổi: bình dị sáng trong. Bốn lần biến hóa còn cho thấy sự biến chuyển trong ý thức đấu tranh của nhân vật.

dụ: Khi chim vàng anh, nhìn thấy Cám đang giặt áo, chim nói: "Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao". Nhưng khi chiếc khung cửi lên lời, nó quyết liệt hơn: Cót ca, cót két - Lấy tranh chồng chị - Chị khoét mắt ra

thể nói ý nghĩa chung nhất của quá trình biến hóa ấy thể hiện sức sống mãnh liệt của Tấm. Sức sống ấy không thể bị tiêu diệt bởi bất cứ một thế lực nào. Và chính nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng của nhân vật.

  1. Bản chất của mâu thuẫn xung đột trong truyện Tấm Cám

Mâu thuẫn xung đột trong truyện cổ tích này trước hết mâu thuẫn xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ đại (mâu thuẫn ghẻ mâu thuẫn con chồng). Nguyên nhân bắt nguồn từ việc kế thừa tài sản hưởng những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình.

Truyện cũng thấp thoáng xuất hiện những mâu thuẫn hội (về quyền lợi và địa vị) nhưng không phải chủ đạo. ý nghĩa chung nhất của tác phẩm toát lên từ mâu thuẫn giữa cái thiện cái ác. Đó cuộc đấu tranh giữa người lương thiện những kẻ bất lương.

  1. Hành động Tấm kết thúc truyện

Giội nước sôi giết Cám, lấy xác làm mắm, gửi cho ghẻ ăn gây nhiều tranh cãi không ít người phản đối cho rằng hành động ấy làm mất đi vẻ đẹp vẹn toàn của nhân vật Tấm. Thực ra phải hiểu rằng: trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan tâm đến tính chất man của sự việc. Theo quan niệm "ác giả ác báo" người ta chỉ chú ý đến việc cái ác bị trừng phạt như thế

nào với mức độ ra sao. Với tác giả dân gian, kết cục của mẹ con Cám như vậy thích đáng, phù hợp với những mẹ con mụ đã gây ra.


  1. Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần được biểu hiện trong Tấm Cám

    • Cốt truyện sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương bống những lần biến hóa của nhân dân chính.

    • Về kết cấu, truyện dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây một trong những kiểu kết cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì.

  • Truyện phản ánh những xung đột trong hội thời đã sự phân chia giai cấp.

  • Kết thúc truyện hậu mang tính nhân đạo lạc quan.









TAM ĐẠI CON NHƯNG PHẢI BẰNG HAI MÀY

    1. Khái quát chung

      1. Về khái niệm truyện cười

  • Truyện cười những truyện dân gian ngắn, kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc, hành vi trái tự nhiên của con người, tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí phê phán hội.

  • Truyện cười thường khai thác những mâu thuẫn trái tự nhiên những hành động kệch cỡm, rởm đời hay dốt nát trong cuộc sống. Truyện thường ngắn nhưng

chặt chẽ, ít các chi tiết rườm rà, mâu thuẫn phát triển nhanh kết thúc bất ngờ. Truyện cười mang ý nghĩa giải trí giáo dục. Ngoài tiếng cười, tập trung phê phán những thói tật xấu trong nội bộ nhân dân, vì thế mới ý kiến cho rằng, truyện cười không chỉ sản phẩm của óc khôi hài còn một thứ khí đấu tranh đắc dụng của nhân dân ta.

  • Truyện cười hai loại: Truyện khôi hài truyện trào phúng. Truyện khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí (tuy nhiên vẫn bao hàm giá trị giáo dục).


Truyện trào phúng được sáng tác với mục đích phê phán. Đối tượng phê phán phần lớn các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong hội nông thôn Việt Nam xưa (như: bọn quan lại bất tài, tham nhũng…). Cũng khá nhiều truyện cười phê phán thói tật xấu trong nội bộ nhân dân.

      1. Về hai văn bản Tam đại con Nhưng phải bằng hai mày

Hai truyện cười này đều thuộc loại truyện trào phúng. Đối tượng của sự phê phán thầy đồ dốt nói chữ bọn quan lại tham nhũng địa phương.

Truyện Tam đại con hướng sự châm biếm, đả kích vào những kẻ "xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ". Cái xấu, cái dốt càng che đậy càng dễ lộ ra, kệch cỡm đáng cười hơn rất nhiều lần.

Truyện Nhưng phải bằng hai mày lại giống như một màn kịch ngắn. Khai thác triệt để sự kết hợp giữa lời nói với cử chỉ với lối chơi chữ độc đáo, truyện đã vạch trần hành động tham nhũng trắng trợn của thầy lí. Đồng thời, truyện cũng nói lên tình cảnh vừa bi hài, vừa đáng thương, đáng giận của những người lao động.

    1. Đọc hiểu

  1. Trong truyện Tam đại con gà, "ông thầy" liên tiếp bị đưa vào hai tình huống:

  • Thầy đồ đi dạy học trò nhưng "thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hơi gấp, thầy cuống, nói liều...".

  • Khi bị người nhà phát hiện dạy sai, thầy ra sức bao biện để chối tội giấu dốt.

Trong lần thứ nhất, để "giải quyết tình huống", "ông thầy" đã nhắm mắt chọn cách nói liều. Hài ước hơn khi ngay sau đó, "ông thầy" còn viện đến thổ công để "chứng giám" một cách họa cho sự dốt nát của mình

Trong tình huống thứ hai, "ông thầy" đã giải quyết để bào chữa cho mình bằng một cái "lí sự cùn".

Qua chỉ hai tình huống, cái bản chất "dốt" của thầy đồ đã được bộc lộ ra. Cái mâu thuẫn trái tự nhiên nhân vật này là dốt >< khoe giỏi. Thầy đồ đi dạy học dốt đến mức cái chữ tối thiểu trong sách cũng không biết, không đọc được. Dốt như vậy thầy đồ vẫn ham khoe giỏi (sau khi khấn thổ công, "thầy lấy làm đắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to"). Sự hài


hước của câu chuyện lên đến đỉnh điểm khi thầy đồ, đã biết mình dạy dốt vẫn cứ nhất quyết bao biện cho mình bằng một cái "lí sự cùn" hoàn toàn không thể tin tưởng được. Tất cả những hành động cố gắng "lấp liếm" cái dốt này, quả thực chỉ làm cho thầy đồ càng thảm hại hơn thôi.

  1. Qua hình ảnh thầy đồ trong truyện Tam đại con gà, truyện phê phán một tật xấu trong nội bộ nhân dân, phê phán những người dốt không chịu học hỏi, dốt cứ cố tình che đậy sự dốt nát của mình. Tuy nhiên cái cười trong truyện ngắn này chủ yếu vẫn mang tính chất giải trí - cười sự ngây ngô liều lĩnh của thầy đồ, chứ chưa tới mức cười nhằm đả kích triệt tiêu đối tượng.

  2. Về truyện Nhưng phải bằng hai mày

    1. Mối quan hệ giữa Cải thầy trước khi xử kiện mối quan hệ đã được xếp đặt rồi (Cải đã lót tiền trước cho thầy năm đồng). Cải cứ nghĩ quan sẽ cho mình được kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động không thể nói tiếp được lời nào.

    2. Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ "ngôn ngữ". Ngôn ngữ bằng lời nói ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả những người mặt đó nghe. Nhưng thứ "ngôn ngữ" bằng động tác thì chỉ thầy Cải mới hiểu được. Nếu Cải xòe ra năm ngón tay "ngầm" ra hiệu với thầy đó "lẽ phải" thì thầy đã đáp lời nhanh chóng bằng việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, ý nói "lẽ phải" kia đã được nhân đôi. Sự thú vị được người đọc nhận ra khi tìm thấy sợi dây liên hệ thông suốt giữa: lẽ phải - những ngón tay những đồng tiền.

Ý nghĩa tố cáo của truyện chính chỗ: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều, tiền ít lẽ phải ít.

  1. Lời nói của thầy cuối truyện

Nhưng phải bằng hai mày một sự vận dụng độc đáo sáng tạo nghệ thuật chơi ngữ gây cười. "Phải"một từ chỉ tính chất, đem ghép với một từ chỉ số lượng (phải bằng hai) tưởng như vô lí. Thế nhưng khi ta liên tưởng đến năm đồng mười đồng tiền đút lót của Ngô Cải, ta lại thấy hoàn toàn hợp lí. Lời phán quyết của thầy "vô lí" trong xử kiện nhưng lại trong mối quan hệ (tiền bạc) với các nhân vật. Chính việc "đánh lộn sòng" này đã tạo ra tiếng


cười hài hước sự thích thú trong quá trình "giải mã" tác phẩm của mỗi chúng ta.

  1. truyện Nhưng phải bằng hai mày, nhân vật bị thất bại trong vụ kiện nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay thế bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn những người như Ngô Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ nguyên nhân làm cho họ trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ những kẻ đáng thương nhưng cũng những người đáng giận.

  2. thể thấy rõ đặc trưng thể loại của truyện cười qua việc phân tích lời nói hành động của nhân vật trong hai truyện Tam đại con Nhưng phải bằng hai mày.

  1. Đối với truyện Tam đại con

Câu chuyện nhiều hành động lời nói của thầy đồ tác dụng gây cười:

    • Các hành động của "Ông thầy":

+Bảo học trò đọc khe khẽ (vì chưa biết mình dạy đúng hay sai nên phải "thận trọng" để giấu dốt).

+ Xin đài âm dương 3 lần (hành động ngược đời - đúng ra phải hỏi lại người hiểu biết hơn mình để giảng giải cho học trò rõ). Hành động này hàm ý "Ông thầy" coi cái chuyện dạy học hệ trọng này chẳng khác chuyện đánh bạc cầu may.

+ Ngồi bệ vệ trên giường, bảo học trò đọc to (đắc chí với sự ngốc nghếch của mình không biết).

  • Lời nói của thầy:

+ Dủ dỉcon

+ Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con

+ Dủ dỉchị con công, con công ông con gà.

Tất cả các lời nói này đều cho thấy sự ngốc nghếch phi trong những 'bài học" lời nói của "Ông thầy". Xét về mức độ, ta thấy hành động lời nói của


nhân vật được nhà văn sắp xếp theo trật tự tăng tiến. Mức độ phi sự nực cười của lời nói hành động ngày càng được đẩy lên cao.

  1. Đối với truyện Nhưng phải bằng hai mày

    • Hành động của nhân vật Cải Ngô: hai người đều tìm cách đưa đút lót trước cho thày không hành động của người kia.

    • Thầy thì tham lam nên nhận tiền của cả hai người. Khi xử kiện lại lấy bàn tay để ra hiệu.

    • Lời nói hài hước của các nhân vật: Xin xét lại, lẽ phải về con mà!”(Cải nói). “Tao biết mày phải…nhưng lại phải…bằng hai mày!” (lời đáp của thầy lí)

  1. Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười:

    • Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian.

    • Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên tiềm ẩn những yếu tố gây cười.

  • Dung lượng ngắn, kết cấu lôgíc chặt chẽ kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ.










CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA

  1. Khái quát chung

    1. Khái niệm ca dao

Ca dao những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa khi ấy, lời thơ làn điệu của ca dao gắn chặt


chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao thơ vậy ca dao còn nghĩamột thể thơ dân gian.

Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    1. Đặc điểm của ca dao

Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm...

Về nghệ thuật, ca dao sáng tác tập thể, vì vậy kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu... (ví dụ lối so sánh von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức...)

  1. Đọc hiểu

  1. Chùm ca dao trữ tình

gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    • Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong hội xưa.

  • Nội dung yêu thương tình nghĩa:

+ Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.

+ Bài 6: câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất trong tình yêu tình chồng vợ).

  1. Về các bài 1, 2

    1. Hai lời than thân này đều hình thức mở đầu cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. thể xác định đây lời than của những gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai hạnh phúc của mình. Họ khát khao chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.


    1. Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại một sắc thái tình cảm riêng:

Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).

Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn lời mời mọc da diết của gái.

Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong hội xưa.

  1. Về bài 3

  1. Trong ca dao, típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

- Ai làm cho bướm lìa hoa

Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.

- Ai làm bầu đứt dây

Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng.

trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” đây thể cha mẹ, những hủ tục cưới cheo phong kiến hay khi chính người tình…

  1. Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thủy chung son sắt của lòng người chính chủ ý của tác giả dân gian.

  2. Sao Vượt tên cổ của sao Hôm. thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng một khát khao mong tình yêu thể cập đến bến bờ hạnh phúc.


  1. Về bài 4

Thương nhớ vốn một tình cảm khó hình dung, nhất thương nhớ trong tình yêu. Vậy bài ca dao này, lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể - nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của gái đang yêu.

Cái khăn được nhắc đến đầu tiên được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi thường vật kỉ niệm, vật trao duyên. lại luôn luôn bên mình người con gái. Chính thế thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt... nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

Nỗi nhớ thương của gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn - đó nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính ngọn lửa tình trong lòng gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. câu trả lời chính trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

  1. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu một típ rất quen thuộc. biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo - cành hồng, ngọn mồng tơi,... đây dải yếm. Con sông đã không thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không thực. Nó thực ra một "cái cầu tình yêu". Bài ca dao còn độc đáo hơn chỗ chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình ý nhị biết bao. Chiếc cầu đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi... những vật bên ngoài chủ thể). thế chiếc cầu - dải yếm như một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

Xem thêm một số câu ca dao về chiếc cầu dưới đây:


- Hai ta cách một con sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc ngang

Đố người bên ấy bước sang cành trầm

- Gần đây chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu

Sợ rằng chàng chả đi cầu

Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em..

Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

Hai bài ca dao trên đều lời mời gọi của nhân vật trữ tình. hình thức giống như những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau hình ảnh "chiếc cầu" (cành hồng, cành trầm) nhưng đều giá trị thẩm cao.

bài ca dao dưới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi giản dị (ngọn mùng tơi) nhưng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của gái hướng đến chàng trai (người phía bên kia).

  1. Bài 6 câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay - muối mặn).

  • Muối gừng hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng vị cay nồng nhưng thơm, muối vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống - tình nghĩa thủy chung gắn sắt son.

Bài ca dao câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng - những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay - muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như một sự


luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

  1. Những biện pháp nghệ thuật ca dao thường sử dụng là: - Sự lặp đi lặp lại của thức mở đầu: Thân em như...

  • Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay

  • muối mặn...

    • Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ấu gai…

  • Các típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.

  • Thể thơ: lục bát - lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

Những biện pháp nghệ thuật này nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ - dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

  1. thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng "thân em như...":

- Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

  • Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

  • Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

- Thân em như miếng cau khô

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

- Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:


    • Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em - hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của gái khi số phận của mình (buồn - vui, sướng - khổ) chỉ thể trông nhờ vào sự may mắn thôi.

    • Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

  • Hai câu cuối lời than của người phụ nữ khi giá trị vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

  1. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu về cái khăn:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

  • Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

  • Đêm qua ra đứng bờ ao Trông lặn trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện giăng Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

- Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

- Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng vẫn điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vậy cuốn hút hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm "Đất nước nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm" vừa lấy ý tứ từ sự thương


nhớ của ca dao vừa lại khái quát lên một cấp độ cao hơn - câu thơ chính một nét đẹp giản dị tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt.

\



T LÒNG


(Phạm Ngũ Lão)


  1. Khái quát chung


    1. Hoàn cảnh


Hào khí Đông A hào khí đời Trần (chữ Đông chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ng này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trn (thời chúng ta những chiến công lừng ly khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên- Mông).

Hào khí Đông A chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho s vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình.

Hào khí Đông A từ xã hội đi vào thơ văn trở thành sự kết tinh cho nhng biểu hin cao đẹp của lòng yêu nước. không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của Hào khí Đông A: Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lao,Tụng giá hoàn kinh (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng văn của Trn Quốc Tuấn,…

    1. Bài thơ


Tỏ lòng một bài thơ ngắn nhưng lại mang đậm dấu ấn của cả mt thời (du n về

âm hưởng của hào khí Đông A). Bài thơ một bức tranh vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với tưởng nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến quyết thắng.

  1. Đọc hiu


    1. So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ "múa giáo" chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai t "hoành sóc"

"Hoành sóc" cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, t "hoành sóc" đều to ra cảm giác lớn lao hơn.


Trong câu thơ đầu này, con người xuất hin trong bối cảnh không gian thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng đo bằng năm, không phải mi một năm đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật vĩ. Con người hiên ngang y mang tầm vóc của con người trụ, non sông.

    1. Câu thơ “Tam quân hổ khí thôn ngưu” hai cách hiểu:


Th nhất, ta thể hiểu “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Nhưng cũng thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. thể nói quân đội nhà Trần mnh cả về trí lực, không những được đầy đủ binh hùng tướng mạnh còn những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tun, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng đủ sức làm đổi thay trời đất.

    1. Tỏ lòng bài thơ nói chí


Đó cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ. Chính thế, món "nợ công danh" nhà thơ nói đến đây vừa khát vọng lập công, lập danh (mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời) vừa ý "chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước". Theo quan niệm tưởng của trang nam nhi thời phong kiến thì công danh được coi một món nợ đời phi trả. Trả xong nợ công danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước. phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn "thẹn" mình chưa được như Hầu Gia Cát Lượng, nghĩa vẫn mun lập công lập danh để giúp nước giúp đời.

    1. Trong câu thơ cuối, nỗi "thẹn" đã thể hin vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng

Phạm Ngũ Lão "thẹn" chưa được tài năng mưu lược như Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh - đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn trí lực của mình thì hạn nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn b. Nỗi thn ca Phạm Ngũ Lão cũng những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó những nỗi thẹn giá trị nhân cách - nỗi thẹn của những con người trách nhiệm với đất nước, non sông.

    1. Người xưa nói "Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách"


Câu nói y quả rất đúng với tinh thần của bài thơ "Tỏ lòng". Đọc những dòng thơ hào hùng khí thế, ta thể cảm nhận rât vẻ đẹp sức vóc ý chí của


những trang nam nhi thời đại nhà Trần. Âm hưởng anh hùng ca của thời đại do những con người y tạo nên cũng chính âm hưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ. Họ đã từ bỏ li sống tầm thường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Tinh thần ý chí ngoan cường của những con người y sẽ vẫn mãi tưởng cho nghị lực sự phấn đấu của tui tr hôm nay mai sau.

    1. Cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ thơ đanh thép hùng hồn. Trong đạo quân mạnh như hổ báo, chí khí lẫm liệt làm át, làm mờ c sao Ngưu trên bầu trời, thì người chiến thời Trần đã cầm ngang ngọn giáo để bảo vệ giang sơn. Ngọn giáo y mang tầm vóc đo bằng kích thước non sông. Hình tượng người anh hùng "Sát Thát" được thể hiện bằng ngôn ngữ tráng lệ, khác nào người anh hùng thần thoại, người dũng trong sử thi xa xưa?

Người anh hùng thuở "Bình Nguyên" nung nấu trong lòng, cháy bỏng tâm hồn niềm khao khát: đánh giặc lập công để đền ơn vua báo nợ nước. Mang nặng nợ công danh cũng khát vọng anh hùng cao đẹp. Tự tin tự hào khi nhà thơ khẳng định.

"Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Hầu"

Bài thơ khúc tráng ca của người anh hùng Phạm Ngũ Lão trăm trận trăm thắng. Cùng với "Hịch tướng " (Trần Quốc Tuấn), "Tụng giá hoàn kinh sư" (Trần Quang Khải)... bài thơ "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão sáng ngời Hào khí Đông - Á.







CẢNH NGÀY


  1. Khái quát chung


    1. Tác giả Nguyễn Trãi


Nguyễn Trãi (1380 1442) hiệu Ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông mất ngày 19 - 9 - 1442, tức 16 tháng Tám năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bo th ba, trong v án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc


Bc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch s Việt Nam. Ông nhà văn hoá, nhà thơ lớn của dân tộc, người m đầu cho sáng tác thơ Nôm Việt Nam. Cnh ngày một trong những bài thơ đặc sc trong tập Quốc âm thi tập, mt tập thơ Nôm được xem cổ nhất.

    1. V Quốc âm thi tập


  • tập thơ Nôm sớm nhất còn lại đến hôm nay. một “bông hoa nghệ thuật đầu mùa” của thơ ca Tiếng Việt.

  • Về nội dung, Quốc âm thi tập phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi (lí tưởng nhân nghĩa; lòng yêu nước, thương dân; tình yêu thiên nhiên, quê hương, con người, cuộc sống,…).

  • Về nghệ thuật, tác giả Quốc âm thi tập vận dụng một cách thành thục th thơ thất ngôn đường lut của Trung Quốc. Tuy nhiên, chỗ Nguyễn Trãi lại chen vào mt số câu thơ lục ngôn thích hợp (mt sự phá cách trong sáng tạo nghệ thut của nhà thơ).

Bài thơ Cảnh ngày thể hin vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang v đẹp bình dị, t nhiên, sự đan xen câu lục ngôn (sáu chữ) bài thơ thất ngôn (bảy chữ).

  1. Đọc hiểu


  1. Mch cảm xúc của bài thơ


Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, phần chán ngán đến hứng khi, phấn chấn đó mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè.

  1. Bức tranh mùa


Cảnh ngày hiện ra thật đẹp, đầy sức sng với những chi tiết cụ thể, sinh động: tán hoè xanh thẫm che rp, thch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi.

  1. Ngh thut sử dụng t ngữ


Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, t láy giàu sức gi hình tượng cảm giác. câu 2, 3, 4, 5, 6 các từ: đùn đùn, giương, phun, đỏ, tin, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra; từ phun gi sự nổi bt, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu;


tiễn (ngát, nức) gi tả sc lan to của hương sen; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước ch cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động.

Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhn cảnh ngày của nhà thơ bộc l tình yêu s sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người.

  1. Nhịp điệu tiết tấu giàu sức gi tả


Bức tranh ngày sinh động không những được gi tả bằng hình nh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của s vật còn thể hin nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm v s câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngu hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 6) thì vẫn thấy đây bài thơ thất ngôn bát cú.

Nhưng bài thơ một s điểm khác so với thất ngôn bát Đường luật:


- Câu 1 câu 8 chỉ sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 câu 7 thành liên như thể thơ Đường lut.

  • Đa dạng hơn về nhịp điệu:


  1. Tâm sự của nhà thơ


Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về s sống mùa đã cho thấy tâm trạng phn chấn trước v đẹp của cuc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc l niềm quyến luyến, thiết tha lớn vi cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, vi cuc sống nhân dân hiện ra nét hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn với đời được c thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhp thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi.

  1. Cảnh tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà.


T cảnh ngày hè, bài thơ một bức tranh tràn đầy sức sống. Sức sống của s vật trong trong bức tranh t cảnh mùa cũng thể hin cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn tái hiện cảnh vt.






NHÀN


(Nguyễn Bỉnh Khiêm)


    1. Khái quát chung


      1. Nguyn Bỉnh Khiêm (1491 1585) người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), từng thi đỗ trạng nguyên. Làm quan được tám năm, ông dâng sớ xin chém mười tám kẻ lng thần nhưng không được chp nhận. Sau đó ông xin về trí quê nhà, tự đặt tên hiệu Bạch Vân sĩ, dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân, mở trường dy học. Tác phẩm của Nguyn Bỉnh Khiêm gồm tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập, tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ng thi, tập sấm Trình Quốc công sấm kí,…

      2. Bao trùm trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ khi v trí quê nhà cảm hứng thanh nhàn, tự ti, gắn với tự nhiên, không tưởng bon chen phú quý. Cảm hứng ấy được th hiện bằng ngôn từ gin dị, t nhiên đọng, giàu ý vị. Bài thơ Nhàn trích tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một trường hợp tiêu biu.

      3. Vi lời thơ tự nhiên, giản dị giàu ý vị, bài thơ Nhàn thể hiện được một cách sâu sắc cái thú ý nghĩa triết trong lối sống nhàn dật tác giả đã lựa chn. Đó quan niệm sống nhàn hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

II. Đọc hiểu


  1. Nổi bật trong bài thơ hình ảnh người trí ẩn nhàn dật


Nhân vật tr tình này xuất hin trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt quan niệm sng: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa gic mộng.

  1. Âm hưởng hai câu thơ đầu đã gợi ra ngay cái vẻ thung dung


Nhịp thơ 2/2/3 cộng với việc dùng các số t tính đếm (một…, một…, một…) trước các danh từ mai, cuốc, cần câu cho thấy cái chủ động, sẵn sàng của cụ Trạng đối vi cuộc sống điền dã, còn như chút ngông ngạo trước thói đời.


  1. thể thấy vẻ đẹp giản d, t nhiên của bài thơ vic lựa chn từ ngữ, ging điệu



Các từ ngữ nôm na, dân được s dụng kết hp với cách cấu tạo câu thơ như lời khu ngữ t nhiên đã tạo ra nét nghệ thuật độc đáo cho bài thơ. Đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: “Văn chương ông tự nhiên nói ra thành, không cần gọt giũa, gin dịlinh hoạt, không màu ý vị, đều quan hệ đến việc dạy đời”.

  1. S đối lập giữa “Ta dại” “Người khôn” trong câu 3 - 4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự la chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa th hin sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với ch sống ham hố danh vọng, phú quý. Theo đó, cái dại của “ta” cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thu trit lẽ thnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thun l

t nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn “nơi vắng vẻ”, nghĩa nơi thể tĩnh tại, sống an nhàn, không tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” chọn “Đến chốn lao xao”, nghĩa nơi ồn ã, đó con người chen chúc, đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy. “khôn” - “dại”, “nơi vắng vẻ”

  • “chốn lao xao” những quan niệm sống, cách lựa chn rất khác nhau.


  1. hai câu 5, 6, tác giả nói đến chuyện “ăn” “tắm” một cách đầy thích thú


Theo vòng quay bốn mùa quanh năm, việc “ăn”, “tắm” của “ta” thuận theo tự nhiên, hoà hợp với tự nhiên; đạm bạc, thanh bần nhưng thú vị, thanh thản.

