Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.
Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.
Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.
Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.
Bộ 2 đề thi giữa kì 1 văn 12 Cánh diều
ĐỀ SỐ 1 – NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
|
TT |
Năng lực |
Mạch nội dung |
Mức độ nhận thức |
Tổng % |
|||
|
Nhận biết |
Thông hiểu |
Vận dụng |
Vận dụng cao |
||||
|
1 |
Năng lực Đọc |
Truyện ngắn |
1 |
2 |
2 |
0 |
50 |
|
2 |
Năng lực Viết |
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện |
1* |
1* |
1* |
1* |
50 |
|
Tổng |
15 |
35 |
40 |
10 |
100 |
||
|
Tỉ lệ % |
50% |
50% |
|
||||
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
|
TT |
Kĩ năng |
Nội dung/ đơn vị kiến thức |
Mức độ đánh giá |
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức |
|||
|
Nhận biết |
Thông hiểu |
Vận dụng |
Vận dụng cao |
||||
|
1 |
Đọc hiểu |
Truyện ngắn |
Nhận biết: - Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản. - Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện (đề tài, nhân vật, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật,…). - Nhận biết đươc các giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học cụ thể. Thông hiểu: - Tóm tắt được cốt truyện. - Hiểu và phân tích được nhân vật trong truyện ngắn; lí giải được vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm. - Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề. - Lí giải được tác dụng của việc chọn nhân vật người kể chuyện; lời người kể chuyện, lời nhân vật, ... trong truyện ngắn. - Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của đề tài, các chi tiết tiêu biểu, đặc trưng của truyện ngắn. - Rút ra được bài học về cách nghĩ, cách ứng xử do văn bản gợi ra. - Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm đối với nhận thức, tình cảm, quan niệm của bản thân. Vận dụng: - Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản để lí giải ý nghĩa, thông điệp của văn bản. - Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của thông điệp, chi tiết, hình tượng,… trong tác phẩm theo quan niệm của cá nhân. |
|
|
|
|
|
2 |
Viết |
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện |
Nhận biết: - Xác định được yêu cầu về nội dung và hình thức của bài văn nghị luận. - Mô tả được vấn đề trong tác phẩm văn học và những dấu hiệu, biểu hiện của vấn đề trong bài viết. - Xác định rõ được mục đích, đối tượng nghị luận. Thông hiểu: - Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm phù hợp. - Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. - Đảm bảo cấu trúc của một văn bản nghị luận; đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Vận dụng: - Đánh giá được ý nghĩa, ảnh hưởng của vấn đề đối với con người, xã hội. - Nêu được những bài học, những đề nghị, khuyến nghị rút ra từ vấn đề bàn luận. Vận dụng cao: - Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm,… để tăng sức thuyết phục cho bài viết. - Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong bài viết. |
|
|
|
|
|
Tổng |
|
1TL |
2TL |
2TL |
1TL |
||
|
Tỉ lệ (%) |
|
50% |
50% |
||||
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Phần 1: Đọc hiểu (5,0 điểm)
Đọc đoạn ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
(Lược đoạn đầu: Đậm là người phụ nữ hai mươi chín tuổi. Vì trót bồng bột mà có con rồi phải bỏ nhà ra đi. Đến khi ba mất, má Đậm mới rước con về. Những ngày giáp Tết, cô bán dưa hấu ở chợ thị xã. Bên trái là vạt bông của ông Chín từ miệt Sa Đéc xuống. Chỉ mình Đậm bán dưa một mình, may có Quí, một anh chàng chạy xe lam gần nhà, ít hơn Đậm bốn tuổi, tới giúp. Thấy thế, già Chín cũng cười chéo mắt vui lây…)
(1) Thời gian bị người ta chở kĩu kịt đi. Khiếp, mới đó đã hai mươi chín Tết. Bánh mứt, dưa hành, quần mới, áo mới như nước tràn lên phố. Đây là thời điểm rộn rịp nhất, phơi phới nhất trong năm. Tết này không có ba mươi, hai chín rồi tới mùng một, như người ta bước hụt, thấy thiếu đi một ngày. Những khóm vàng hoa của ông Chín nở sớm từ hai bốn, hai lăm đã ngả màu vàng sậm. Bốn giờ sáng, ông đi qua bên kia đường gánh nước về tưới, than, "Thời tiết năm nay kỳ cục quá". Ông vấn điếu thuốc, phà khói, bảo: "Con biết không, nghề bán bông Tết cũng như bán lồng đèn Trung thu, qua rằm tháng Tám, có cho người ta cũng không thèm lấy. Buôn bán kiểu vậy như con gái có thì, qua rồi, khó lắm...”. Ông nói tới đây, thấy Đậm ngẩng đầu ngó sao muộn, ông thôi không nói nữa. Đậm nhớ con gái quá. Nghe Quí đem đồ về lại đem tin ra bảo, “Bộ đồ bé Lý mặc vừa lắm, nó đòi ra với Đậm, buôn bán như vầy cực quá, chở nó ra tội nghiệp...”. Rồi Quí bảo mớ bông mồng gà Đậm gieo sao mà khéo quá, bông đỏ bông vàng trổ ngay Tết.
