Ngữ Văn Online

Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.

Phong phú

Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.

Chất lượng

Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.

Uy tín

Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.

Bộ Đề Ôn Tập Cuối Học Kỳ 1 Ngữ Văn 12 Kết Nối Tri Thức 2024-2025

Bộ Đề Ôn Tập Cuối Học Kỳ 1 Ngữ Văn 12 Kết Nối Tri Thức 2024-2025

Lượt xem 83
Lượt tải 48


ĐỀ MINH HOẠ KIỂM TRA CUỐI KÌ 1

ĐỀ 1

NĂM HỌC 2024-2025

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 12

(Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc đoạn trích:

1. Bản thân bạn - con người độc đáo nhất trên thế gian này. Bạn biết chăng, thế gian này có điều kì diệu, đó là không ai có thể là bản sao 100% của ai cả. Bởi thế, bạn là độc nhất, tôi cũng là độc nhất. Chúng ta đều là những con người độc nhất vô nhị, dù ta đẹp hay xấu, tài năng hay vô dụng, cao hay thấp, mập hay ốm, có năng khiếu ca nhạc hay chỉ biết gào như vịt đực…

2. Vấn đề không phải là vịt hay thiên nga. Vịt có giá trị của vịt, cũng như thiên nga có giá trị của thiên nga. Vấn đề không phải là hơn hay kém, mà là sự riêng biệt. Và bạn phải biết trân trọng chính bản thân mình. Người khác có thể đóng góp cho xã hội bằng tài kinh doanh hay năng khiếu nghệ thuật, thì bạn cũng có thể đóng góp cho xã hội bằng lòng nhiệt thành và sự lương thiện.

3. Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể hát không hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.

(Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Hội nhà văn 2016, tr.50-51)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản

Câu 2. Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn 2,3

Câu 3. Vì sao tác giả cho rằng mỗi người “phải biết trân trọng chính bản thân mình”?

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 5. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm “biết rõ mình, nhận ra những giá trị của bản thân mình là điều khó khăn”.

II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm)

Câu 1: Nghị luận xã hội (2.0 điểm)

Là một người trẻ tuổi anh chị có suy nghĩ về vai trò của phụ nữ và bình đẳng giới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hãy trình bày suy nghĩ của anh chị bằng một đoạn văn (khoảng 200 chữ)


Câu 2: Nghị luận văn học (4.0 điểm)

Anh chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh hai đoạn truyện sau để làm nổi bật số phận và vẻ đẹp người phụ nữ trong đoạn trích.

Đoạn thứ nhất:

Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết.Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ bước vào buồng.Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…”

(Trích “Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 7-8)

Đoạn thứ hai:

“…Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hang chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rôi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó ! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sang lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ.

- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không ?– Đột nhiên tôi hỏi?

- Có chứ, chú ! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…”

(Trích “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập hai , NXB giáo dục Việt Nam, trang 75-76).

Chú thích:

*Tác giả Tô Hoài: (1920-2014): là một nhà văn sớm tham gia cách mạng và hoạt động văn nghệ phục vụ cách mạng.

* Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”:

- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là tác phẩm đặc sắc trong tập Truyện Tây Bắc (1953). Đó là kết quả của chuyến giải phóng Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài

* Tác giả Nguyễn Minh Châu (1930-1989): Ông được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới,“người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975.

* Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa

- Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm sáng tác 8/1983, in lần đầu trong tập “Bến quê”





















ĐỀ MINH HOẠ KIỂM TRA CUỐI KÌ 1

ĐỀ 2

NĂM HỌC 2024-2025

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 12

(Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề)

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Con đi giữa mùa lúa chín

Rong tìm tuổi thơ, tiếng chim

Vàng hươm bóng chiều lấp kín

Nghe cu gù phía đồi sim.


Sông đục mà nước xanh trong

Hàng tre ngược bóng xuôi dòng

Tắm mình trên thời quá khứ

Bời bời đồng gió mênh mông.


Một đời Mẹ dưới bờ tre

Con lên tháng ngày phố thị

Một đời Mẹ như lặng lẽ

Con vui trọn tuổi xuân thì.


Tháng ba nắng, gió nồm non

Rong chơi dài những lối mòn

Mạch sống chảy ngầm sông bể

Nhựa trào xanh một đời con.

(Tháng ba nhớ mẹ, Phùng Tiết, Văn nghệ quân đội, số 648, tháng 6/2006, tr. 67- 68)


Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của bài thơ.