  1. Triết nhân sinh


Hai câu thơ cuối bài thể hin tập trung, sâu sắc quan niệm triết nhân sinh của tác giả. Hai câu này lấy tích trong truyện đời Đường. Chuyện kể về Thuần Vu Phần một viên tướng tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mng nên từ chức v nhà, lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hoè, thấy mình được làm phò cho vua nước Hoè, được hưởng giàu sang phú quý, tỉnh dy mi biết đó chỉ giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để bc l thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chỉ giấc chiêm bao, không thực, qua đó khẳng định thêm một lần nữa s lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình.

Lánh đời ẩn dật, cách ứng xử đó của tác giả vẻ tiêu cực. Nhưng trong hoàn cảnh nào đó, khi muốn giữ gìn nhân cách, sự thanh thản, tĩnh tại cho mình, đó lại cách ứng xử tích cực.


  1. thể tham khảo nhận định dưới đây để m rộng tìm hiểu vẻ đẹp thanh cao của triết nhàn dật trong tưởng sống của người xưa:

“Ông nhàn người sống với cách một nhân, chứ không phải với cách thành viên của mt cộng đồng nào đó, một con người lạc thú, chứ không phải ch chức năng, nghĩa vụ. Sống dưới chế độ chuyên chế theo Nho giáo, con người bị trói buộc bởi hai sợi dây: nghĩa phận. Phn vạch ranh giới cho từng người, quy định mc cho mỗi người được ngồi, đứng, nói năng, xưng hô, ăn, .

Nghĩa nhắc nhở mọi người trách nhiệm đối với người trên kẻ dưới,… Trong hi tổ chức như vậy, con người không được coi mình nhân - độc lập, cái riêng của mình, không được nghĩ đến lạc thú. Do đó tìm nhàn dật tìm cái vui cho thân tâm, tránh cái lụy hình dịch, tìm thoát khỏi s ràng buộc chặt ch hình của thể chế chuyên chế theo Nho giáo,… Ông nhàn tự coi mình nhân không bị ràng buộc. Nhưng một mặt không thể coi nhân độc, coi cái “tôi” trung tâm. Cho nên cố tránh ràng buộc bằng cách từ bỏ danh lợi, không đi con đường công danh, giành phận vị, coi thường giàu nghèo, sang hèn, đứng ngoài sự ràng buộc của phận. Để chút thoải mái đó, ông nhàn phải ch động tự hạn chế: không cậy tài, yên phận, không tranh giành không động lòng về lời khen, tiếng chê.”

(Trần Đình Hượu, trong Nguyễn Bnh Khiêm danh nhân văn hoá, B Văn hoá thông tin thể thao xuất bản, H, 1991)

  1. Vẻ đẹp cuộc sống tâm hồn của Nguyn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn"


"Nhàn" một chủ đề lớn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn theo quan niệm của nhà thơ sống thun lợi theo lẽ tnhiên, không màng danh lợi. Bài thơ này lời tâm sự về cuộc sống sở thích nhân. cũng đồng thời th hin mt quan niệm nhân sinh độc đáo của nhà thơ.

Bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật cùng giản dị: Mt mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.


Đó cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của cụ Trạng. thuần hậu thanh khiết biết bao. Câu thơ đưa ta trở về với cuc sống chất phác nguyên của cái thời "nước giếng đào, cơm cày ruộng". Cuộc sống t cung t cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. Hai câu đầu còn cái tâm thế nhàn tản, thong dong.

Nhp cầu thơ nghe như nhân vật tr tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một... mt... mt...


Đến hai câu luận nhà thơ lại tiếp tục nhấn thêm một chút tình điệu thôn quê nữa để người đọc cm nhận thực s được cái vui của "cuộc sống nhàn":

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Vẫn những ngôn từ gin d, vẫn những hình ảnh nghệ thuật dân dã, đời thường, vậy hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm "sang trọng" biết bao. chăng những không gợi ra vẻ khắc kh còn toát lên toàn bộ vẻ thanh cao. Thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt cả trong cái niềm thích thú khi được hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên.

Cuc sng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thế, rất giản d, rất tự nhiên vẫn thanh cao thú vị cùng. Nếu chỉ đọc bốn câu thơ miêu tả về cuộc sống, chúng ta th nghĩ ngay đến hình ảnh mt bậc danh nho đang muốn lánh đời. Thế nhưng trở về với hai câu thực, chúng ta sẽ hiểu hơn cái quan niệm "lánh đời" của nhà thơ:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ


Người khôn, người đến chốn lao xao


. Vy ra, Tuyết Giang phu tử về với thiên nhiên để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chn nhiễu nhương đầy những ganh tị, bon chen. Hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. thế tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. Câu thơ đúng trí tuệ sc so của mt bậc đại quan - trí tuệ để nhận ra cái khôn cái dại tht sự đời. Hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung t ti:

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Hai câu thơ chẳng biết đang vẽ cảnh đời hay tiên cảnh. đó nhân vật trữ tình cũng không biết đang tình hay mơ. Tất cả cứ hòa cùng làm một dưới cái nhãn quan tỏ tường thông tuệ của nhà thơ.







ĐỘC TIỂU THANH

(Nguyễn Du)




  1. Khái quát chung

    1. Độc “Tiểu Thanh kí” nằm cuối Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Bài thơ liên hệ với Tiểu Thanh trong Tiểu Thanh truyện với nhân vật Tiểu Thanh, một người tài hoa bạc mệnh.

    2. Với nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, hình ảnh hàm súc cao độ, bài thơ thể hiện nổi bật tâm trạng xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh.

  2. Đọc hiểu

  1. Tiểu Thanh sắc, lại tài (thơ phú văn chương) thế nhưng cuộc đời của nàng lại gặp quá nhiều bi kịch (phải làm lẽ, bị dập vùi, trước tác bị đốt dở dang). Số phận hẩm hiu, đau khổ của nàng chính do khiến Nguyễn Du cảm thương chia sẻ. Đồng thời cũng từ bi kịch của Tiểu Thanh, nhà thơ suy nghĩ về định mệnh nghiệt ngã của những người tài văn chương, nghệ thuật.

  2. Trong câu thơ dịch, chữ "nỗi hờn" (nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi) cha diễn đạt được hết ý nghĩa của hai từ "hận sự". Vậy mối hận "cổ kim" đây nghĩa gì? Đó mối hận của người xa (như Tiểu Thanh) người thời nay (những người phụ nữ "hồng nhan bạc mệnh" đang sống cùng thời với Nguyễn Du, thậm chí cả những con người tài năng thơ phú như nhà thơ Nguyễn Du nữa). Họ đều những người đã gặp bao điều không may trong cuộc sống. Từ đó, nhà thơ của chúng ta cho rằng: một thông lệ vô cùng nghiệt ngã đó ông trời luôn bất công với những con người tài sắc. Sự bất công ấy đâu chỉ đến với riêng người phụ nữ tài hoa bạc mệnh Tiểu Thanh còn nỗi hận của bao người (những Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du...). Nỗi hận ấy từ hàng trăm năm nay đâu thay đổi. Bởi vậy như một câu hỏi lớn không lời đáp cứ treo lửng giữa không trung đến "ông trời" cũng "không hỏi được".

  3. Giá trị nhân bản đặc sắc của bài thơ chỗ Nguyễn Du đã đặt ra vấn đề về quyền sống của người nghệ sĩ. Từ sự thương xót đồng cảm với Tiểu Thanh, nhà thơ muốn gửi gắm sự trân trọng của mình đến những người nghệ sĩ nói chung - những chủ nhân của những giá trị tinh thần. Bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với họ một dấu hiệu tiến bộ trong chủ nghĩa nhân bản của Nguyễn Du. Tình thương yêu sự quan tâm của nhà thơ lúc ấy đã vượt qua những giới hạn về không gian thời gian. Nó không chỉ sự quan tâm chia sẻ với những con


người bất hạnh (những cảnh đói cơm, rách áo) hơn thế nữa còn sự thương yêu trân trọng con người nói chung.

  1. thể chia bài thơ thành bốn phần, mỗi phần lại vai trò riêng trong việc thể hiện chủ đề của bài thơ.

- Đề

Cảnh vật tang thương. Vườn hoa Tây Hồ đã thành hoang hết cả. Thương một đời dâu bể, nhà thơ thương người đàn bà bạc mệnh. Nhà thơ đọc "mảnh giấy tàn" (nhất chỉ thư) đứng lặng trước cửa sổ điếu nàng Tiểu Thanh.

"Tây Hồ cảnh đẹp hoá hoang Thổn thức bến song mảnh giấy tàn"

  • Thực

Nhan sắc (son phấn) tài năng (văn chương) đều bị vùi dập. Son phấn thần, sau khi chết người ta còn xót thương tiếc nuối. Văn chương còn số mệnh người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau khi bị đốt? Nhà thơ thương xót cho nhan sắc tài năng của Tiểu Thanh bị hãm hại, chôn vùi: "Chi phấn hữu thần liên tử hậu,

Văn chương mệnh lụy phần dư".

Hai câu thơ đối nhau làm nổi bật nhan sắctài năng bị vùi dập, thể hiện tình thương của nhà thơ. Đúng "Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình" (Tố Hữu).

- Luận

Nhà thơ suy ngẫm về "hận sự""kì oan" trong hội. Mối hận xưa nay hỏi trời vẫn khó. Cái oan lạ nết phong nhã, tự mình ta lại buộc lấy mình. Ta như kẻ cùng hội cùng thuyền với kẻ mắc nỗi oan lạ nết phong nhã ấy. Nỗi đau thương bế tắc dày nhà thơ đó cũng là nỗi đau bế tắc của đời người:

"Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang"

Phải hỏi trời hỏi người mãi chẳng được. Hỏi trời lại càng rất khó, thế thì "hận sự" không thể nào kể xiết. Bế tắc hạn! Phong lưu, phong nhã là vẻ


đẹp, cốt cách sang trọng sao lại oan? Nguyễn Du đã từng trải qua "10 năm gió bụi" trong cảnh tha phương, ốm đau không thuốc, trôi giạt lênh đênh, tóc sớm bạc có lúc ông tự nhận mình thời trai trẻ cũng kẻ tài (tráng niên ngã diệc vi tài giả). thế ông mới tự xếp mình vào "cùng hội cùng thuyền", khách phong lưu như Tiểu Thanh nên mới mang cái oan lạ như nàng. Thật chua chát!

  • Kết

Hai câu kết ẩn chứa bao tâm sự. Tố Như hỏi hậu thế: "Bất tri tam bách niên hậu,

Thiên hạ nhân khấp Tố Như?"

Sau 300 năm nàng Tiểu Thanh chết, đến điếu khóc nàng. Liệu sau khi ta mất hơn300 năm, người đời ai khóc tố Như? Đó lời tự thương đầy lệ. Nhà thơ tự thấy mình đơn vơ, sầu tủi...

"Độc Tiểu Thanh kí" bài thơ mang cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Nguyễn Du đã khóc một Đạm Tiên, một Thuý Kiều.... Ông đã dành cho nàng Tiểu Thanh bao niềm thương xót. Đến Tây Hồ trên đường đi sứ, cái tâm của ông lại hướng về nỗi đau khổ oan trái của một giai nhân bị dập vùi với bao "những điều trông thấy đau đớn lòng". Hai câu kết bài thơ phản ánh "nỗi đoạn trường" của nhà thơ để dân tộc ta "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du”... như Tố Hữu đã nói.

4. Đoạn thơ. Rằng: Hồng nhan tự thủa xưa,

Cái điều bạc mệnh chừa ai đâu. Nỗi niềm tưởng đến đau,

Thấy người nằm đó biết sau thế nào? (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

lời của Thúy Kiều nói về nhân vật Đạm Tiên. Khi thấy chị sụt sùi trước mộ của Đạm Tiên, Thúy Vân đã nói:

Vân rằng: "Chị cũng nực cười"

Khéo nước mắt khóc người đời xa.


Nghe xong câu này, Thúy Kiều đã nói những câu trên để đáp lời Thúy Vân. Tuy nhiên trong Truyện Kiều rất nhiều đoạn đối thoại bắt đầu bằng từ "rằng" như đoạn thơ này. Trong trường hợp ấy, người ta cũng có thể hiểu đó lời của tác giả (Nguyễn Du). Căn cứ vào nội dung của đoạn thơ, thể thấy đề tài Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông hình ảnh những con người tài hoa bạc mệnh.





PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG

Trương Hán Siêu

  1. Khái quát chung

    1. Trương Hán Siêu (? 1354), tự Thăng Phủ, quê thôn Phúc Am, Ninh Thành, nay thuộc thịNinh Bình, tỉnh Ninh Bình. Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông “thầy”. Là người tài đức vẹn toàn nên khi qua đời, ông được thờ Văn Miếu. Tác phẩm của Trương Hán Siêu có: Bạch Đằng giang phú, Dục Thuý sơn Linh Tế tháp (Bài tháp Linh Tế trên núi Dục Thuý), Khai Nghiêm tự bi (Bài trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh,… Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với tắc của một người đề cao Nho học.

  1. Phú sông Bạch Đằng loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp chủ khách để thể hiện nội dung, vận văn tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ. Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biền ngẫu hoặc lối văn xuôi vần, khác với phú Đường luật (có từ đời Đường) vần, đối, luật bằng trắc chặt chẽ.

  2. Bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện niềm hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng nướcgiữ nước.