(2) Đó là lúc chờ sáng, còn rỗi rãi xẻ dưa mời nhau, chứ ngày hai chín là một ngày tất bật, nói theo dân đá banh là thắng với thua. Người mua xúm xa xúm xít. Mới một buổi đã lử lả. Đậm một mình phải coi trước coi sau. Tưởng dưa hấu đắp đập ngăn sông mà đã vợi đi quá nửa. Nhưng chắc phải đợi cho tới giao thừa. Người ta chờ tới đó sẽ rẻ nữa. Chạy xong mấy chuyến xe buổi sáng, Quí lại giúp. Từ bến xe lam lại đằng chợ chừng một trăm mét. Quí kêu, "Có ai mua nhiều, Đậm hứa đi, tôi chở tới nhà cho". Đậm thấy vui, phần thì bớt lo dưa ế, phần thấy nao nao trong lòng. Cái không khí đẹp thế này, ấm thế này, không vui sao được. Quí hỏi, "Nhà Đậm có gói bánh tét không?". Đậm hỏi lại, "Có, mà chi?". "Tôi cho, má tôi gói nhiều lắm". Quí mặc áo đứt mất tiêu cái nút trên, lồ lộ ra mảng ngực ram ráp nắng. Trong Đậm nhiều khi dậy lên một cái gì rưng rức khó tả, chỉ mong nép đầu vào đó để quên nhọc nhằn, để quên nỗi cô độc lùi lũi trong đời.
(3) Lúc ngẩng lên được đã năm mới mất rồi. Nghe được tiếng trống giao thừa vọng về từ trung tâm thị xã. Ở đó có một lễ hội thật tưng bừng. Ông Chín đốt sáu nén nhang, chia cho Đậm nửa, biểu, "Con cúng giao thừa đi. Cầu an khang, sức khỏe, cầu năm tới giàu hơn năm nay". Mùi nhang thơm xà quần trong gió sực lên mũi Đậm một nỗi nhớ nhà. Dù đây về đấy chưa tới một tiếng đi xe. Ở chợ, người muốn về trước giao thừa thì đã bán thốc tháo để về, những người còn lại cũng cố dọn dẹp làm sao mùng một có mặt ở nhà, pha bình trà cúng tổ tiên. Ông Chín đứng chỉ huy cho con trai ông bưng mươi chậu hoa còn lại lên xe hàng, quyến luyến, "Hồi nãy con tặng bác dưa ăn, giờ bác tặng lại con với cậu nhỏ hai chậu cúc đại đóa này. Năm tới, bác có xuống không biết được ngồi gần con như vầy không. Cha, đây về Sa Đéc chắc phải nhâm nhi dài dài cho đỡ buồn quá".
- Dạ, bác về mạnh giỏi, ăn Tết cho thiệt vui.
Đậm vén tóc, cười, thấy thương ông quá. Ông Chín leo lên xe còn ngoắt Quí lại nói thì thào, "Ê cậu nhỏ, tôi nói cậu nghe, ông bà mình có câu “Ra đường thấy cánh hoa rơi - Hai tay nâng lấy, cũ người mới ta”. Mạnh dạn lên, cậu thương con gái người ta mà cà lơ phất phơ thấy rầu quá. Cháu Đậm, thấy vậy mà như trái dưa, xanh vỏ đỏ lòng". Nói rồi xe vọt đi, mấy người nữa lên xe vỗ vào thùng xe thùm thùm như gửi lại lời chào tạm biệt. Khói xe xoắn ra từng ngọn tròn tròn như con cúi.
