Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.
Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.
Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.
Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.
|
SỞ GD&ĐT………… TRƯỜNG…………………. (Đề thi gồm có … trang) |
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II Môn: NGỮ VĂN 10 (Thời gian làm bài: 90 phút) |
Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Kẻ điên rồ nhất ở bản Hua Tát là Sạ. Sạ là con út ông Pành, người từng lập nên cả một gia đình đông đúc có tám người con và gần ba chục đứa cháu; ông già nổi tiếng khắp các bản mường. Từ nhỏ, Sạ đã nghịch ngợm và thích phiêu lưu. Suốt đời chàng mơ làm nên sự tích phi thường. Bỏ qua hết thảy những lời khuyên nhủ, chàng chỉ khăng khăng một mực làm theo ý thích của mình. Uống rượu ư? Ai có thể uống luôn một lúc hai mươi sừng rượu, hãy đọ với chàng! Săn hoẵng ư? Ai có thể đuổi theo con hoẵng hơn ba ngày trời để cho con hoẵng đến nỗi phải nằm vật ra đứt ruột, hãy đọ với chàng! Ai có thể tung còn được nhanh và khéo hơn chàng? Ai có thể làm cho chiếc khèn bật ra âm thanh quyến rũ hơn chàng? Và nữa, ai có thể chinh phục trái tim phụ nữ tài giỏi hơn chàng?
Có lần bản Hua Tát vất vả một ngày mới bắt hết số cá thả ở dưới hồ lên thuyền. Chỉ còn chờ lúc chia cá thì Sạ lập úp thuyền xuống nước. Mặc kệ những lời kêu la chửi rủa, Sạ cười sằng sặc, chàng nhảy xổ vào đám cá trắng bạc đang quẫy tứ tung chàng vừa phóng thích.
Sạ điên rồ đến nỗi chỉ vì một lời thách đố là chàng nhảy ngay vào lửa. Đối với chàng, lời khen của đứa bé con hoặc một phụ nữ còn quý hơn cả lượng vàng. Thế nhưng – điều này cũng ác như mọi thói đời, dân bản Hua Tát chẳng ai đi khen chàng cả. Người ta không gọi tên chàng. “Thằng Điên”… “Thằng Rồ”… “Kẻ Khùng”… đấy là tên gọi của chàng. Chàng như một con thú lạ sống giữa mọi người. Sạ sống như thế bứt rứt đau khổ. Chàng ngờ vực trí tuệ, khả năng mình. Ở trong đám hội, chàng vui đấy, nhưng chỉ lúc sau chàng lại lặng im như hóa đá. Chàng ngồi suốt ngày, suốt tháng, chế tạo ra thứ đồ chơi hay thứ vũ khí gì đấy, nhưng khi làm xong chàng lại vứt đi. Không ai dám đặt lòng tin hay dám giao phó việc gì cho con người đầy bất trắc đó. Nỗi cô đơn khủng khiếp giày xé tim chàng. Niềm ham sống và những khát vọng mãnh liệt bứt chàng ra mọi nếp thường. Năm ba mươi tuổi, nghe theo lời rủ rê của một gã buôn muối ở dưới xuôi lên, Sạ bỏ Hua Tát ra đi cũng với ý muốn lập nên sự tích phi thường ở vùng đất khác.
Sạ đi rồi, cuộc sống ở bẫn Hua Tát như buồn tẻ hơn. Các vụ đánh lộn không còn ác liệt như trước. Phụ nữ cũng ít ngoại tình. Không còn có những tiệc xòe thâu đêm suốt sáng. Nụ cườì ít hơn. Thậm chí đến cả chim chóc bay qua bầu trời Hua Tát vô cánh cũng như uể oải. Người ta trở nên cau có, công việc đè lên vai họ nặng nề hơn trước. Chờ đến lúc ấy, người ta mới thấy nhớ Sạ, mới thấy Sạ đi là điều đáng tiếc.