  1. Đọc hiểu

Phú sông Bạch Đằng lẽ được Trương Hán Siêu sáng tác vào đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi nhà Trần suy thoái, nguy cơ sụp đổ. Khi


dịp du ngoạn trên sông Bạch Đằng, một nhánh sông Kinh Thầy đổ ra biển nằm giữa Quảng Ninh Hải Phòng, nơi lưu dấu chiến tích lịch sử Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán nhà Trần tiêu diệt quân Nguyên Mông, ông đã cảm khái làm thành bài phú này.

    1. Hình tượng nhân vật “khách”

- Nhân vật “khách” sự phân thân của chính tác giả. Sự xuất hiện của nhân vật này có ý nghĩa quan trọng.

- Mở đầu bài phú, hình tượng nhân vật “khách” xuất hiện với thế của con người tâm hồn khoáng đạt, hoài bão lớn lao. “Khách” dạo chơi phong cảnh để thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên, để nghiên cứu cảnh trí đất nước, bồi bổ tri thức. thế của “khách” thế của con người tâm hồn khoáng đạt, hoài bão lớn lao: Nơi người đi đâu chẳng biết. Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết

+ Tráng chí của “khách” - thực ra cũng chính tráng chí của tác giả - được gợi lên từ các địa danh “khách” đã đi qua. những địa danh “khách” đi qua bằng sách vở, bằng trí tưởng tượng: Sớm thuyền chừ Nguyên, Tương, Chiều lần thăm chừ Huyệt

+ Không gian “khách” đi qua thường không gian rộng lớn như biển lớn (lướt bể chơi trăng), sông hồ (Cửu Giang, Ngũ Hồ), những vùng đất nổi tiếng như Tam Ngô, Bách Việt, Vân Mộng... Những chuyến phiêu lưu trong tưởng tượng như thế thể hiện tráng chí bốn phương của “khách”.

+ Điều đáng quí không mải miết chơi xa “khách” quên yêu những thắng cảnh của đất nước mình. đó do “khách” dừng chân những cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng: Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều, Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều.

- Thuyền trôi đến nơi đâu trên dòng sông ấy, trong lòng “khách” cũng sống lên những cảm xúc tự nhiên, chân thành:

+ Có khi tráng chí cất cánh cùng thiên nhiên để vui trước cảnh sông nước hùng vĩ, thơ mộng (Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu), để tự hào trước dòng sông đã từng ghi danh bao chiến tích (Bát ngát sóng kình muôn dặm, Thướt tha đuôi trĩ một màu.).


+ Cũng khi lòng “khách” lắng vào cảnh vật ảm đạm, hắt hiu, để buồn đau, nuối tiếc trước chiến trường một thời oanh liệt nay trơ trọi, hoang vu (Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu, Sông chìm giáo gẫy, đầy xương khô).

=> Sự xuất hiện của “khách” gắn với hình ảnh thiên nhiên thể hiện vừa tâm hồn lãng mạn lòng yêu quê hương đất nước vừa thể hiện cảm xúc chân thành của nhân vật hay cũng chính của Trương Hán Siêu.

    1. Hình tượng các lão (có thể nhân dân địa phương, thể là hư cấu)

    • Nhân vật tập thể các lão địa phương thể thật, những người dân địa phương ven sông Bạch Đằng tác giả gặp trên đường vãn cảnh. Cũng thể nhân vật lão nhân vật tính chất cấu, tâm tình cảm của chính tác giả hiện thành nhân vật trữ tình. Họ chính những người kể lại bình luận chiến tích trên sông Bạch Đằng.

      • Các lão đến với “khách” bằng thái độ nhiệt tình, hiếu khách, tôn kính “khách”.

+ Sau một câu hồi tưởng về việc Ngô chúa phá Hoằng Thao, các lão kể cho “khách” nghe về chiến tích Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. Lời kể theo trình tự diễn biến tình hình. Ngay từ đầu, hai bên ta địch đã tập trung binh lực hùng hậu cho một trận đánh quyết định. Tiếp đến, trận đánh diễn ra gay go, quyết liệt được thua chửa phân, bắc nam chống đối. Đó sự đối đầu không chỉ về lực lượng còn đối đầu về ý chí: ta với lòng yêu nước, với sức mạnh chính nghĩa, địch thế cường với bao mưu ma chước quỉ. Chính vậy, trận chiến diễn ra ác liệt: Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, Bầu trời đất chừ sắp đổi. Những hình tượng vĩ, mang tầm vóc của đất trời, những hình tượng đặt trong thế đối lập: nhật nguyệt / mờ, trời đất / đổi báo hiệu một cuộc thuỷ chiến kinh thiên động địa. Nhưng rồi cuối cùng người chính nghĩa chiến thắng, giặc hung đồ hết lối, chuốc nhục muôn đời: Đến nay nước sông tuy chảy hoài, nhục quân thù khôn rửa nổi!

+ Thái độ, giọng điệu của các lão trong khi kể về chiến công Bạch Đằng đầy nhiệt huyết, tự hào, là cảm hứng của người trong cuộc. Lời kể không dài dòng rất súc tích, đọng, khái quát nhưng gợi lại được diễn biến, không khí của trận đánh hết sức sinh động. Lời kể sử dụng những câu dài ngắn khác nhau, phù hợp với tâm trạng diễn biến trận đánh. Những câu dài, dõng dạc, gợi không khí trang nghiêm: Đây là nơi chiến địa buổi Trùng


Hưng nhị thánh bắt Ô Mã, Cũng bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao. Những câu ngắn gọn, sắc bén, dựng lên khung cảnh chiến trận căng thẳng, gấp gáp: Thuyền muôn đội, tinh phấp phới, Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.

+ Sau lời kể về trận chiến suy ngẫm, bình luận của các lão về chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Lời suy ngẫm chỉ ra nguyên nhân ta thắng, địch thua: Trời cho ta thế hiểm, nhưng điều quyết định là ta nhân tài giữ cuộc điện an: Kìa trận Bạch Đằng đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. Khẳng định vị trí, vai trò của con người, Trương Hán Siêu đã gợi lại hình ảnh Trần Hưng Đạo với câu nói đã lưu cùng sử sách. Sử chép rằng: Ngày 14 tháng 11 năm Đinh Hợi (1287), người tâu về triều việc quân Nguyên đã tràn vào cửa ải sông Hồng mạn Phú Lương, vua Trần Nhân Tông lo lắng hỏi Trần Hưng Đạo rằng: “Giặc đến thì làm thế nào?”. Hưng Đạo ung dung trả lời: “Năm nay, giặc đến dễ đánh” (Kim niên, tặc nhàn). Câu nói của Hưng Đạo Vương câu nói của người nắm chắc thời thế, binh pháp, thấy vai trò quyết định của con người. Theo binh pháp cổ, muốn thắng trong chiến tranh cần ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Bài phú cũng nói tới ba yếu tố: thiên thời (trời cũng chiều lòng người), địa lợi (đất hiểm), nhân hoà (nhân tài). Tuy nhiên, thắng giặc không cốt đất hiểm chủ yếu đức lớn, sức mạnh của con người. Khẳng định sức mạnh, vị trí của con người đó là cảm hứng mang giá trị nhân văn tầm triết sâu sắc.

+ Cuối cùng lời ca của các lão mang ý nghĩa tổng kết, giá trị như một tuyên ngôn về chân lí: Bất nghĩa (như Lưu Cung) thì tiêu vong, nhân nghĩa (như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì lưu danh thiên cổ: Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ anh hùng lưu danh. Tác giả khẳng định sự vĩnh hằng của chân đó giống như sông Bạch Đằng kia đêm ngày luồng to sóng lớn dồn về biển Đông theo qui luật tự nhiên muôn đời.

    1. Lời ca cũng lời bình luận của “khách” - Lời ca của “khách” tiếp nối lời các vị lão ca ngợi sự anh minh của “hai vị thánh quân” (Trần Thánh Tông Trần Nhân Tông) đồng thời ca ngợi chiến tích của quân dân ta trên sông Bạch Đằng.

      • Hai câu cuối lời ca (Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.) vừa biện luận vừa khẳng định chân lí: Trong mối quan hệ giữa địa linh nhân kiệt, nhân kiệt yếu tố quyết định. Ta thắng giặc


không chỉ “đất hiểm” quan trọng hơn bởi nhân tài “đức cao”, “đức lành”. Khẳng định địa linh bởi nhân kiệt, nêu cao vai trò vị trí của con người, lời ca kết thúc bài phú vừa mang niềm tự hào dân tộc vừa thể hiện tưởng nhân văn cao đẹp.








ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ

Nguyễn Trãi

      1. Khái quát chung

        1. Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu Ức Trai, người làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây. Là con của Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại tướng công Trần Nguyên Đán. Đỗ Thái học sinh năm 1400. Năm 1407 giặc Minh xâm chiếm nước ta, cha bị giặc bắt đưa về Trung Quốc, Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng tại thành Đông Quang.

  • Nguyễn Trãi biệt Đông Quan, trốn vào Lam Sơn dâng "Bình Ngô sách" lên Lợi, trở thành vị quân "viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời".

  • Năm 1428, ông thay lời Lợi thảo "Bình Ngô Đại Cáo" sau đó được cử làm Chánh chủ khảo khoa thi tiến đầu tiên của triều viết chiếu cầu hiền. Chẳng bao lâu sau, ông bị bọn nịnh thần chèn ép, gièm pha. Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn. Năm 1440, ông lại được vua vời ra giúp nước.

- Năm 1442 xẩy ra vụ án Lệ Chi Viên, ông bị kết án "tru di tam tộc". Mãi đến năm 1464, vua Thánh Tông mới minh oan cho ông truy tặng ông tước Tán trù bá.

Nguyễn Trãi người anh hùng thủa"Bình Ngô", văn toàn tài.

        1. Thể loại Cáo


thể văn nguồn gốc từ Trung Quốc xa. Cáo được chuyên dùng để vua công bố việc lớn với muôn dân. Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo vốn tên gọi một bài cáo cổ xưa nhất của Trung Quốc để thay lời Lợi công bố với thiên hạ. Cáo thường hay dùng văn biền ngẫu. Văn biền ngẫu hay còn gọi “biền văn”, “biền lệ văn” hoặc “văn tứ lục” (biền ngựa đi sóng đôi; ngẫu đôi, cặp). Văn biền ngẫu năm đặc điểm:

- Ngôn ngữ đối ngẫu: các vế đối nhau theo bằng trắc, từ loại;

    • Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 câu 6/6 đối nhau;

      • vần điệu, bằng trắc hài hoà;

      • Sử dụng điển cố;

      • Sử dụng từ ngữ bóng bẩy tính phô trương.

Trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn loại câu 5 chữ, 7 chữ, 10 chữ, 14 chữ rất đa dạng.

3. Đại cáo bình Ngô


Năm 1407, giặc Minh xâm lăng nước ta. Năm 1417, tại núi rừng Lam Sơn, Thanh Hoá, Lợi pht c khởi nghĩa xưng Bình Định Vương. Trải qua mười năm kháng chiến cùng gian lao anh dũng, nhân dân ta quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Mùa xuân năm 1428 thay lời Lợi, Nguyễn Trãi thảo "Bình Ngô Đại cáo". mt luận văn chính trị, quân sự, đồng thời áng "thiên cổ hùng văn"

"Bình Ngô đại cáo" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt căm thù lên án tội ác ghê tởm của quân "cuồng Minh", ca ngợi những chiến công oanh liệt thuở "Bình Ngô", tuyên bố đất nươc Đại Việt bước vào kỷ nguyên mới độc lập, thái bình bền vững muôn thuở.

  1. Đọc hiểu


  1. Đại Việt một đất nước truyền thống nhân nghĩa cao đẹp.


    1. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa, đem "quân điếu phạt" để tiêu diệt quân cường bạo, độc lập của nước, sự yên vui hạnh phúc của nhân dân: "Việc nhân nghĩa cốt yên dân Quân điếu phạt trước lo tr bạo"

    2. Nguồn gốc của nhân nghĩa Đại Việt nền văn hiến lâu đời. Đâu phải "Nam man" "man di mọi rợ". Như bọn hoàng đế phương Bắc thường láo xược phán truyền. Trái


lại, Đại Việt một quốc gia "vốn xưng nền văn hiễn đã lâu". Nền văn hiến ấp hợp thành bởi các nhân tố:

  • núi sông bờ cõi "đã chia", đã " định phận tại Thiên thư".


  • thuần phong tục.


    • nền độc lp vững bền: "Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập", "hùng cứ mt phương".

    • Lắm nhân tài hào kiệt.


    • truyền thống anh hùng chống ngoại xâm, những trang sử vàng chói lọi từng làm cho "Lưu Cung thất bại", "Triệu Tiết tiêu vong", "bắt sống Toa Đô", "giết tươi Ô mã".

  1. "Bình Ngô đại cáo" bản cáo trạng đanh thép, đầy căm thù tội ác quân "cuồng Minh". Tác giả đứng trên quan điểm nhân nghĩa lên án quân xâm lược.

- Giặc Minh tàn sát man nhân dân ta:


"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ"

    • Tàn phá môi trường môi sinh, bóc lột vét thậm t: "Bại nhân nghĩa nát cả đất tri, Nặng thuế khoá sạch không đầm núi"

    • Bắt dân ta xuống bể ngọc trai, lên rừng bẫy hươu đen... gây ra bao thảm cảnh. Bọn thái thú, bọn tướng Thiên triều như một quỷ khát máu cùng ghê tởm:

"Thằng miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no chưa chán!"


