Ngữ Văn Online

Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.

Phong phú

Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.

Chất lượng

Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.

Uy tín

Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.

Đề kiểm tra cuối kì 2 môn Ngữ Văn lớp 10 Kết nối tri thức có đáp án chi tiết (Đề 2)

Đề kiểm tra cuối kì 2 môn Ngữ Văn lớp 10 Kết nối tri thức có đáp án chi tiết (Đề 2)

Lượt xem 300
Lượt tải 93

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II

MÔN NGỮ VĂN 10

(Thời gian làm bài: 90 phút)

TT

Kĩ năng

Nội dung/đơn vị kiến thức

Mức độ nhận thức

Tổng


Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Vận dụng cao

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

TNKQ

TL

1




Đọc




Thơ hiện đại

- Xác định được thể thơ

- Xác định nhân vật

- Xác định chi tiết

- Xác định biện pháp tu từ


  • - Nêu được vẻ đẹp của nhân vật

  • - Nêu được tác dụng của biện pháp tu từ

  • - Nêu được ý nghĩa hình ảnh


  • - Nội dung của câu thơ


- Lí giải được nguyên nhân


- Đánh giá được ý nghĩa, tác động của văn bản đối với quan niệm sống của bản thân

10






Tỉ lệ (%)

20%


15%

5%


10%


10%

60

2

Viết


Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ








Viết được văn bản nghị luận pt, đánh giá một tác phẩm thơ

1

Tỉ lệ (%)


10


15


10


5

40

Tổng

20

10

15

20

0

20

0

15

100

Tỉ lệ %

30%

35%

20%

15%

Tỉ lệ chung

65%

35%

* Lưu ý:

Kĩ năng viết có 01 câu bao gồm cả 04 cấp độ.

Những kĩ năng không có trong ma trận đề kiểm tra định kì (nói và nghe) sẽ được thực hiện ở các bài kiểm tra thường xuyên



SỞ GD&ĐT…………

TRƯỜNG………………….

(Đề thi gồm có … trang)

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC II

Môn: NGỮ VĂN 10

(Thời gian làm bài: 90 phút)

Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

Đọc văn bản sau thực hiện các yêu cầu nêu dưới:

Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng
Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên

Biển ồn ào, em lại dịu êm
Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ
Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía
Biển một bên và em một bên

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn
Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc
Biển một bên và em một bên

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
Biển một bên và em một bên

Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên...

Hải Phòng, 1981

(Thơ tình người lính biển, Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Lựa chọn đáp án đúng nhất:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

A. Thơ tự do

B. Thơ bảy chữ

C. Thơ tám chữ

D. Thơ lục bát

Câu 2. Bài thơ nói về cuộc chia tay giữa ai với ai?

A. Anh và em

B. Người lính biển và em

C. Chàng trai và cô gái

D. Cả A&C

Câu 3. Cuộc chia tay của hai nhân vật diễn ra ở địa điểm nào?

A. Thành phố

B. Trên tàu

C. Bến cảng

D. Bờ biển

Câu 4. Dòng nào sau đây nói không đúng về biện pháp tư từ trong hai câu thơ: “Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía/Biển một bên và em một bên ....”?

A. So sánh

B. Ẩn dụ

C. Điệp từ

D. Nhân hoá

Câu 5. Dòng nào sau đây nêu đúng về vẻ đẹp hình ảnh người lính biển trong khổ thơ thứ 4?

A. Cuộc sống gian lao, vất vả nhưng tâm hồn người lính luôn lạc quan, yêu đời, có ý chí và nghị lực kiên cường.

B. Tuy vất vả, gian khổ, đầy những khó khăn nhưng tâm hồn người lính luôn sống lạc quan, yêu đời

C. Người lính vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh, cầm chắc tay súng nơi đảo xa để bảo vệ tổ quốc.

D. Dù khó khăn thử thách, phải gạt đi tình cảm riêng tư, nhưng người lính vẫn kiên cường nơi hải dảo xa xôi.

Câu 6. Câu thơ “Biển một bên và em một bên” được điệp lại 5 lần trong bài thơ có ý nghĩa gì?