(Lược đoạn cuối: Đậm quét dọn chỗ của mình rồi cùng Quí ra về. Quí cho xe chạy thật chậm, với ánh nhìn rất lạ về phía Đậm. Anh không biết vì một nỗi gì mà tới bây giờ anh chưa nói lời thương với người ta. Anh không ngại đứa con, anh không ngại chuyện lỡ lầm xưa cũ, tuổi tác cũng không thèm nghĩ đến. Còn Đậm thì luống cuống. Quí im lặng, dừng xe hẳn. Lúc này anh thấy cần nắm lấy bàn tay lạnh tái của Đậm, rất cần. Khi ấy giao thừa đã đi qua…).
(Nguyễn Ngọc Tư, Giao thừa, NXB Trẻ, TPHCM, 2022, tr.91-99)
Câu 1 (1,0 điểm): Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 2 (1,0 điểm): Chỉ ra biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu văn: “Bánh mứt, dưa hành, quần mới, áo mới như nước tràn lên phố. Đây là thời điểm rộn rịp nhất, phơi phới nhất trong năm.”
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của chi tiết: Ông Chín leo lên xe còn ngoắt Quí lại nói thì thào, “Ê cậu nhỏ, tôi nói cậu nghe, ông bà mình có câu “Ra đường thấy cánh hoa rơi - Hai tay nâng lấy, cũ người mới ta”. Mạnh dạn lên, cậu thương con gái người ta mà cà lơ phất phơ thấy rầu quá. Cháu Đậm, thấy vậy mà như trái dưa, xanh vỏ đỏ lòng”.
Câu 4 (1,0 điểm): Nếu có thể can thiệp vào câu chuyện, bạn muốn nói gì với nhân vật anh Quí?
Câu 5 (1,0 điểm): Từ nhân vật Đậm, bạn hãy nêu quan điểm về thái độ đối với phút sai lầm của tuổi trẻ.
Phần 2: Viết (5.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích và so sánh giá trị nhân đạo thể hiện qua 2 tác phẩm: Lão Hạc và Làng.
HƯỚNG DẪN GIẢI
Phần 1: Đọc hiểu (5,0 điểm)
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
1 |
Ngôi kể của văn bản: ngôi kể thứ 3. |
1,0 điểm |
|
2 |
- Gọi tên biện pháp tu từ nổi bật. - Nêu biểu hiện cụ thể của biện pháp tu từ đó trong hai câu văn. (Hai câu văn có sử dụng các biện pháp tu từ: điệp, liệt kê, so sánh… Tuy nhiên, cần nhận thấy liệt kê là biện pháp tu từ nổi bật nhất bởi đã nhấn mạnh sự phong phú, đa dạng của hàng hóa và không khí tươi vui, tấp nập, háo hức khi Tết đến rất gần). |
1,0 điểm |
|
3 |
Tác dụng của chi tiết: - Chi tiết cho thấy phẩm chất của nhân vật ông Chín: là người trải đời, mộc mạc, rất quan tâm đến những người xung quanh. - Chi tiết có thể xem như một chiếc chìa khóa giúp tháo cởi những ngập ngừng, e ngại của Quí, giúp anh vững lòng hơn để đến với Đậm. - Chi tiết đã lột tả chất Nam Bộ ở người nông dân trong nhân vật ông Chín, mang đến màu sắc trữ tình cho lời kể. |
1,0 điểm |
|
4 |
- Nêu bật điều bản thân muốn nói với nhân vật anh Quí. - Lí giải được lí do về những điều muốn nói đó. |
1,0 điểm |
|
5 |
Từ nhân vật Đậm, học sinh nêu quan điểm về thái độ đối với phút sai lầm của tuổi trẻ. Câu trả lời cần đảm bảo: - Lí giải tại sao tuổi trẻ thường mắc sai lầm. - Nêu quan điểm của bản thân về thái độ đối với phút sai lầm của tuổi trẻ. |
1,0 điểm |
Phần 2: Viết (5.0 điểm)
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. |
0,5 điểm |
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Phân tích và so sánh giá trị nhân đạo thể hiện qua 2 tác phẩm: Lão Hạc và Làng. |
0,5 điểm |