Tội ác của giặc Minh chồng chất như núi, đầy mưu xảo quyệt "dối tri, lừa dân... gây binh, kết oán". Một cách nói thâm xưng đầy căm thù, ám ảnh:

"Dơ bẩn thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Độc ác thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bo thần dân chịu được?"


Từ xưa tới nay, chưa nhà văn nào viết cụ th khái quát tội ác xâm lược đối với nhân dân ta như Nguyễn Trãi.


  1. Ngun sức mạnh nhân nghĩa Đại Vit:


  1. Lãnh tụ nghĩa quân một anh hung xuất chúng: "Quên ăn giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Ngẫm trước đến nay, l hưng phế đắn đo càng kỹ. (...) Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều".


  1. Sức mnh của lòng căm thù giặc tinh thần đại đoàn kết dân tộc để chiến thắng quân xâm lược:

- “Ngẫm thù lớn đội tri chung, Căm giặc nước th không cùng sống"

  • "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới, Tướng một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào".

  1. Quá trình phản công toàn thắng:


  1. Nguồn gốc của chiến thắng sức mạnh nhân nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy trí nhân để thay cường bạo"


  1. Trận đầu thng ln, giáng sấm sét vào đầu xâm lăng: "Trn B Đằng sấm vang chớp git,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay"


  1. Giải phóng miền rộng lớn đất nước:


"Tha thng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm li, Tuyn binh tiến đánh, Đông Đô đất thu về".

  1. Quân ta càng đánh càng thắng to. Giặc Minh bị giáng những đòn chí mạng! Máu gic chảy thành sông thây chết đầy ni.

"Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm Tụy Động thây chết đầy nội, nhơ để ngàn năm".


  1. Vin binh giặc bị tiêu diệt: Liễu Thăng "cụt đầu", tước Lương Minh "đại bại từ vong", thượng thư Khánh cùng kế t vẫn, Đô đốc "Thôi Tụ" gối dâng tờ t ti, thượng thư Hoàng Phúc "trói tay để t xin hàng". Cánh quân Vân Nam bị đánh "vỡ mật", quân Mộc Thạnh "xéo lên nhau để chy thoát thân". Cảnh tượng chiến trường cùng rùng rợn, thảm đạm:

"Lng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giáng, Bình Than máu hôi đỏ

Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc, Thành Đan thây chất đầy núi cỏ nội đầm đìa máu đen"

  1. Giặc Minh b hoàn toàn thất bại thảm hại. Viện binh "hai đạo tan tành"; Quân giặc các thành "cởi giáp ra hàng”.

tướng Thiên triều hàng chục vn giặc bị bắt làm binh, hoặc đầu hàng đã bị tha ti chết, được đối x nhân đạo:

"Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể vẫn hồn bay phách lạc.

Vương Thông, Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa v đến nước vẫn tim đập chân run.”

- Quá trình phản công một quá trình vươn dậy của cả dân tộc với sức mnh vỡ b, bất khả chiến thắng. Ngôn ngữ tráng lệ, giọng văn mang âm điệu anh hùng ca:

    • Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông cũng cạn,

Đánh một trận, sạch không kình ngạc, Đánh hai trận, tan tác chim muông ..."

5. Lời tuyên bố :


  • Ngàn năm, vết nhục nhã sạch làu.


  • Trời đất, tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ... nguyên nhân chiến thắng.


- S nghiệp "Bình Ngô" chiến công "oanh liệt ngàn năm"


  • Đại Việt bước vào một k nguyên mới: độc lập thái bình vững chắc:


    • tắc t đây vững bền, Giang sơn từ đây đổi mi,

... Muôn thưở nền thái bình vững chắc" 6.Về hình tượng người thủ lĩnh

Làm nên sức mạnh chiến thắng, còn phải kể đến vai trò của người thủ lĩnh hết lòng sự nghiệp chung, tài trí, mưu lược: ý thức trách nhiệm cao đối vi vận mnh quốc gia, căm thù giặc sâu sắc, đặt nhiệm vụ cứu nước trở thành hoài bão, điều nung nấu của mình, trọng người hiền tài, thu phục được lòng người tạo thành sức mạnh đoàn kết, tinh thông binh pháp, chiến lược,…

  1. Tìm hiểu tưởng đại nghĩa trong bài cáo


Đối với nhân dân, đại nghĩa nhân dân, đem lại cuc sống yên ổn, hạnh phúc cho nhân dân, cũng tức phải đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi (“Việc nhân nghĩa cốt yên dân Quân điếu phạt trước lo tr bạo”, khi chiến thắng rồi thì “lấy toàn quân hơn, để nhân dân nghỉ sức”); đại nghĩa trở thành phương châm, sức mạnh chiến đấu: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

Đối vi kẻ thù, đại nghĩa thể hin chiến lược đánh bằng mưu lược, đánh vào lòng người: “Chẳng đánh người chu khuất Ta đây mưu phạt tâm công”. Hơn nữa, khi chiến thng, chẳng những không giết còn cấp cho phương tiện để rút về nước: “Thần chẳng giết hại, th lòng trời ta mở đường hiếu sinh Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền…Vương Thông, Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa…”







CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN


(Trích Truyền mạn lục -Nguyễn Dữ)


    1. Khái quát chung


      1. Nguyn Dữ người Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay huyện Thanh Miện, tnh Hải Dương, hiện chưa ông sinh mất năm nào. Ông con trai cả của Nguyễn Tường Phiêu, người đỗ tiến năm 1496. Thi đỗ hương tiến ra làm quan huyn Thanh Tuyền chưa được một năm thì ông từ quan v phụng dưỡng m già. Với


Truyền mạn lc, Nguyễn Dữ được xem như một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại nói chung, văn xuôi tự s chữ Hán Việt Nam nói riêng.

      1. Chuyn chức hán sự đền Tản Viên, cũng như các truyện khác của Truyền mạn lc, thuc thể loi truyền kì. Truyền thể văn xuôi tự s nguồn gốc t Trung Hoa, dùng yếu t ảo làm phương thức ngh thuật để phản ánh cuộc sống. Việt Nam thời trung đại, th loại này rất được ưa chuộng. Truyện truyền Việt Nam thường s dụng truyện dân gian hoặc các mô-típ truyện dân gian để xây dựng thành truyn mi. Truyện truyền Việt Nam mang đậm chất yếu t hiện thực chất nhân văn.

      2. Ngô Tử Văn vốn người khảng khái, cương trực. Tức giận tiếng đền làng linh ứng, nhưng tên giặc t trn gần đền li biến thành yêu quái trong dân gian, Tử Văn đã đốt đền. Đốt đền xong, về nhà, Tử Văn thấy người khó chịu, rồi lên cơn sốt. Trong cơn sốt, Tử Văn thấy một người cao lớn khôi ngô, đầu đội trụ txưng đến đòi làm trả lại ngôi đền như cũ. Tử Văn vẫn thản nhiên. Người kia tc giận doạ s

kin T Văn toà cõi âm. Chiều ti, lại một ông già phong độ nhàn nhã đến t li mng, hỏi ra mi biết đó Thổ công bị viên tướng bại trn giả làm kia tranh chiếm mất đền. Ông già dặn rằng nếu âm phủ tra hỏi thì cứ khai ra những lời ông nói, nếu tên kia chối thì cứ đến xác minh. Đến đêm, Tử Văn bị hai tên quỷ s đến bắt đi. Đến âm phủ, người canh cổng truyn rằng Tử Văn tội sâu ác nặng không được khoan giảm. Tử Văn kêu oan được dẫn vào gặp Diêm Vương. Tử Văn tâu trình đầu đuôi như lời Thổ công đã nói tranh cãi mãi với người đội trụ, không phân phải trái. Diêm Vương sinh nghi, người đội trụ định lng chuyện, sợ bị lộ ra s thực.

Diêm Vương sai người đến đền Tản Viên để ly chứng thực thì thấy đúng như lời Tử Văn nói. Kẻ kia bị đẩy vào địa ngục tng thứ chín. Tử Văn về đến nhà thì mới biết mình đã chết được hai ngày. Ngôi mộ của tên tướng gic b bật tung lên, hài cốt tan tành. Sau đó một tháng, Thổ công tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên. Tử Văn nhận lời, rồi không bệnh mất. Sau đó, người thy Tử Văn trên xe ngựa cưỡi gió. Người ta truyền rằng đó “nhà quan phán sự !”.

      1. Nguyn Dữ quan tâm phản ánh, phê phán, tố cáo hiện thực hội, thể hiện khát vọng chân chính của con người vi tinh thần nhân văn cao đẹp. Bằng một ngh thuật kể chuyn hấp dẫn, vi những yếu t ảo mang nội dung hiện thực sâu sắc, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên thể hiện nổi bật gương người cương trực, can đảm, mạnh m đấu tranh chống lại gian tà, loại trừ cái ác, đòi công lí, công bằng.

    1. Đọc hiểu


      1. Tìm hiểu xuất xứ


Gợi ý: Truyền mạn lục được sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI, gm 20 truyn.

      1. Tìm hiểu b cục đoạn trích


+ Đoạn 1 (từ đầu đến... vung tay không cần cả.): Tử Văn đốt đền.


+ Đoạn 2 (từ Đốt đền xong… đến... thầy cũng khó lòng thoát nạn.): Tử Văn với viên Bách hộ họ Thôi Thổ công.

+ Đoạn 3 (từ Tử Văn vâng lời cho đến... sai lính đưa Tử Văn về): Tử Văn thắng kin.

+ Đoạn 4 (từ Chàng về đến nhà… đến hết): Tử Văn trở thành phán sự đền Tản Viên.

      1. Tìm hiểu h thống nhân vật trong Chuyn chức phán sự đền Tản Viên


Gợi ý: Ngô Tử Văn, Thổ công, hồn ma của viên Bách hộ họ Thôi Diêm Vương; trong đó, nhân vật chính Ngô Tử Văn.

      1. Những s kiện nào xảy ra gắn với nhân vật Tử Văn?


+ Tử Văn đốt đền.


+ Hồn ma Bách hộ họ Thôi giả làm đến đòi Tử Văn dựng trả ngôi đền doạ s kiện đến Diêm Vương.

+ Thổ công nói cho Tử Văn biết sự tht về viên Bách hộ họ Thôi dặn chàng nói sự thực trước Diêm Vương.

+ Tử Văn đấu tranh giành sự công bằng.


+ Tử Văn được làm phán sự đền Tản Viên. Các sự vic xảy ra đều chủ yếu nhằm th hiện tính cách nhân vật Ngô Tử Văn, đối lập với tính cách viên Bách hộ họ Thôi.

      1. Phân tích tính cách nhân vật Ngô Tử Văn


Tử Văn người cương trực, mnh mẽ, không khoan nhượng với gian tà. Trước hết, tính cách ấy được th hiện qua hành động đốt đền. Tuy nhiên, hành động đốt đền, cần thấy rằng Tử Văn kẻ sĩ, không thể không biết đến quan niệm của người xa tôn trọng thánh thần, xem việc đốt phá đền chùa, miếu mạo động chạm đến thánh thn. T Văn đốt đền xuất phát từ s bất bình trước việc đền thờ tiếng linh thiêng không giúp dân diệt được gian tà. Người xưa cũng quan niệm chỉ th những thần công lao giúp dân, giúp nước. Hơn nữa, trước khi đốt đền, Tử Văn tắm gi sạch sẽ


khấn trời. Điều đó cho thấy Tử Văn ý thức rất về hành động của mình mong muốn lòng thành của mình được chứng giám.

Tính cương trực, can đảm của T Văn được thể hin nổi bật nhng sự việc đối với viên Bách hộ họ Thôi, với Diêm Vương,… Trước “một người khôi ngô, cao lớn, đầu đội trụ,… tự xưng sĩ” đến đòi dựng trả ngôi đền, Tử Văn “mặc k, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng t nhiên”. Đến âm phủ, trong không khí rùng rợn, hãi hùng, Tử Văn vẫn một mc muốn chứng t s thật, đòi công bằng, công lí.

Tử Văn còn người lễ độ: khi đã trở thành phán sự đền Tản Viên, gặp người quen vẫn “chắp tay thi lễ.

      1. Nhận xét về tính cách nhân vật Bách hộ họ Thôi


Tính cách xảo trá, gian ác của nhân vật này thể hiện những din biến tâm hành động của y. Thoạt đầu, trước T Văn, hắn t xưng sĩ, dùng nguyên của đạo Nho để buộc tội T Văn, lấy oai linh của qu thần để hăm doạ. Hắn lừa gt cả thánh thần, ngoan c vu tội cho Tử Văn; khi thấy tình thế bất lợi, hắn lập l cho qua,… Trước sau, nhân vật này nhất quán: khi sống kẻ giặc đi cướp nước, khi chết kẻ cướp đền.

      1. Bình luận về vai trò của yếu t ảo nội dung hiện thực của truyện


Tác giả đã xây dựng được mt cốt truyện với những xung đột giàu kịch tính, tính cách nhân vật được chú ý khắc hoạ nhờ nghệ thuật tương phản (giữa Tử Văn hồn ma viên Bách hộ), yếu tố ảo kết hp t nhiên với yếu tố hin thực trong diễn biến linh hot của câu chuyện. Những đặc điểm y tạo cho truyện sức hp dẫn.