Câu 2. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Câu 3. Phân tích tác dụng của hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong trường hợp sau:

Bời bời đồng gió mênh mông.

Câu 4. Nêu ý nghĩa của 01 yếu tố tượng trưng trong những dòng thơ:

Mạch sống chảy ngầm sông bể

Nhựa trào xanh một đời con.

Câu 5. Kỉ niệm tuổi thơ của nhân vật trữ tình trong văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về kỉ niệm tuổi thơ của thế hệ trẻ ngày nay? (Trình bày ngắn gọn từ 5 – 7 dòng)

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích hình ảnh người mẹ trong khổ thơ:

Một đời Mẹ dưới bờ tre

Con lên tháng ngày phố thị

Một đời Mẹ như lặng lẽ

Con vui trọn tuổi xuân thì.

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về chủ đề: cống hiến và hưởng thụ của tuổi trẻ.

----------HẾT----------





SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẮC NINH

TRƯỜNG THPT THUẬN THÀNH SỐ 1

ĐỀ MINH HỌA CUỐI KÌ I

NĂM HỌC 2024 – 2025

Môn: Ngữ văn – Lớp 12

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian giao đề)



I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

TRIẾT LÝ QUÂN BÌNH

Một số học giả khuyến khích chúng ta nên hưởng thụ giây phút hiện tại và trân trọng những gì mình đang có, và họ cho rằng liên tục phấn đấu để có được nhiều hơn nữa là điều không lành mạnh, là nguồn cơn gây ra sự bất mãn. Một số học giả khác lại nói rằng con người được tạo dựng để thúc đẩy mình vượt lên trên vùng đất nhàn nhã nhằm vươn tới một mức độ cao hơn nữa mỗi ngày – để trở thành vĩ đại. Tôi rất trăn trở về vấn đề này, bởi vì tôi cần dứt khoát về một triết lý để sống suốt đời. Tôi nghĩ mình đã tìm ra câu trả lời, và một giải pháp đúng đắn đối với tôi: đó là sự quân bình. Tôi gọi đó là sự quân bình Mandela.

Nelson Mandela, người mà tôi ngưỡng mộ, từng nói: “Sau khi leo lên một ngọn núi cao, người ta mới thấy rằng còn nhiều ngọn núi khác cần chinh phục. Tôi dừng lại ở đây để tạm nghỉ, để trộm ngắm cảnh đẹp huy hoàng chung quanh, để nhìn lại quãng đường mình vừa đi qua. Nhưng tôi chỉ có thể nghỉ ngơi giây lát, bởi vì sự tự do sẽ dẫn đến trách nhiệm. Tôi không dám nấn ná, con đường dài trước mặt vẫn chưa kết thúc.”

Theo tôi, Nelson Mandela muốn nhấn mạnh đến sự quân bình. Hãy thưởng thức cảnh tượng nơi bạn đang tới. Hãy nhấm nháp niềm vui về quãng đường mình đã vượt qua. Trân trọng nơi bạn dừng chân trên hành trình cuộc đời mình. Hãy sống với giây phút hiện tại. Nhưng đồng thời cũng nhớ rằng quà tặng luôn đến chung với trách nhiệm. Tôi tin rằng con người ai cũng có nhiệm vụ “phải tỏa sáng”. Ta không được nghỉ ngơi trên chiến thắng của quá khứ và trở nên tự mãn. Ta phải đi ra thế giới – mỗi ngày – và thể hiện năng lực tốt nhất của mình để giúp đỡ người khác, nhận ra tiềm năng của mình nhiều hơn và trở thành công dân tốt trên trái đất này. Ta phải liên tục đối mặt với nỗi sợ hãi và sống phong phú hơn. Ta phải đóng vai trò lớn hơn trong cuộc sống và tận dụng tài năng của mình để làm việc, để thấy nhiều hơn. Sự vĩ đại của ta kết dính trong từng tế bào. Chối bỏ điều này là chối bỏ bản chất người.

Đúng, khi ước mơ nhiều hơn và đưa tiêu chuẩn của bản thân lên cao hơn, ta sẽ gây ra một ít bất mãn. Nhưng thế giới này được dựng nên bởi những ai không cảm thấy hài lòng với những gì hiện hữu và hiểu rằng mình còn làm được hơn thế. Thomas Edison nói: “Hãy cho tôi thấy một người hoàn toàn thỏa mãn và tôi sẽ cho bạn thấy sự thất bại”. Những người vĩ đại không thỏa mãn với những điều hiện hữu. Thử nghĩ đến các danh nhân như Gandhi, Mẹ Teresa, Bill Gates, Einstein, Mandela mà xem.