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý cần hướng tới: 1. Giới thiệu ngắn gọn chung về Nam Cao và Kim Lân cùng văn bản 2. Phân tích a. Giá trị nhân đạo trong tác phẩm Lão Hạc – Nam Cao - Giá trị nhân đạo của tác phẩm trước hết được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm của nhà văn đối với những số phận bất hạnh của các nhân vật trong tác phẩm. Những con người trong tác phẩm này đều là nạn nhân của xã hội phong kiến nửa thực dân. Họ phải gồng mình chống lại nạn đói, những hủ tục phong kiến,… + Nhân vật chính, lão Hạc, là một người có hoàn cảnh vô cùng bi đát. Vợ mất sớm, đứa con trai duy nhất bỏ đi cao su. Một mình lão phải đối mặt với tuổi già, bệnh tật, cái đói và sự cô đơn. + Con trai lão Hạc cũng là một người đáng thương. Vì nhà nghèo, anh không lấy được người con gái mình yêu. Phẫn chí, anh bỏ làng đi cao su, cái đất cao su “đi dễ khó về”, “khi đi trai tráng khi về bủng beo”. Anh rời cha già luôn mấy năm, thiên truyện khép lại nhưng hình bóng anh người đọc cũng chưa được mục kích, câu hỏi về số phận của anh đành rơi vào câm lặng… + Ông giáo, một nhân vật có uy tín ở làng, trong thời buổi ấy cũng túng thiếu dặt dẹo, đang sống cái đời “sống mòn”, “rỉ ra, mốc lên”. Có thể nói, “Lão Hạc” đã thể hiện lòng thương, sự đồng cảm với tất thảy những lớp người bần cùng trong xã hội Việt Nam khi ấy. - Nhà văn đã biết khám phá để nâng niu trân trọng và ngợi ca phẩm chất ngời sáng trong tâm hồn những người đồng bào lao khổ của mình: + Tình phụ tử ở nhân vật lão Hạc đặc biệt cảm động. Dù rất đau lòng nhưng lão chấp nhận nỗi cô đơn hờn tủi, đồng ý để con trai ra đi theo chí hướng của mình. Con đi rồi, lão chỉ còn con chó Vàng làm bạn. Lão Hạc yêu con chó Vàng đến độ gọi nó là “cậu” Vàng, ăn gì cũng cho nó ăn cùng, cho nó ăn ra bát như người… + Không chỉ vậy, lão thậm chí còn chấp nhận cái chết để giữ đất cho con. + Cả ông giáo, dẫu gia đình vẫn bữa đói bữa no nhưng luôn cố gắng giúp đỡ, cưu mang người hàng xóm bất hạnh… + Sống trong cái đói, cái nghèo nhưng không bị sự bần hàn làm cho quay quắt, hèn mọn, điều đáng quý nhất ở người nông dân Việt Nam trước Cách mạng là lòng tự trọng sáng ngời trong nhân phẩm. Lão Hạc thà nhịn đói chứ không chịu ăn không dù chỉ là củ khoai củ sắn của hàng xóm. Lão đã có thể bán vườn lấy tiền chống chọi với cái đói nhưng lão không làm vậy vì nhất quyết không ăn vào của con. Lão cũng có thể chọn con đường như Binh Tư đi đánh bả chó lấy cái ăn. Và lão không hề làm vậy. Con người ấy, đến lúc chết vẫn còn lo mình làm phiền hàng xóm nên dành dụm gửi gắm ông giáo tiền làm ma. Cảm động hơn cả là nỗi lòng quặn thắt của lão sau cái chết của con Vàng. Lão dằn vặt bởi nghĩ mình “đã đi lừa một con chó”. Lão Hạc ơi! Ẩn bên trong cái hình hài gầy gò, già nua của lão là một tâm hồn cao thượng và đáng trân trọng biết bao nhiêu! => Đồng cảm với số phận của người lao động, đặc biệt là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời ngợi ca những phẩm chất cao quý của họ là những biểu hiện quan trọng của giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao. Viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, giọng văn Nam Cao lạnh lùng, bàng quan nhưng ẩn sâu trong đó là một tình thương sâu sắc và mãnh liệt. b. Giá trị nhân đạo trong tác phẩm Làng – Kim Lân - Quan tâm đến sự đổi đời của người dân từ đó khám phá ra cội nguồn sức mạnh của người dân. Tin tưởng người nông dân – ông Hai: Ông tha thiết yêu làng Chợ Dầu và rất tự hào về làng mình. + Khoe làng: Trước cách mạng: Ông khoe con đường làng đi chẳng lấm chân, khoe cái sinh phần của một vị quan lớn trong làng. Sau cách mạng: Ông khoe về một làng Chợ Dầu cách mạng, làng Chợ Dầu chiến đấu. + Nhớ làng: Ở