  • Truyện dày đặc yếu t ảo: k chuyện thần linh (Thổ công, đức Thánh Tản Viên), ma qu (Diêm Vương, hồn ma tướng giặc,…); đốt đền xong, Tử Văn phát bệnh; qu s đến bắt Tử Văn đi; viên Bách hộ họ Thôi bị đày xuống Cửu u; TVăn về đến nhà mi biết mình đã chết được hai ngày; Tử Văn sống li, rồi không bệnh mất, thành phán sự đền Tản Viên; Tử Văn cưỡi gió biến mất,…

  • Truyn vẫn mang nội dung hiện thực:


+ Lai lịch nhân vật: Tử Văn (tên Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang), viên Bách hộ họ Thôi (bộ tướng của Mộc Thạnh).

+ Câu chuyện xảy ra trong không gian, thời gian cụ th: Cuối đời nhà Hồ, quân Ngô sang xâm chiếm, vùng Yên Dũng, Lạng Giang thành chiến trường (thi gian giặc Minh sang xâm chiếm nước ta: 1407 1427).


+ Tử Văn đi nhậm chức phán sự đền Tản Viên vào một buổi sáng năm Giáp Ngọ (1414).

Tác giả sống viết truyện này vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI. Cho nên, câu chuyện được k thời trước đó thì cũng không nghĩa không liên hệ vi bối cảnh hội đương thời: nhà suy thoái, chính quyền chuyển sang tay nhà Mạc. Mt khác, bản thân các nội dung khẳng định tính chính nghĩa, cái thiện, ca ngợi người cương trực, ngay thẳng, lên án gian tà,… cũng những nội dung giàu ý nghĩa hiện thực.

8.Ý nghĩa giáo dục của truyện cũng đã được thể hin đoạn bình cuối truyn


Lời bình đã nói lên lời răn về nhân cách của k sĩ, con người chân chính không nên uốn mình, phải sống cương trực, ngay thng. S cứng cỏi, lòng can đảm trước những cái xấu, cái ác thái độ ứng xử tích cực cần được coi trọng. Ý nghĩa về s ca ngợi, tôn vinh người cương trực, quyết đoán, dám đương đầu với cái ác, cái xấu cũng đã được thể hiện phần kết câu chuyện, khi Tử Văn chết lại được sng lại tr thành đức Thánh đền Tản Viên.









TÌNH CẢNH L LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ


(Tg: Đặng Trần Côn; Dg: Đoàn Thị Điểm)


  1. Khái quát chung


    1. Tác giả Đặng Trần Côn - hiện không năm sinh, năm mất, chỉ biết sống vào khong thế kỉ XVIII.Quê tại làng Nhân Mục thường gọi làng Mọc, huyn Thanh Trì, nay quận Thanh Xuân, Nội. Đặng Trần Côn còn nhiều tác phẩm, ni tiếng hơn cả Chinh phụ ngâm. Ngoài Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn còn mấy bài thơ vịnh tám cảnh đẹp Tiêu Tương (Tiêu Tương bát cảnh), một số bài phú như Trương Hàn thuần (Trương Hàn nhớ rau thuần, vược), Trương Lương bố y (Trương Lương áo vải), Khấu môn thanh (Tiếng cửa).

Bn diễn Nôm (giới thiệu trong sách giáo khoa) tương truyền của Đoàn Thị Điểm. Dch giả Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), hiệu Hồng Hà, người làng Giai Phạm x Kinh Bắc nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cha Đoàn


Doãn Nghi, anh Đoàn Doãn Luân, đều đậu hương cống, không ra làm quan, chỉ nhà dạy học. Đoàn Thị Điểm một phụ nữ nhan sắc, tài hoa. Sáng tác tập thơ ch Hán Truyền tân phả bản dch Chinh phụ ngâm bằng chữ Nôm. Đã từng làm nghề dy học trở thành nhà giáo phụ n đầu tiên thành đạt, học trò của rất đông, sau này người đỗ đến đại khoa.

    1. Ngâm khúc thể loại thơ trữ tình trường thiên thuần tuý Việt Nam viết bằng th thơ song thất lục bát với phương thức trữ tình dài hơi, sử dụng nhiều tiểu đối. Th loại này phù hợp với việc bày tỏ tâm trạng, cảm xúc hồi tưởng, nhớ nhung, suy tư, sầu muộn, ai oán, xót thương của nhân vật tr tình.

Th thơ song thất lục bát thể thơ mỗi khổ gồm hai câu 7 chữ, một câu 6 chữ, một câu 8 chữ. Bốn câu dài ngắn khác nhau kết lại thành một khổ luân phiên kéo dài bao nhiêu khổ cũng được trong một bài thơ. Hai câu thất ngắt nhp cố định 3 / 4 (khác với câu thất ngôn Đường luật ngắt nhịp 4 / 3); câu 6 câu 8 ngắt nhịp t do. thể gieo vần bằng hoặc trắc, cuối câu hoặc lưng chừng câu.

Chinh phụ ngâm tác phẩm m đầu, cũng tác phẩm đặc sắc nhất của th loi ngâm khúc, một thể loại tr tình rất phát triển thế kỉ XVIII.

    1. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ tp trung khắc hoạ tình cảnh lẻ loi nỗi nhớ thương da diết của người chinh ph đối với chinh phu trong những ngày dài biền bit xa cách; qua đó bộc l tinh thần nhân đạo sâu sắc của tác giả.

II. Đọc hiểu


1. Tám câu đầu: Nỗi đơn, lẻ bóng của người chinh phụ Hai câu thơ đầu: Dạo hiên vắng thm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Không bất tri sầu như khuê phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh, ràng, chinh phụ trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm đang mang trong mình tâm sự. - Các hành động dạo, thầm gieo, ngồi, buông - cuốn rèm:

+ Lặp đi lặp lại không mục đích, nghĩa.


+ Biểu l tâm trĩu nặng nỗi bồn chồn, khắc khoải không biết chia sẻ cùng ai trong lòng chinh phụ.


=> Bên ngoài, tưởng như chinh phụ người an nhàn, thảnh thơi nhưng thực cht nàng đang phải sống trong một tình cảnh hết sc ti nghiệp, đáng thương: chồng nàng đi biền bit, tuổi xuân của nàng đang dần phai tàn theo năm tháng.


  • Phép điệp liên hoàn kết hp với câu hỏi tu từ: Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

... ... Hoa đèn kia với bóng người khá thương.


+ Thể hin nỗi khc khoải đợi chờ, trông ngóng chồng trở về t chiến trận. Hình ảnh chinh phụ trông chim thước mang tin vui về giống hình ảnh nàng Kiều mong ngóng Từ Hải: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Lời thơ như lời độc thoi nội tâm da diết, dằn vt, rất thương, rt ngậm ngùi của nhân vật bởi Ngoài rèm thước chẳng mách tin, nàng hi vọng rồi lại vọng.

+ Biết vọng nhưng nàng vẫn cố hoài nghi, kiếm tìm chút đồng cảm: Trong rèm, dường đã đèn biết chăng? Trước chinh phụ, đã biết bao người con gái “hỏi đèn”: Đèn thương nhớ ai đèn không tắt. nhưng lẽ chẳng ai phải đối din vi nỗi vọng như chinh phụ.

    • Ngọn đèn xuất hiện trước hết báo hiệu sự thay đổi về thời gian, nỗi nhớ mong chuyn t ngày sang đêm.

    • đốm sáng nhỏ nhoi giữa đêm tối mênh mông để khắc sâu hơn nỗi đơn, l bóng của chinh phụ. Chỉ một mình nàng đơn, đau khổ, một mình nàng thấm thía, xót thương cho tình cảnh của mình, Một mình mình biết, một mình mình hay.

Các hình ảnh hoa đèn, bóng người câu thơ sau thể hin sự lụi tàn, héo úa, mòn mỏi theo canh dài. Như Nương (Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ), chinh phụ cũng chỉ biết chuyện trò với ngọn đèn, với cái bóng của chính mình đến tàn canh.

=>Lời thơ chan chứa niềm xót thương, đồng cảm đối với người phụ nữ. đâu người ph nữ trong hội phong kiến phải đơn, mòn mỏi? đâu những người chinh ph phải một mình chôn vùi tuổi xuân chốn khuê phòng? Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm không trực tiếp trả lời nhưng những hình ảnh thơ các tác giả đã sáng tạo chính bản cáo trạng đanh thép đối vi chiến tranh phi nghĩa

. 2. Tám câu tiếp: Nỗi sầu mun triền miên


  • Được th hiện qua cảm nhận về thời gian tâm lí: eo óc gáy sương năm trống,

... ... Mi sầu dằng dặc tựa min bin xa.


+ Đêm, tiếng nhức nhối suốt năm canh, cho thấy người vợ tr xa chồng đã thao thc sut cả đêm. (Hồ Xuân Hương: Tiếng văng vẳng gáy trên bom, /Oán hận trông ra khắp mọi chòm.).


+ Ngày, bóng hoè đãng hết dời sang bên này lại chuyển đến bên nọ, chinh phụ như đếm từng bước thi gian nặng nề trôi cảm nhận một khc giờ đằng đẵng như niên.

+ Biện pháp so sánh: như niên, tựa min biển xa để cụ th hóa mối sầu dằng dặc.


+ Các từ láy đôi đằng đẵng, dằng dặc kết hp với phép so sánh như niên, tựa min biển xa đã cụ thể hoá nỗi sầu muộn trong lòng nàng. -> Nỗi sầu của người chinh ph trở nên bất tận, nỗi lòng chinh phụ mênh mang, dằng dặc.

  • Để gii toả nỗi sầu, nàng cố tìm đến những thú vui như: soi gương, đốt hương, gảy đàn nhưng tất cả đều gượng - miễn cưỡng: Hương gượng đốt hn đà mải,

... ... Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng. nhưng đốt hương, soi gương hay đánh đàn cũng chỉ hành động gượng, su chẳng những không được gii to còn nặng nề hơn.

+ Đốt hương để tìm sự thanh thản, song tâm hồn nàng lại như thêm man, bấn loi.

+ Soi gương để trang điểm song gương mặt lại chan chứa nước mắt, bi vắng chàng điểm phấn trang hồng vi ai.

+ Nàng chỉ gượng gảy đàn sắt đàn cầm không thấy phù hợp, đặc biệt sợ dây đàn chùng hay đứt người xưa xem đó điềm gở, báo hiu s không may trong tình vợ chồng. -> Chinh phụ càng cố gắng tìm cách vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác đơn, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi. Nàng đành ngẩn ngơ trở về với lòng mình.

=> Tuy vẫn không vượt ra ngoài các biện pháp nghệ thuật các hình ảnh ẩn dụ tượng trưng mang tính ước l của thi pháp trữ tình trung đại nhưng những câu thơ này người đọc vẫn cảm nhận được sự chân thật trong tâm trạng của nhân vật tr tình.

  1. Tám câu cuối: Nỗi nhớ thương đau đáu


- Khi nỗi đơn, buồn khổ trong lòng không thể chia s cùng ai được, nàng đã phi gửi vào gió nỗi nhớ chồng khôn xiết: Lòng này gửi gió đông tiện?... ... Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

+ Khi trước, nỗi sầu của nàng được so sánh với độ dài của không gian xa rộng: Mi su dằng dặc tựa min biển xa. Đến đoạn thơ này, nỗi nhớ được th hin qua một khao khát cháy bỏng - gửi lòng mình đến non Yên - mong được chồng thu hiu, s chia.


+ Nỗi nh thương đau đáu của chinh phụ được so với không gian tận, không điểm dừng, mông lung, vời vi Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng tri. Mức độ của ni nhớ được gợi lên qua những t láy toàn phần thăm thẳm (điệp 2 ln), đau đáu. Thăm thẳm vừa nói nỗi nhớ người yêu, vừa con đường đến chỗ người yêu, cũng con đường lên trời. Câu thơ phong phú, đúc một khối tình phổ vào một hình thức đơn giản, trọn vẹn. Chưa khi nào trong văn học Việt Nam, nỗi nh chồng được th hiện một cách da diết, sâu thẳm, mênh mang, cao vợi như thế. lẽ đây nỗi nhớ dài nhất trong văn học xưa nay. Nhưng cũng đáng thương thay, khao khát của nàng không được đền đáp sự xa cách về không gian quá lớn (đường lên bằng trời).

-> Nỗi lòng người chinh phụ đã vuột ra khỏi phạm vi tâm trạng của một con người, cất lên tiếng nói thay cho bao người ph n cùng chung số phận như nàng.

Những dòng thơ Chinh phụ ngâm đâu chỉ được viết bằng sự đồng cảm, còn được viết bằng nỗi xót thương đến tột cùng của người ngh sĩ.

=> Đoạn trích đã ghi lại một cách chân thực, xúc động nỗi đơn buồn khổ của người chinh phụ trong tình cảnh chia lìa, từ đó đề cao hạnh phúc lứa đôi đồng thời lên tiếng t cáo chiến tranh phi nghĩa.