A. Diễn tả niềm mong ước, khao khát chát bỏng của người lính đảo được gặp lại người yêu nơi xa

B. Nhấn mạnh nỗi khao khát của người lính đảo về một hạnh phúc lứa đôi, dù phải trải qua những giờ phút vất vả.

C. Khẳng định trong tâm hồn người lính biển, tình yêu lứa đôi luôn hòa quyện với tình yêu biển trời tổ quốc.

D. Khẳng định sự kiên cường bất khuất, của người lính đảo, và tình yêu luôn hoà trong tình yêu tổ quốc

Câu 7. Hình ảnh “những vành tang trắng” trong câu thơ “Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng” có ý nghĩa biểu tượng như thế nào?

A. Những nỗi đau mà đất nước đã từng trải qua không chỉ là nỗi đau thiên tai bão lũ mà còn là những mất mát của chiến tranh.

B. Vành khăn tang của những người dân có người chết vì thiên tai, bão tố, của những người lính đã hi sinh vì tổ quốc

C. Những nỗi đau mà người dân phải trải qua trong cuộc sống bám biển, họ phải trải qua những cơn lũ lụt, thiên tai

D. Những mất mát, hi sinh của người lính biển không chỉ diễn ra ở trong thời chiến mà cả trong thời bình.

Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:

Câu 8. Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa hai câu thơ sau: “Vòm trời kia có thể sẽ không em/Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ”?

Câu 9. Theo anh, chị “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên” vì những nguyên nhân nào?

Câu 10. Đoạn thơ cho em cảm nhận gì về hình tượng người lính biển? (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)

PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung và nghệ thuật bài thơ Thơ tình của người lính biển” của Trần Đăng Khoa


HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II

Môn: NGỮ VĂN


Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I


ĐỌC HIỂU

6,0


1

A

0.5

2

B

0.5

3

C

0.5

4

D

0.5

5

C

0.5

6

D

0.5

7

A

0.5

8

Dù phải hi sinh, phải trở về với cát bụi, dù cuộc sống có như thế nào, anh vẫn luôn nhớ về “em”, nhớ về những khoảnh khắc có ý nghĩa trong cuộc đời anh khi có “em” bên cạnh.

0.5

9

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên” vì những nguyên nhân:

Vì chiến tranh, vì kẻ thù luôn gây chiến;

- Vì thiên tai bão lụt khắc nghiệt;

- Vì những khó khăn thử thách…..

1,0

10

Suy nghĩ về hình ảnh người lính đang canh giữ biển đảo quê hương: Họ đang ngày đêm làm nhiệm vụ thiêng liêng cho Tổ Quốc. Họ hi sinh thầm lặng để canh giữ biển trời Tổ Quốc. Họ đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách để giữ vững chủ quyền. Họ là những người lính kiên cường đối mặt với quân thù và bão tố. Họ có tình yêu lý tưởng và tình yêu đất nước, yêu Tổ Quốc thiết tha. Chúng ta cảm thông, chia sẻ, cảm phục, trân trọng, biết ơn những người lính biển.

1,0

II


VIẾT

4,0


a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học

0,25


b. Xác định đúng vấn đề nghị luận.

Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung và nghệ thuật bài thơ Thơ tình của người lính biển” của Trần Đăng Khoa

0,5


c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

HV có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.

Sau đây là một hướng gợi ý:

Đảm bảo hình thức, cấu trúc của bài văn nghị luận.

Xác định đúng vấn đề: phân tích và đánh giá nội dung và nghệ thuật bài thơ

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận

Gợi ý:

Thơ viết về đề tài chiến tranh, có những bài thật xúc động neo giữ bền chặt trong lòng bao thế hệ. Đó là những cuộc chia tay của người đi bảo vệ Tổ quốc và người yêu ở lại. Tiêu biểu như “Chia tay trong đêm Hà Nội” của Nguyễn ĐìnhThi, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn…
Theo dòng cảm xúc đó, Trần Đăng Khoa có bài “Thơ tình người lính biển”. Đây cũng là cuộc chia tay đầy lưu luyến, đầy lãng mạng và cũng rất đỗi tự hào của người lính hải quân đi làm nhiệm vụ giữ biên hải thiêng liêng của Tổ quốc. Tình cảm này đại diện cho tình yêu của hậu phương tạo thêm sức mạnh cho người lính biển ra khơi đến với biển đảo xa xôi để bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc.