nơi tản cư: Luôn nhớ về làng và muốn về lại làng Chợ Dầu. Thói quen sang bác Thứ để kể chuyện làng -> kể để nguôi đi nỗi nhớ làng. Tự hào vì làng Chợ Dầu tham gia chiến đấu ủng hộ cách mạng (chòi gác, đường hầm bí mật…) + Đau đớn khi nghe làng theo giặc và quyết tâm: làng thì yêu thật nhưng làng theo giặc rồi thì phải thù. + Vui mừng, hớn hở như đứa trẻ khi nghe tin cải chính. => Cội nguồn của sự thay đổi tâm trạng của ông vẫn là tình yêu làng, yêu nước. Tin cải chính đã trả lại cho ông niềm tự hào về làng Chợ Dầu và niềm tự tin vào bản thân mình. Hai tình cảm lớn lại hòa nhập làm một trong tâm hồn người nông dân chất phác và trọng danh dự này. c. Nhận xét - Điểm chung: Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, những ước mơ trong sáng giản dị của con người. - Điểm khác biệt: + Văn học 1930 -1945 coi con người là nạn nhân của hoàn cành, nhà văn khao khát đổi thay số phận con người nhưng bất lực (VD: Lão Hạc tìm đến cái chết). + Văn học 1945 - 1975: đề cao vai trò của con người, tin vào con người có khả năng cải tạo hiện thực và thay đổi số phận của mình bằng con đường đấu tranh cách mạng (ông Hai tin tưởng và tìm thấy ánh sáng cuộc đời ở Đảng, ở cách mạng). - Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt: + Các nhà văn giai đoạn 1930-1945 (chủ yếu là các nhà văn hiện thực phê phán) mang ý thức hệ tư sản, tiểu tư sân, hầu hết chưa tham gia cách mạng nên mới chỉ nhìn thấy tác động một chiều của hoàn cảnh đối với con người, nhìn con người và hiện thực khách quan có phần bi quan, bế tắc. + Do hạn chế khách quan từ hoàn cảnh lịch sử. + Các nhà văn giai đoạn 1945-1975, họ đều là những người chiến sĩ cách mạng, họ trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, giác ngộ và thấm nhuần cao độ lí tưởng cộng sản nên cổ tinh thần lạc quan, thấu suốt tương lai. |
3,0 điểm |
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,5 điểm |
|
|
e. Sáng tạo - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 điểm |
ĐỀ SỐ 2 – NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
|
TT |
Năng lực |
Mạch nội dung |
Mức độ nhận thức |
Tổng % |
|||
|
Nhận biết |
Thông hiểu |
Vận dụng |
Vận dụng cao |
||||
|
1 |
Năng lực Đọc |
Truyện ngắn |
1 |
2 |
2 |
0 |
50 |
|
2 |
Năng lực Viết |
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện |
1* |
1* |
1* |
1* |
50 |
|
Tổng |
15 |
35 |
40 |
10 |
100 |
||
|
Tỉ lệ % |
50% |
50% |
|
||||
BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
|
TT |
Kĩ năng |
Nội dung/ đơn vị kiến thức |
Mức độ đánh giá |
Số câu hỏi theo mức độ nhận thức |
|||
|
Nhận biết |
Thông hiểu |
Vận dụng |
Vận dụng cao |
||||
|
1 |
Đọc hiểu |
Truyện ngắn |
Nhận biết: - Phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản. - Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện (đề tài, nhân vật, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật,…). - Nhận biết đươc các giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học cụ thể. Thông hiểu: - Tóm tắt được cốt truyện. - Hiểu và phân tích được nhân vật trong truyện ngắn; lí giải được vị trí, vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm. - Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề. - Lí giải được tác dụng của việc chọn nhân vật người kể chuyện; lời người kể chuyện, lời nhân vật, ... trong truyện ngắn. - Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của đề tài, các chi tiết tiêu biểu, đặc trưng của truyện ngắn. - Rút ra được bài học về cách nghĩ, cách ứng xử do văn bản gợi ra. - Nêu được ý nghĩa hay tác động của tác phẩm đối với nhận thức, tình cảm, quan niệm của bản thân. Vận dụng: - Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản để lí giải ý nghĩa, thông điệp của văn bản. - Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của thông điệp, chi tiết, hình tượng,… trong tác phẩm theo quan niệm của cá nhân. |