TRAO DUYÊN


(Trích “Truyện Kiều” Nguyễn Du)


    1. Khái quát chung


      1. Tác giả, tác phẩm


  • Nguyn Du (1765-1820) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiện, quê Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc thời Lê, truyền thống văn học. Cha Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến làm tể tướng. Anh Nguyễn Khản, đỗ tiến sĩ, làm đại quan trong phủ chúa.


Triều - Trnh sụp đổ, Nguyễn Du trôi giạt về quê vợ Thái Bình suốt "mười năm gió bụi" rồi về sống Tĩnh quê nhà, sống ẩn git, tự xưng "Nam Hải điếu đổ", "Hồng Sơn liệp h".

Tây Sơn đổ, Gia Long thiết lập triều đại mới. Năm 1802, Gia Long triệu ông ra àm quan cho nhà Nguyễn. Năm 1813, Nguyễn Du được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, lúc giữ chức Tham tri bộ Lễ, Cần chánh điện đại học sĩ.

  • Nguyn Du dựa vào cốt truyện "Kim Vân Kiều truyn" của Thanh Tâm Tài Nhân, đời Thanh Trung Quốc để sáng tạo ra truyện Kiều, dài 3254 câu thơ lục bát, kiệt tác số mt, "tập đại thành" của nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

  • Giá trị nội dung


+Giá trị t cáo hiện thức: lên án hội phong kiến thối nát, những thế lực hắc ám tàn bạo, man đã chà đạp lên quyền sống hạnh phúc con người như bọn quan lại tham ô thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma lưu manh tàn ác; lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh...

+ Giá trị nhân đạo: xót thương cho nỗi đau khổ của con người, tài sắc b dập vùi, nói lên ước về hnh phúc, tự do công bằng, đề cao quyn sống của con người, v.v...

+ Giá trị nghệ thuật


Ngh thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, to ra những mẫu người vi những tính cách tiêu biểu cho cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác... trong hội phong kiến suy tàn, thối nát.

Ngh thut tự sự, hấp dẫn, cảm động, to ra những tình huống, những bi kịch. Lúc miêu tả, lúc tả cảnh ng tình, lúc đối thoại, câu truyện về nàng Kiều diễn biến qua trên ba nghìn câu thơ liền mch.

Ngôn ngữ thi ca: Nguyễn Du đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học, s dụng điển tích, thi liệu văn học cổ Trung Hoa với ca dao, tục ngữ, thành ngữ... nâng lên thành một ngôn ngữ văn chương trong sáng, trau chuốt, mượt mà, mẫu mc. Cho đến nay chưa nhà thơ Việt Nam nào viết thơ lục bát trên ba nghìn câu hay bằng Nguyn Du. "Truyện Kiều" xứng đáng "tiếng thương như tiếng m du những ngày" (Tố Hữu).

2. Đoạn trích


Đoạn thơ dài 34 câu, từ câu 732 đến câu 756 trong Truyện Kiều, khởi đầu bi kch cho quãng đời 15 năm trời lưu lạc của Thuý Kiều.


Với tài nghệ miêu tả diễn biến tâm nhân vật của Nguyễn Du, đoạn trích Trao duyên ca ngợi tình yêu sâu sắc của Thuý Kiều đối vi Kim Trọng qua việc th hiện nỗi đau đớn tột cùng nàng phải chịu đựng khi phải trao duyên; qua đó thể hiện lòng cảm thông, thương yêu sâu sắc của Nguyễn Du đối với con người “bạc mệnh”.

    1. Đọc hiểu


Đây một trong những đoạn v trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông Vương Quan bị bắt giam do kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ Giám Sinh để ly tiền đút lót quan lại cứu cha em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình thế cũng đành, nhưng cảm thấy lỗi với Kim Trọng.Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nh em thay mình trả nghĩa cho KimTrng.

Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều.


      1. Thuý Kiều nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng


  • Xưa nay người ta chỉ trao nhau vật cht ch ai trao duyên bao giờ. Thế nhưng Thuý Kiều lại phải làm cái điều chưa ai từng làm y.

  • Lời ướm hỏi: Trong quan niệm của người xưa, “tình” thường gắn lin vi “nghĩa”. Giữa Thuý Kiều Kim Trọng đã lời th trăm năm tạc một ch đồng đến xương nhưng sự đâu sóng gió bất kì, chữ “hiếu” nàng không thể gi li th với chàng Kim nên đành nhờ Thuý Vân trả nghĩa hộ mình. Ngôn từ:

+ Nguyễn Du đã rất tinh tế khi để Kiều dùng từ cậy không dùng từ nhờ cậy ý tin chắc người khác nhất định sẽ nghe mình.

+ Chu lời nhận lời vẻ như nhau nhưng chịu lời nhận lời làm việc không do mình tự nguyện hoc mt việc khó chối từ.

+ Hai chữ mc em chốt lại màn dạo đầu nhưng lại mang hàm ý giao phó trách nhim.

+ Lạy, thưa: hành động của Thúy Kiều trái hẳn vi vị thế làm chị nhưng chứng t vic Kiều đang nhờ Vân việc trọng đại.

Thúy Kiều không chắc Thuý Vân đã nhận lời nên mỗi từ Thuý Kiều nói ra đều được cân nhắc càng. Không thấu hiểu, đồng cảm với nhân vật của


mình, không phải bậc thầy của ngôn từ, Nguyễn Du không thể viết những câu thơ với những t ngữ đắt như thế.

+ Kiều thuật lại một cách vắn tắt nhưng khá đầy đủ về cảnh ngộ của mình: Kể t khi gặp... vẹn hai. lẽ nàng đưa ra rất đầy đủ, toàn diện hợp lí, thuyết phục: Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ thay lời nước non.

-> Thúy Vân không thể t chối được. Các điển tích keo loan, duyên cùng các thành ngữ tình máu mủ, lời nước non, thịt nát, xương mòn, ngậm cười chín suối... th hin s chân thành, tha thiết đau đớn của Thúy Kiều khi quyết định cho em.

+ Trao kỉ vật: trao cho Thuý Vân những kỉ vt của tình yêu, trong Kiều nỗi đau đã cuộn lên thành những mâu thuẫn: Chiếc vành với bức t mây, Duyên này thì giữ, vật này của chung.

    • Tờ hoa ghi li thề nguyền của Kim Kiều, chiếc vành mây trước đây chàng Kim trao cho Kiều làm của tin giờ nàng đều trao cả cho Thuý Vân.

    • Đành phải (trao nhim vụ tr nghĩa chàng Kim) cho em để em thay mình đền nghĩa người yêu nên Kiều mi nói duyên này thì giữ. Duyên phải trao đi nàng không thể cùng chàng Kim trọn li thề ước. Nhưng trao đi không nghĩa trao hẳn chỉ để cho em giữ. Còn tình yêu Kiều dành cho Kim làm saotrao được? vẫn mãi trong lòng nàng. những kỉ vt kia chính dấu tích của mối tình đầu, chính vật lưu giấu tình yêu Kim Kiều. Phi trực tiếp trao vào tay Thuý Vân, lẽ nào Kiều không tiếc nuối? Hai ch của chung đủ để din t tất cả: nỗi tiếc xót, không đành lòng trao li cho em, nỗi đau sự cố gắng níu kéo (chị vẫn phần trong đó).

Tình yêu sâu đậm Thuý Kiều dành cho Kim Trọng. Với Kiu, hạnh phúc của người mình yêu là điều hơn hết. + Kiều đau đớn, xót xa tự nhận mình người mnh bạc. Hai chữ mnh bạc cho thấy ý thức sâu sắc về cuộc đời, số phận bạc bẽo của Kiều. Với nàng, đó một định mnh bất di bất dịch.

Thúy Kiều đã rất đau đớn khi phải cho em, dứt tình với chàng Kim. Nguyễn Du đã rất am hiểu tinh tế khi diễn tả tâm trạng nhân vật.

      1. Tâm trạng ca Kiều sau khi trao duyên


  • Kiều đang dần quên sự mặt của Thúy Vân. Trong khi nói với em, Kiều cảm tưởng như sống lại với các kỉ niệm của tình yêu với Kim Trọng.

+ Nàng như sống trong hồi ức qua những kỉ vật nhất tưởng nh li sự kin đêm thề nguyền thiêng liêng: Mai sau bao giờ, Đốt hương ấy so phím


này. ràng trong tâm hồn Kiều, những kỉ niệm đẹp đẽ của tình yêu sức sng thật mãnh liệt.

+ Nguyn Du thật tinh tế khi gi lại các hình ảnh quá khứ: Cảnh chàng Kim cho thêm hương vào hương (đài sen nối sáp đào thêm hương) cảnh Kiều đàn cho Kim Trọng nghe (So dần dây dây văn) trong đêm thề nguyền. Mỗi kỉ niệm đã qua đều khắc sâu trong lòng nàng. Điều đó chứng t tình yêu nàng dành cho chàng Kim cực sâu sắc.

  • Càng yêu sâu sắc, Kiều càng cảm thấy cuộc đời trng trải, nghĩa khi không còn tình yêu. Đó do khiến nàng liên tưởng đến cái chết - cái chết đầy oan nghit. (Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên (NĐC) cũng nói: Hiu hiu gió thổi ngọn cây Ấy hồn trẻ về rày thăm cha.) Nhiều t ngữ phản ánh ý nghĩ này trong nàng: mai sau Trông ra ngọn cỏ cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. (Kiều nhớ li cảnh Đạm Tiên đã từng hin về qua làn gió ào ào đổ lộc rung cây khi Kiều thắp hương làm thơ bên mộ Đạm Tiên), hồn, dạ đài, người thác oan.

  • Tình yêu không vật chất, không thể trao đi rồi thì không còn nữa. Kiu cho em để rồi phải nhn lại nỗi đau đớn khôn xiết.

+ Nỗi đau đó vốn không thể được bộc l trong lời Thuý Kiều nói với em. Hơn thế, nếu chỉ đơn thuần nói với Thuý Vân thì cảm xúc nhân vật sẽ không đạt ti cao trào, bi kịch của thân phận tình yêu sẽ không đạt tới đỉnh điểm, nhân cách cao đẹp của Kiều cũng không điều kiện l hiện. Vậy nên Nguyễn Du đã xây dựng những lời độc thoại nội tâm của Kiều: Bây giờ trâm gãy gương tan, K làm sao xiết muôn vàn ái ân!

    • Kiều đã quên hết xung quanh. Nàng chỉ còn khóc cho mình, khóc cho mối tình đầu ngắn ngủi. Đó tiếng khóc cho một s phận, tiếng kêu đứt ruột cho mt mối tình: Trăm ngàn gửi lạy tình quân, ... ... Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

    • Các thành ngữ liên tiếp trâm gẫy gương tan, bạc như vôi, nước chảy hoa trôi cực t nỗi đau mất mát, sự tan vỡ không thể hàn gắn trong Kiều.

    • Trong đoạn thơ ngắn, ba lần Nguyễn Du để Kiều gọi Kim Trọng bằng các từ khác nhau: tình quân, Kim lang, chàng. Đáng chú ý nhất từ Kim lang. được láy lại, gn vi những thán từ gọi ôi, hỡi đầy thê thiết. Trong tâm tưởng, Thuý Kiều đã coi Kim Trọng chồng cho nên tiếng gọi đó vừa th hin s tiếc nuối tình lứa đôi lỡ dở, vừa hàm chứa nỗi đau đớn khôn xiết của nàng. Nàng gọi chàng Kim để nhận lỗi về mình, để oán trách chính mình, oán trách mình kẻ phụ bạc


tấm lòng vị tha, rất mực yêu Kim Trọng . Hơn khi nào hết, đây giây phút đáng thương nhất cuộc đời Thuý Kiều. Bi lẽ, mới đó thôi, người con gái ấy còn đang trong cảnh êm đềm trướng rủ màn che, vậy giờ đây...

Lời thơ cất lên cũng chính tiếng nói thương thân xót phận của một người con gái tha thiết với tình yêu. Mọi cung bậc cảm xúc diễn ra trong Kiều đều hết sức -gíc. Nguyễn Du đã miêu tả dòng diễn biến nội tâm của nàng một cách chân thực. Mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh đều được lựa chọn lưỡng nhằm khắc hoạ tâm trạng nhân vật.

        1. Bình luận nhan đề Trao duyên


          • Ch duyên theo giáo của nhà Phật nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiu rộng hơn sự định sẵn t kiếp trước cho tình cảm của hai người (thường tình cảm vợ chồng).

          • Duyên một khái niệm tính chất hình, do đó trao duyên một điều khó khăn, nhất với những người đời sống nội tâm sâu sắc như Thuý Kiều. Trao duyên một sự hi sinh rất lớn. Trước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nay, trao duyên cho Vân hi sinh tình yêu của mình hạnh phúc của người mình yêu. Do vậy, hành động của Kiều làm cho hình tượng nhân vật tr nên cao cả hơn, đẹp đẽ đáng khâm phục hơn.

        1. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều th hiện qua hai câu thơ:


Chiếc vành với bức t mây


Duyên này thì giữ, vật này của chung.