2. Thân bài

(Đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ)
“Thơ tình của người lính biển” ra đời đã được nhiều thế hệ đón nhận. Và khi nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc đã nhanh chóng đi vào lòng người và trở thành bài ca đi cùng năm tháng.
Bài thơ thật bình dị, thật gần gũi. Cái bình dị, gần gũi được gói gọn trong tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và tình yêu lứa đôi thủy chung của người lính biển. Câu thơ: “Biển một bên và em một bên…” được lặp lại như một điệp khúc trong năm khổ thơ của bài thơ. Nhịp điệu bài thơ khoan thai, dìu dặt tựa như những con sóng vỗ chao mạng thuyền. Nhưng được người lính lắng lại. Rồi tĩnh tâm để cân bằng hai đối trọng. Ta cùng thả hồn cùng tác giả, thì giai điệu câu thơ lại nghiêng về “Biển”. Thật vậy, nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã nhận ra điều này. Ông đã đưa giai điệu “Biển một bên” tha thiết vút cao và “Em một bên” dịu xuống rồi ngân dài. Nhưng giai điệu câu thơ không vì thế mà mất cân bằng. Luôn tạo ra đối trọng tương hỗ nhau để con thuyền băng băng ra biển lớn. Phải chăng, giai điệu ấy đã thôi thúc người lính biển bao giờ cũng đặt tình yêu Tổ quốc trên hết. Câu thơ thật lãng mạng cũng thật trí tuệ. Biển, đấy là Tổ quốc. Em, đấy là tình yêu lứa đôi. Đại diện cho cái rộng lớn và cái nhỏ bé. Cái chung và cái riêng cùng vun đắp cho khát vọng niềm tin của người lính biển. Nhà thơ Tế Hanh trong bài tứ tuyệt “Sóng” cũng viết: “Biển một bên, em một bên”. Theo tôi, Tế Hanh chỉ dừng lại ở một vế nói lên tình yêu lứa đôi mặc dù vẫn có hình ảnh em và biển. Còn Trần Đăng Khoa thay dấu phẩy bằng liên từ “và” vừa tách bạch vừa liên thông giữa hai nhân vật biển và em đại diện cho hai tình yêu Tổ quốc và riêng tư luôn tương quan chia sẻ tạo ra sức mạnh và niềm tin của người lính trẻ. Tình cảm đó đã tạo thành câu thơ điệp lại năm lần trong năm khổ thơ dệt nên điểm nhấn cho bài thơ thật hay.
Bài thơ được khởi nguyên bằng ba từ thật đơn giản: “Anh ra khơi”. Đằng sau ba từ ấy lại đong đầy tâm trạng của người lính biển. Mà mở đầu là hình ảnh cặp uyên ương chia tay nhau trên bến cảng. Một hình ảnh rất thực, khi đọc lên ai cũng hình dung ra được. Người lính biển rảo bước cùng người yêu của mình và ở đó anh nhận ra những vầng mây treo ngang trời như những cánh buồm trắng. Đấy là những hình ảnh thân quen của người lính biển. Thật lạc quan khi người lính nhìn mây treo ngang trời như cánh buồm phiêu du, như thôi thúc anh tạm xa người yêu về cùng với biển đảo thân yêu. Giờ, trong khoảnh khắc, cái hạnh phúc thật dung dị, thật hiếm hoi, biển và em lại ngân lên. Đấy là Tổ quốc thiêng liêng, là tình em chung thủy đan cài…Dấu chấm lửng đặt sau câu thơ: “Biển một bên và em một bên…” tạo cho người đọc sự đồng cảm, sẻ chia của sự cách xa trong tình yêu đôi lứa và những tâm sự thiết tha chưa kịp nói hết. Tất cả vì nghĩa lớn, vì Tổ quốc thân yêu.
Trong khoảnh khắc hạnh phúc lứa đôi, họ sánh bước bên nhau bên chân sóng, nơi bến cảng xôn xao, nhà thơ đã khắc họa tính cách của biển và em: “Biển ồn ào, em lại dịu êm”. Hai hình ảnh ngỡ như tương phản nhau. Không, trong cảnh huống này đấy là sự tương thuộc. Bởi cả hai đã lắng sâu trong trái tim người lính biển.
Bên chân sóng rì rào, người con gái buông câu nói diết da tình ái, rồi nén nỗi chia xa đầy luyến lưu của người ở lại. Rồi lặng lẽ mỉm cười, như lời động viên tha thiết của mình khi ngoài kia biển đang thôi thúc tinh thần và trách nhiệm làm trai. Để rồi người lính đi giữa cái chung và riêng trước phút chia tay mà hóa thân thành con tàu lắng sóng từ hai phía. Và trái tim lại ngân lên: “ Biển một bên và em một bên…”