|
|
|
|
|
2 |
Viết |
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện |
Nhận biết: - Xác định được yêu cầu về nội dung và hình thức của bài văn nghị luận. - Mô tả được vấn đề trong tác phẩm văn học và những dấu hiệu, biểu hiện của vấn đề trong bài viết. - Xác định rõ được mục đích, đối tượng nghị luận. Thông hiểu: - Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm phù hợp. - Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. - Đảm bảo cấu trúc của một văn bản nghị luận; đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Vận dụng: - Đánh giá được ý nghĩa, ảnh hưởng của vấn đề đối với con người, xã hội. - Nêu được những bài học, những đề nghị, khuyến nghị rút ra từ vấn đề bàn luận. Vận dụng cao: - Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm,… để tăng sức thuyết phục cho bài viết. - Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong bài viết. |
|
|
|
|
|
Tổng |
|
1TL |
2TL |
2TL |
1TL |
||
|
Tỉ lệ (%) |
|
50% |
50% |
||||
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
Phần 1: Đọc hiểu (5,0 điểm)
Đọc đoạn ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:
(Lược phần đầu: Mùa hè năm nay, Tâm và vợ chàng về nghỉ mát ở nhà một người bạn ở vùng thôn quê. Khi người bạn mời thì Tâm nhận lời ngay, vì chàng tính được chỗ nghỉ mát suốt một tháng hè không phải mất tiền, vả lại tiện hơn nữa, chàng có dịp về thăm nhà cũng ở gần đó)
Có đến năm, sáu năm nay, Tâm không về thăm quê nhà. Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, Tâm gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội. Chàng lấy vợ, con một nhà giàu có, cũng không cho mẹ biết. Thỉnh thoảng chàng nhận được ở nhà quê gửi ra một bức thư mà chữ viết non nớt nguệch ngoạc, và lời lẽ quê kệch. Tâm chỉ đọc thoáng qua rồi không để ý đến. Sống trong hoàn cảnh giàu sang, chắc chắn Tâm không bao giờ nghĩ đến quê nhà nữa. Hoặc có nghĩ đến, chỉ để lại tự chế riễu mình, khi còn nhỏ, đã có cái đời ở thôn quê là giản dị, và sung sướng. Chàng mơ màng yêu một cô thôn nữ, và ước mong cùng nhau sống trong cảnh thanh bạch dưới một túp lều tranh. Cái mộng ấy, bây giờ làm chàng khi nghĩ đến mỉm cười.
Không còn một cái liên lạc gì ràng buộc Tâm với thôn quê nữa. Những người họ hàng ở làng chỉ làm chàng sinh ghét, vì những sự đi lại nhờ vả lôi thôi. Còn đối với mẹ chàng, Tâm tin rằng đã làm đủ bổn phận khi mỗi tháng gửi về giúp bà cụ một số tiền, chàng lại càng tin như vậy lắm, khi nghĩ đến những cái khó khăn chàng phải vượt qua để có số tiền ấy. Bao nhiêu sự dối trá chàng phải cần đến để giấu không cho vợ biết! Có khi chàng nghĩ giận bà mẹ, vì bà mà chàng phải giấu diếm như thế.
Tuy vậy, khi đến gần đầu làng, Tâm trong lòng cũng thấy cảm động. Hai bên cánh đồng lúa xanh gió đưa như nổi sóng. Trên đường giải đá, mặt đất khô rắn lại và nứt nẻ nhiều chỗ. Tâm nhớ lại cái đất ấy đã làm đau đớn bàn chân non nớt của chàng khi còn nhỏ ngày ngày cắp sách đi học.