Tin tức về Sạ thỉnh thoảng do gã buôn muối mang đến làm mọi người kinh ngạc. Nghe nói chàng đang tham gia giúp việc Cần Vương ở mãi dưới xuôi. Một dạo, nghe nói chàng đang đi sứ ở một nước nào xa xôi ghê lắm. Lại có một dạo, nghe nói chàng bị đi đày vì đã tham gia âm mưu phản lại triều đình.
Phụ nữ bắt đầu lấy Sạ ra để làm gương dạy dỗ chồng mình. Người bản Hua Tát nhắc đến tên Sạ để mà so sánh việc nọ việc kia với người bản khác. Thậm chí, người ta còn dẫn những việc hồi xưa ở bản Sạ chẳng hề làm. Tên tuổi của chàng thành niềm tự hào của họ.
Thế rồi năm tháng qua đi. Người ta nghĩ Sạ chắc đã gửi xác nơi đất khách quê người, thì một ngày kia Sạ bỗng trở vể.
Không còn chàng Sạ trẻ trung và vui nhộn nữa. Đấy là ông lão lụ khụ hệt người rừng, một chân cụt, đôi mắt già nua bắt đầu có nước đọng trong đồng tử.
Được hỏi chuyện, Sạ trả lời dè dặt về quãng đời oanh liệt ông từng trải qua. Những lời đồn đại do gã buôn muối kể lại phần nào có thật. Người bản Hua Tát dựng lên cho Sạ một mái nhà sàn. ông sống bình thường như mọi người khác. Có ai nhắc lại chuyện cũ thì ông lảng tránh. Sạ lấy vợ. Hai vợ chồng già sinh được một đứa con trai. Sống được đến bảy mươi tuổi thì ông mới mất. Trước khi mất, nghe đồn ông nói lại rằng:
– Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được. Có thể thế chăng? Không thấy người dân Hua Tát bàn tán gì về câu nói ấy. Nhưng đám tang Sạ, người ta cử hành trang trọng hệt như đám tang một vị vương hầu.
(Sạ, Nguyễn Huy Thiệp, Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2007, tr.29 – 32)
Lựa chọn đáp án đúng nhất:
Câu 1. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Cả ba đáp án A, B, C đều đúng.
Câu 2. Cốt truyện được xây dựng như thế nào?
A. Đơn giản nhưng hấp dẫn.
B. Phức tạp, bất ngờ.
C. Đơn điệu, bất ngờ.
D. Phức tạp, hấp dẫn.
Câu 3. Nhân vật "Sạ" thích điều gì nhất?
A. Lời góp ý chân thành của mọi người.
B. Lời nịnh nọt ngọt ngào.
C. Lời khen tài năng và chê những điều mình còn "điên rồ".
D. Lời khen, sự thừa nhận của mọi người.
Câu 4. Lời của mọi người trong bản Hua Tát ghi gọi Sạ là “Thằng Điên”… “Thằng Rồ”… “Kẻ Khùng” có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc đời của chàng?
A. Tác động tích cực để chàng nhận ra điểm yếu của mình và thay đổi, hoàn thiện hơn.
B. Khiến chàng cảm thấy bị cô đơn, không tin tưởng vào khả năng của bản thân.
C. Giúp chàng vui vẻ để sống mạnh mẽ, sống ý nghĩa hơn.
D. Giúp chàng có động lực và khát vọng sống mạnh mẽ, mãnh liệt hơn.
Câu 5. Việc sử dụng các kiểu câu nghi vấn liên tiếp trong đoạn: "Ai có thể tung còn được nhanh và khéo hơn chàng? Ai có thể làm cho chiếc khèn bật ra âm thanh quyến rũ hơn chàng? Và nữa, ai có thể chinh phục trái tim phụ nữ tài giỏi hơn chàng?" sau có tác dụng như thế nào?
A. Dùng để hỏi, thể hiện sự nghi ngờ về tài năng, sức mạnh của Sạ.
B. Dùng để kể về tài năng và sức mạnh của Sạ.
C. Dùng để khẳng định về tài năng và sức mạnh của Sạ.
D. Dùng để hỏi dân bản Hua Tát, giúp họ đi tìm những người tài năng và bản lĩnh hơn Sạ.
Câu 6. Việc Sạ quyết định từ bỏ bản Hua Tát ra đi là vì lí do sâu xa nào?