Trong khoảnh khắc ấy, người lính biển chợt nhận ra: “Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn/ Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc/Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc/Biển một bên và em một bên…” Hai từ “ngày mai” được viết liền nhau hai lần như sự khẳng định chắc chắn nơi anh sẽ đến để thực hiện nghĩa vụ cao quý của mình bằng tâm thế thật lạc quan. Và người đọc có thể hình dung, có thể định lượng được bằng cảm quan rằng, nơi anh đóng quân thật xa xôi, thật cách trở. Và không gian ấy được trải dài vô tận với thăm thẳm nước trời, với chùm sao xa lắc. Ở đó có thể là đảo chìm, đảo nổi, có thể anh đang cùng đồng đội trên tàu tuần tra…Trước biển trời bao la, con người được xem như nhỏ bé, đơn độc là điều dễ hiểu. Nhưng “anh không cô độc” bởi trong anh có tình yêu Tổ quốc, có đồng đội, có hậu phương, có hình bóng em nơi quê nhà…
Xưa nay khi nói về biển, người ta thường nghĩ tới những hiểm họa. Nào kẻ thù đang rình rập xâm lấn, nào thiên tai, nhân tai, nào những bất trắc khôn lường… Vì lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc, đã có không ít chàng trai Việt ra đi không trở về, thi thể họ vùi chôn nơi đáy biển nghìn thu. Và biết bao ngôi mộ gió khắc khoải ru hồn: “ Đất nước gian nan chưa bao giờ bình yên/Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng”. Nhưng không vì thế làm cho người thanh niên Việt Nam chùn bước. Theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước, họ sẵn sàng đi đến nơi đầu sóng ngọn gió để hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách hiên ngang: “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng”. Tác giả thật tài hoa khi dùng dấu chấm để ngắt nhịp câu thơ, tạo thành ba cụm câu, đã đem lại hiệu quả biểu cảm thật cao, tạo cho người đọc sự liên tưởng đến những vất vả, gian lao của người lính biển, nhưng cũng thật tự hào. Hình ảnh “Anh đứng gác.”đã hóa thân thành cột mốc kiên định chủ quyền lãnh hải, là biểu tượng của lòng yêu nước và sự kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.
Từ thuở cha ông bằng thuyền nan dong buồm đi cắm mốc chủ quyền quốc gia trên biển. Các thế hệ của dân tộc ta luôn nối tiếp nhau vượt qua bao gian nan thử thách để giữ vững chủ quyền của dân tộc. Các anh luôn trung thành, luôn thủy chung với tình yêu đất nước, với tình yêu lứa đôi dẫu bao giả định, bao bất trắc có thể xảy ra. Đó là tình yêu vĩnh hằng thiêng liêng của người lính biển: “Vòm trời kia có thể sẽ không em/Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ/Cho dù thế thì anh vẫn nhớ/Biển một bên và em một bên…”

3. Kết bài
“Thơ tình người lính biển” là bài thơ với những hình ảnh ấn tượng. Vừa sâu lắng, vừa mãnh liệt cùng với âm điệu lúc trầm lúc bổng, lúc nhanh lúc chậm. Tất cả cùng hòa điệu trong âm hưởng “Biển một bên và em một bên…” tạo ra sự lan tỏa sâu rộng về tình yêu Tổ quốc quyện hòa cùng tình yêu lứa đôi lay thức trách nhiệm công dân trong lòng bao thế hệ.

- Diễn đạt rõ ràng, dùng từ đặt câu đúng nghĩa, đúng ngữ pháp, đúng chính tả.

Có những sáng tạo về ý tưởng hoặc có sự độc đáo về diễn đạt.

2.5


d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

0,25


e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy.

0,5

Tổng điểm

10.0