Vậy hãy yêu những gì mình có, và vẫn phấn đấu cho những gì mình muốn. Cứ vui thú trên nẻo đường lên cao, nhưng luôn hướng mắt về đỉnh núi.

(Trích “Điều vĩ đại đời thường” – Robin Sharma, Phạm Anh Tuấn dịch,

NXB Trẻ, Tp. HCM, 2023)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong văn bản? (0,5 điểm)

Câu 2. Dựa vào văn bản, hãy cho biết triết lý sống mà tác giả đã tìm ra là gì? (0,5 điểm)

Câu 3. Luận đề của văn bản trên là gì? Luận đề đó được triển khai thành mấy luận điểm? Đó là những luận điểm nào? (1,0 điểm)

Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Cứ vui thú trên nẻo đường lên cao, nhưng luôn hướng mắt về đỉnh núi. (1,0 điểm)

Câu 5. Anh/chị có đồng tình với triết lí sống mà tác giả nêu ra trong văn bản không? Lí giải vì sao? (1,0 điểm)

II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của thái độ sống dấn thân.

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh sự giống và khác nhau về tâm trạng của người con đối với mẹ của mình được thể hiện trong hai đoạn trích sau:

Con đã đi rất xa rồi

Ngoảnh nhìn lại vẫn gặp ánh đèn thành phố



Sau cánh rừng, sau cù lao, biển cả

Một ánh đèn sáng đến nơi con

Và lòng con yêu mến, xót thương hơn

Khi con nghĩ đến cuộc đời của mẹ

Khi con nhớ đến căn nhà nhỏ bé

Mẹ một mình đang dõi theo con



Giữa bao nhiêu mưa nắng đời thường

Đã có lúc lòng con hờ hững

Thấy hạnh phúc của riêng mình quá lớn

Ngỡ chỉ mình đau đớn xót xa thôi



Giữa bao nhiêu năm tháng ngược xuôi

Đã có lúc lòng con đơn bạc

Quên cả những điều tưởng không sao quên được

Như người no quên cơn đói của mình



Sao đêm nay se thắt cả lòng con

Khi con gặp ánh đèn thành phố

Nơi mẹ sống, mẹ vui buồn, sướng khổ

Chỉ một mình tóc cứ bạc thêm ra

(Trích Kính gửi mẹ, Ý Nhi1, in trong Văn chương một thời để nhớ,

NXB Văn học, Hà Nội, 2006)

Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ

Sống tự do như một cánh chim bằng

Ta làm thơ cho đời và biết bao người con gái

Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?

Những bài thơ chất ngập tâm hồn

Đau khổ - chia lìa - buồn vui - hạnh phúc

Có những bàn chân đã giẫm xuống trái tim ta độc ác

Mà vẫn cứ đêm về thao thức làm thơ

Ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ

Giọt nước mắt già nua không ứa nổi

Ta mê mải trên bàn chân rong ruổi

Mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng

Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân

Mấy kẻ đi qua

Mấy người dừng lại?

Sao mẹ già ở cách xa đến vậy

Trái tim âu lo đã giục giã đi tìm

Ta vẫn vô tình

Ta vẫn thản nhiên?

(Trích “Mẹ” – Đỗ Trung Quân2, in trong Cỏ hoa cần gặp, NXB Thuận Hoá, Huế, 1991)





1 Ý Nhi sinh năm 1944 tại thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng và được các nhà nghiên cứu thơ phương Tây đánh giá là một trong những nhà thơ Việt Nam đương đại tiên phong sau Đổi mới. Thơ của bà giàu hình ảnh, ngôn từ cô đọng, gợi nhiều tầng ý nghĩa. Bà từng đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985 với tập thơ "Người đàn bà ngồi đan", giải thưởng Văn chương Cikada của Thụy Điển năm 2015.

2 Đỗ Trung Quân (sinh năm 1955 tại Thành phố Hồ Chí Minh) là một trong những thi sĩ tài hoa của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Đỗ Trung Quân giản dị mà tinh tế, sâu sắc, giàu cảm xúc, chứa đựng nhiều suy tư về tình đời, tình người. Ngoài làm thơ, ông còn viết báo, vẽ tranh, vẽ minh họa bìa sách. Ông đã xuất bản 2 tập thơ: “Cỏ hoa cần gặp” (1991) và “Chân mây cuối trời” (in chung cùng Hoàng Ngọc Biên, 2003).


Trang 9