Một cái cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai: Tâm ngửng đầu lên nhìn, chàng vừa đi vừa bước vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ. Mấy đứa trẻ nhà quê trần truồng và đen sạm đương chơi khăng ở vệ đường. Khi thấy chàng đi qua, chúng đưa những cặp mắt bẩn thỉu nhấp nháy nhìn, và chùi tay giây bùn vào bắp chân. Nghĩ đến thuở nhỏ, chàng cũng chỉ là một đứa bẩn thỉu như những đứa trẻ này, Tâm tự phụ vì mình bây giờ đã vượt hẳn được cái bực nghèo hèn ấy.
(Lược phần cuối: Tâm gặp mẹ nhưng không thiết tha gì với cảnh nhà, chàng nói chuyện đầy vẻ xa cách, lãnh đạm với mẹ và cô hàng xóm vốn thân thiết thuở nhỏ, lòng chỉ nghĩ đến người vợ giàu đang đợi ở quán ăn. Chàng đưa cho mẹ 20 đồng bạc rồi vội vã ra về, mặc bà cụ van nài cậu ở lại ăn cơm. Đang cùng vợ dạo chơi phố chợ trước khi về, Tâm nhìn thấy mẹ. Biết là mẹ ra ga chờ để tiễn mình, hoảng hốt, Tâm giục vợ quay lại lối cũ, lên xe hơi, bắt tài xế đánh xe về ngay Hà Nội. Khi đến chỗ ngoặt Tâm thoáng thấy đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô con gái. Xe chạy làm bắn bùn lên quần áo. Tâm thấy cặp mắt đen láy của cô gái quê mở to như ngạc nhiên nhìn mình nhưng chàng không ngoảnh lại. Chàng nghĩ đến cuộc sống giàu sang hiện tại nhanh chóng lãng quên người mẹ và cảnh thôn quê.)
(Trích Trở về - Trong tập truyện Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam)
Câu 1 (1,0 điểm): Người kể chuyện trong văn bản thuộc ngôi thứ mấy? Người kể chuyện đã thể hiện vai trò như thế nào trong việc kể lại câu chuyện?
Câu 2 (1,0 điểm): Yếu tố ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là gì?
Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét tâm trạng của nhân vật Tâm khi trở về thăm quê nhà?
Câu 4 (1,0 điểm): Sức hấp dẫn của truyện Thạch Lam chủ yếu toát ra từ đâu? Anh/chị hãy làm rõ.
Câu 5 (1,0 điểm): Việc nhân vật Tâm chối bỏ nơi mình sinh ra và lớn lên gợi cho anh/ chị những suy nghĩ gì?
Phần 2: Viết (5.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích và so sánh, đánh giá hai tác phẩm "Dì Hảo" (Nam Cao) và "Nhà mẹ Lê" (Thạch Lam)
HƯỚNG DẪN GIẢI
Phần 1: Đọc hiểu (5,0 điểm)
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
1 |
Người kể chuyện trong tác phẩm thuộc ngôi thứ ba. Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, nắm bắt được toàn bộ sự việc diễn ra trong đó. |
1,0 điểm |
|
2 |
Yếu tố ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong văn bản là ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, điềm đạm, nhẹ nhàng nhưng cũng đầy nghẹn ngào. |
1,0 điểm |
|
3 |
Sự trở về của Tâm chỉ là một sự miễn cưỡng, một cách giúp chàng làm đủ bổn phận của mình với quê nhà. |
1,0 điểm |
|
4 |
Sức hấp dẫn của truyện Thạch Lam chủ yếu toát ra từ: Thế giới nội tâm của nhân vật. - Một chút cảm động khi về đến đầu làng, một thoáng nhớ về tuổi thơ… - Những lạnh lùng, vô cảm, kiêu ngạo khi về đến nhà một chút rồi đi ngay. - Sự nhẹ nhõm sau khi làm xong bổn phận và bước ra khỏi nhà. |
1,0 điểm |
|
5 |
Việc nhân vật Tâm chối bỏ nơi mình sinh ra và lớn lên gợi suy nghĩ: - Đó là cách suy nghĩ của những con người ích kỉ. - Đó là biểu hiện của một con người không biết trân trọng, biết ơn quá khứ. - Đó là biểu hiện của sự vô ơn, bạc tình, bạc nghĩa. - Phản ánh một hiện tượng của xã hội: lối sống chạy theo giá trị vật chất và những hư vinh. |