Trong màn kịch trao duyên, Thuý Kiều đã trao kỉ vật của tình yêu cho Thuý Vân, đó tờ hoa tiên ghi lời th nguyn của Kiều Kim Trọng, chiếc vành trước đây Kim Trọng trao cho Kiều làm của tin, bây giờ đều được trao lại cho Vân. Nhưng mâu thuẫn ny sinh chi tiết, vật thì trao cho em “giữ” nhưng duyên thì muốn để lại làm “của chung”. Cũng thể xem mâu thun giữa cảm xúc trí. Về trí, Kiều mun Kim Trọng được hạnh phúc nên nghĩa Thuý Vân cho chàng. Nhưng về tình, tình yêu của Kiu với chàng Kim sâu sắc quá nên không muốn trao gửi. Đây hoàn toàn

tâm của tình yêu sâu nặng đích thực. Tình yêu sâu nặng vẫn phải trao duyên chứng t shi sinh ca Kiều rất ln lao.


        1. Tác giả đã khắc hoạ tâm trạng Kiều như thế nào sau khi “trao duyên”?

Nếu như phần trên của đoạn trích còn sự đấu tranh giữa tình, sự hi sinh người mình yêu, thì đến đoạn cuối, sau khi trao duyên, Kiều đã nghĩ đến mình. Giọng điệu của đoạn thơ trở thành giọng điệu thương thân của chính

nhân vật.


Kiu quan niệm trao duyên tức đã mất Kim Trọng, như thế thì đời mình coi như cũng hết. Nghĩ đến tương lai, Kiều thấy cái chết hin diện khi đó oan hồn của bản thân sẽ theo gió tìm về chốn cũ:

Trông ra ngọn cỏ cây


Thấy hiu hiu gió thì hay chị về


Kiều đã tưởng tượng oan hồn của mình sẽ cất li cầu xin chân thành tội nghip:

Rảy xin chén nước cho người thác oan


Nàng cùng đau khổ khi nghĩ đó tương lai sắp tới mình không tránh được. Do đó, Kiều đã khóc, khóc một cách tuyệt vọng cho tình yêu ngắn ngủi của mình:

Bây giờ trâm gãy bình tan


Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân


Tiếng khóc cho mối tình tan vỡ, tiếng khóc cho thân phận khổ đau cất lên từ nhân vật chính của tác phẩm đã đánh động tâm can bao người đương thời hậu thế. Như thế, đây tiếp tc xuất hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tình yêu mãnh liệt sự chia biệt vĩnh viễn, tức giữa tình.


CHÍ KHÍ ANH HÙNG


(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)


  1. Khái quát chung


    1. Đoạn trích từ câu 2213 đến câu 2230 của Truyn Kiều: Từ Hải t biệt Thuý Kiều ra đi lập s nghip lớn

    2. Vi nghệ thut sử dụng ngôn ngữ đặc sắc, đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải khẳng định lại mt lần nữa tình cảm của Thuý Kiều Từ Hải tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần tình nghĩa vợ chồng.

    3. Tìm hiểu xuất xứ: Kiều bị lừa vào lầu xanh lần th hai, tâm trạng nàng cùng đau khổ tuyệt vọng. May sao Từ Hải đột ngột xut hiện, đã coi Kiều như một tri kỉ cứu nàng ra khỏi lầu xanh. Hai người đều thuc hạng người bị hội đương thời coi thường (một gái giang hồ một giặc) đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một tình cảm gắn của đôi tri kỉ. Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo nhạy cảm của Kiều. Kiều nhận ra Từ đường anh hùng hiếm trong thiên hạ, người duy nhất thể giải oan cho nàng. Nhưng yêu quý, trân trng Từ Hải, Kiều cũng không thể gi chân bậc anh hùng cái thế. Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự nghiệp anh hùng.

  1. Đọc hiểu


1. Khát vọng lên đường


  • Từ Hải đa tình, nhưng trước hết Từ Hải một tráng sĩ, một con người chí khí mạnh mẽ. Chí mục đích cao hướng tới, khí nghị lực để đạt ti mục đích.

  • con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng, như đã trở thành một sức mạnh của thiên nhiên, không thể kiềm chế ni: Nửa năm hương lửa đương nồng, ... ... Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.

+ Đang sống trong cảnh nồng nàn hương lửa, chợt động lòng bốn phương, thế toàn bộ tâm trí hướng về tri b mênh mang lập tức vào thế một mình với thanh gươm yên ngựa sẵn sàng lên đường đi thng.


+ Từ trượng phu vốn nghĩa người đàn ông hoặc người chồng. Trong văn bản, t này chỉ Từ Hi, với nghĩa người đàn ông chí lớn. Từ này chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong Truyện Kiều Nguyễn Du trân trọng dành riêng cho Từ Hải như một cách để tôn xưng nhân vật tưởng.

+ Thot: thể hin s thay đổi đột ngt, dứt khoát, mau lẹ, kiên quyết, không luyến tiếc. - Lòng bốn phương khái niệm nội hàm diễn t con người trụ. Bốn phương đây chỉ nam, bắc, đông, tây, nghĩa thiên hạ, thế giới. Nhưng theo Kinh Lễ, xưa sinh

con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng, bắn tên ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghip lớn. Như vậy, lòng bốn phương không chỉ nội hàm diễn t con người trụ còn hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho chí nguyện lập công danh, sự nghip.

+ Không gian trời bể mênh mang, bốn bể, chim bằng, gió mây vừa ước l, li vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của T Hi. Sự đan kết hai nội hàm ý nghĩa trước hết khc ho hình tượng nhân vật lớn lao, vĩ, phi thường. Chính sự kết hợp đó khiến hình tượng người anh hùng trong sáng tác của Nguyễn Du trở thành tưởng. tưởng nên không thể s dụng bút pháp tả thực để miêu tả được. Cũng tưởng nên hình tượng nhân vật người anh hùng Từ Hải mãi mãi chỉ ước của nhà thơ.

Nguyễn Du ước được một người anh hùng như thế, để thực thi khát vọng công cho những thân phận bất hạnh như Thúy Kiều.

Từ Hải không phải con người của những đam thông thường con người của khát vọng anh hùng, của s nghiệp anh hùng.

3. tưởng anh hùng của Từ Hải - Với khát vọng lên đường mãnh liệt, T Hải đã quyết chí ra đi để thực hiện tưởng anh hùng của mình. Trong buổi chia tay Thuý Kiều, Từ Hải không hề quyến luyến, bn rịn như cảnh Thúc Sinh từ bit Thuý Kiều (Người lên ngựa, k chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.)

+ Khi Kiều suy nghĩ: “Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.” thì Từ đã ý trách Kiều người tri kỉ không hiểu mình, khuyên Kiều vượt lên trên tình cảm thông thường để sánh với anh hùng: Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Từ Hải con người của s nghiệp phi thường, không thể chìm đắm trong trốn phòng khuê! Đang trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào, Từ Hải thoắt đã động lòng bốn phương, tiếng gọi của s


nghip thức tỉnh chàng từ bên trong. Giờ đây sự nghiệp đối với chàng trên hết. Đối vi Từ Hải, chẳng những ý nghĩa của s sống còn điều kiện để thc hin những ước ao người tri kỉ đã gửi gắm, trông cậy chàng. Do vậy không chút bịn rịn, không những lời than vãn lúc chia biệt. Lời trách người tri kỉ chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình còn bao hàm cái ý khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để làm vợ của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nh thương của Kiều: Cánh hồng bay bổng tuyt vi - Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm không chỉ sự mong chờ người yêu xa cách còn mong chờ cả s nghip của Từ Hi.

+ Không chỉ khuyên nhủ Kiu, trong lời nói của mình, Từ Hải còn hứa hn vi Kiu về một tương lai thành công:

Bao giờ mười vạn tinh binh,


Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. (...) Đành lòng chờ đó ít lâu,

Chầy chăng một năm sau vội gì!”


Đoạn trích sử dụng rất nhiều t Hán Việt: tâm phúc tương tri, nữ nhi, tinh binh, bóng tinh, phi thường, nghi gia mang lại cho văn bản không khí trang trọng cùng những sắc thái ý nghĩa riêng biệt:

  • Những t ngữ đẹp (tâm phúc tương tri, nữ nhi, nghi gia) trong lời nói của bc anh hùng trượng nghĩa thể hin rất sâu sắc lòng trân trọng, yêu mến dành cho người đẹp. ràng, trong mắt Từ, Kiều không phải một món hàng, càng không phải một gái lầu xanh hồng nhan tri k, xứng đáng với đấng chọc trời khuấy nước

- Từ.


  • S xuất hin của các từ chỉ việc quân binh, sức gợi lên không khí thắng li hoành tráng như tinh binh, bóng tinh, phi thường đã mở ra một tương lai tươi sáng, th hin niềm tin chiến thắng của người anh hùng Từ Hải. Trước đây, ngay trong cảnh trần ai, Từ Hải ngang nhiên xem mình người anh hùng, tất cả s nghip sau này như đã nắm chắc trong tay. Giờ đây xuất phát chỉ với thanh gươm yên ngựa, T đã khẳng định quyết tâm, tự tin vào thành công, muộn thì cũng không quá một năm, sẽ nhất định trở về vi cả một đồ to lớn. Những hình ảnh tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường hình tưởng tượng của Từ về tương lai,

Từ dứt áo ra đi. Nhưng cũng từ những hình ảnh này, người đọc được chứng


kiến mt nim tin sắt đá vào thành công, vào tưởng cao cả của người anh hùng. - Hành động dứt áo ra đi được đặt trong bối cnh lớn lao, (gió mây bằng, dặm khơi - những hình ảnh ước l mang tầm vóc trụ) th hiện thế lên đường dứt khoát của người anh hùng.

  1. Từ các đoạn trích Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng, hãy phát biu nhận xét khái quát những đặc điểm trong ngh thuật miêu tả tâm nhân vật của Nguyễn Du.

Ngh thuật miêu tả tâm một trong những phương diện nghệ thuật đặc sc bậc nht của Truyện Kiều. Chính những thành công về nghệ thuật miêu tả tâm đã chứng t s sáng tạo độc đáo, tấm lòng thấu hiểu con người của Nguyễn Du. th nhận định:

    • Tâm nhân vật được th hiện sinh động, trực tiếp trong tình huống cụ th.


    • Din biến tâm nhân vật được miêu tả chân thực, theo đúng quy luật quá trình diễn biến trong thời gian của đời sống bên trong con người.

    • Trạng thái tâm mang tính thể rất rõ; đó tâm của những con người cụ th, với đặc điểm riêng về tính cách, hoàn cảnh,…

    • Các hình thức đối thoại, độc thoại lời trần thut nửa trực tiếp được s dng rất hiệu qu để miêu tả tâm nhân vật.

  1. Phân tích hình tượng nhân vật Từ Hải thể hin trong bốn câu đầu của đoạn trích

Từ Hải xut hiện trong tác phẩm, trước hết một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất. Khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, việc nghĩa, trọng Kiều như một tri kỉ. Nhưng khi kết duyên cùng Kiều, Từ thực s một người đa tình. Song dẫu đa tình, Từ không quên mình một tráng sĩ, một người chí khí mạnh mẽ. Trong hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải qu một bậc anh hùng chí lớn nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính thế, trong khi đang sống vi Kiều những ngày tháng thực s êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt "động lòng bốn phương", thế toàn bộ tâm trí hướng về "tri bể mênh mang", với "thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”.

Không gian trong hai câu 3, 4 (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện chí khí anh hùng của T Hi.

  1. Ch ra tính chất riêng biệt ca cuộc tiễn biệt gia Từ Hải Thuý Kiều so với hai cuộc chia tay trước đó với Kim Trọng với Thúc Sinh


Tác giả dựng lên hình ảnh Từ Hải "thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong" ri mới để cho T Hải Thuý Kiều nói lời tiễn bit. Liệu phi lôgíc không? Không, hai chữ "thẳng rong" người giải thích "vội lời", chứ lên đường đi thng rồi mới nói thì lí. Vậy thể hình dung, Từ Hải trên yên ngựa rồi nói những li chia biệt với Thuý Kiều. Và, thể khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều t bit Kim Trọng Thúc Sinh. Kiều tiễn bit Kim Trọng tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp li rất mong manh cả hai đều biết Hoạn Thư chẳng phải tay vừa, do đó gặp lại được như hiện tại rất khó khăn. Chia tay Từ Hải chia tay người anh hùng để chàng tho chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia biệt khác hẳn nhau.

6.Tính cách nhân vật T Hải được bc l qua lời nói với Kiều như thế nào?


Từ Hải người chí khí phi thường: Khi chia tay, thấy Kiều nói:

Nàng rằng: "Phận gái chữ tòng Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi" Từ Hải đã đáp lại rằng:

Từ rằng: “Tâm phúc tương tri


Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”


Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn niềm tin Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin tưởng Kiều s vượt qua sự bn rịn của mt nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng. Chàng muốn lập công, được s nghip vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong vinh dự, vẻ vang:

Bao giờ mười vạn tinh binh,


Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường. Làm cho mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia


Quả lời chia biệt của một người anh hùng chí lớn, không bịn rn một cách yếu đuối như khi Kiều chia tay Thúc Sinh. Sự nghiệp anh hùng đối với T Hải ý nghĩa


của s sống. Thêm nữa, chàng nghĩ làm được như vậy mi xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, vi sự trông cậy của người đẹp.

Từ Hải người rất tự tin trong cuộc sống:


Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động lời nói của T Hải trong lúc chia biệt đều thể hin T người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở v vi cả một đồ ln.

Trang 43