1,0 điểm |
Phần 2: Viết (5.0 điểm)
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. |
0,5 điểm |
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Phân tích và so sánh, đánh giá hai tác phẩm "Dì Hảo" (Nam Cao) và "Nhà mẹ Lê" (Thạch Lam) |
0,5 điểm |
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý cần hướng tới: 1. Nét tương đồng Cả "Dì Hảo" và "Nhà mẹ Lê" đều là những tác phẩm điển hình thể hiện tình cảm gia đình, đặc biệt là tình yêu thương của những người mẹ. Trong "Dì Hảo", Nam Cao khắc họa hình ảnh dì Hảo - một người phụ nữ tần tảo, hy sinh cho gia đình và cháu chắt. Dì Hảo là biểu tượng cho những người phụ nữ Việt Nam, luôn chăm lo cho con cái, chịu đựng mọi khó khăn để con cái có cuộc sống tốt hơn. Trong khi đó, "Nhà mẹ Lê" của Thạch Lam cũng thể hiện tình mẫu tử thông qua hình ảnh mẹ Lê - một người mẹ hiền hậu, lam lũ nhưng luôn yêu thương và hy sinh cho con. Cả hai tác phẩm đều làm nổi bật giá trị của tình yêu gia đình, sự hy sinh vô điều kiện và tấm lòng cao cả của những người mẹ. Tình cảm này khiến người đọc phải suy ngẫm về những nỗi khổ đau, những hi sinh thầm lặng mà họ phải trải qua trong cuộc sống. 2. Nét khác biệt Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách thể hiện chủ đề và phong cách viết của hai tác giả cũng rất rõ rệt. Nam Cao, với bút pháp hiện thực và lối viết sắc sảo, đã tạo nên một bức tranh sống động về cuộc sống nghèo khổ, những lo toan, vất vả của dì Hảo trong "Dì Hảo". Tác phẩm mang tính hiện thực rõ nét, phản ánh những mảnh đời bất hạnh trong xã hội phong kiến. Nam Cao khắc họa tinh tế những suy tư, trăn trở của nhân vật, từ đó thể hiện những khát khao và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngược lại, Thạch Lam lại mang đến một không gian êm đềm và thơ mộng hơn trong "Nhà mẹ Lê". Tác phẩm không chỉ tập trung vào hình ảnh người mẹ mà còn mở ra một không gian sống yên bình, nơi có những kỷ niệm đẹp đẽ của thời thơ ấu. Thạch Lam sử dụng ngôn từ trau chuốt, giàu hình ảnh, tạo nên một bầu không khí ấm áp và gần gũi. Ông không chỉ khắc họa nỗi khổ của con người mà còn mang đến sự thanh bình trong tâm hồn, khiến người đọc cảm nhận được giá trị của những điều giản dị, bình thường trong cuộc sống. 3. Đánh giá Cả "Dì Hảo" và "Nhà mẹ Lê" đều có giá trị lớn trong việc thể hiện tâm tư, tình cảm của con người, đặc biệt là tình cảm gia đình. Dù sử dụng những bối cảnh và hình ảnh khác nhau, cả hai tác phẩm đều khiến người đọc phải suy ngẫm về cuộc sống, về những mảnh đời khổ cực và tấm lòng cao cả của những người mẹ. "Dì Hảo" mang đến một cái nhìn sắc sảo, hiện thực về nỗi khổ của con người trong xã hội, trong khi "Nhà mẹ Lê" lại hướng đến những giá trị tinh thần, tâm hồn và tình cảm gia đình. Tóm lại, "Dì Hảo" và "Nhà mẹ Lê" là hai tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam, phản ánh sâu sắc nỗi đau, tình yêu và sự hy sinh của con người. Qua hai tác phẩm này, người đọc không chỉ cảm nhận được nỗi khổ của những người mẹ, mà còn thấy được vẻ đẹp của tình yêu thương gia đình và giá trị của cuộc sống, khiến chúng ta trân trọng hơn những điều giản dị, bình yên trong cuộc sống hàng ngày. |
3,0 điểm |
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,5 điểm |
|
|
e. Sáng tạo - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 điểm |
Copyright © nguvan.online