A. Do bị gã buôn muối dụ dỗ.
B. Do chàng có khát vọng làm nên những điều lớn lao, phi thường.
C. Do chàng làm nhiều chuyện có lỗi với người dân Hua Tát nên chàng cảm thấy ngại ngần, xấu hổ.
D. Do chàng quá cô đơn khi ở bản Hua Tát nên muốn tìm cho mình một cuộc sống ý nghĩa hơn.
Câu 7. Cảm xúc chủ đạo của tác giả khi kể về cuộc đời của Sạ là:
A. Buồn thương, ai oán
B. Tự hào, biết ơn
C. Đồng cảm, tiếc nuối
D. Bi tráng, xót xa.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8. Hãy nhận xét về thái độ, tình cảm của người dân bản Hua Tát dành cho Sạ.
Câu 9. Từ câu nói của Sạ trước khi chết, anh/chị rút ra bài học ý nghĩa nhất là gì?
Câu 10. Hãy viết một đoạn văn khoảng 8-10 câu bàn về ý kiến lời nói của Sạ: “Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được.”
II. VIẾT (4,0 điểm)
Hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và nhân vật Sạ trong truyện "Sạ" trích trong "Những ngọn gió Hua Tát" của Nguyễn Huy Thiệp.
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II
Môn: NGỮ VĂN
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
6,0 |
|
|
1 |
C |
0.5 |
|
2 |
A |
0.5 |
|
|
3 |
D |
0.5 |
|
|
4 |
B |
0.5 |
|
|
5 |
C |
0.5 |
|
|
6 |
B |
0.5 |
|
|
7 |
D |
0.5 |
|
|
8 |
Nhận xét về thái độ, tình cảm của người dân bản Hua Tát dành cho Sạ: Thái độ trân trọng, ngưỡng mộ về cuộc đời của Sạ, đồng thời thấy được tình cảm yêu mến, quý trọng mà họ dành cho Sạ. |
0.5 |
|
|
9 |
Bài học: - Sự phi thường là được sống trọn vẹn với những điều bình thường nhất. - Hạnh phúc không ở đâu xa, hạnh phúc nằm trong chính những điều bình thường nhất |
1,0 |
|
|
10 |
Viết một đoạn văn khoảng 8-10 câu bàn về ý kiến lời nói của Sạ: “Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được.” Gợi ý Sạ rời quê đi kiếm tìm những sự tích phi thường ở vùng đất khác, lập được những sự tích phi thường. Sạ trở về quê hương không phải là một người trẻ trung và vui nhộn nữa, mà thay vào đó là ông lão lụ khụ hệt người rừng, một chân cụt, đôi mắt già nua bắt đầu có nước đọng trong đồng tử. Và Sạ bắt đầu sống một cuộc đời bình thường như bao người khác: lấy vợ sinh con, cảm nhận được niềm vui của cuộc sống bình thường. Sạ nhận ra rằng: được sống vui vẻ, hạnh phúc mới là sự tích phi thường. Có thể thấy rằng, trong cuộc sống, còn người mải mê đi kiếm tìm những thứ vô cùng lớn lao để khẳng định mình, mà họ quên mất đi rằng những được sống theo ý mình, được sống là chính mình ấy chính là sự tích phi thường nhất. |
1,0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
4,0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận. Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá chủ đề và nhân vật Sạ trong tác phẩm |
0,5 |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HV có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục. Sau đây là một hướng gợi ý: – Đảm bảo hình thức, cấu trúc của bài văn nghị luận. – Xác định đúng vấn đề: Phân tích và đánh giá chủ đề và nhân vật Sạ trong truyện ngắn “Sạ” 1. Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật và vấn đề phân tích Nguyễn Huy Thiệp từng sống và gắn bó với mảnh đất Tây Bắc hơn mười năm. Khoảng thời gian mười năm ấy đem lại cho nhà văn những trải nghiệm về miền đất núi rừng hoang vu. Cuộc sống con người khắp thôn bản ăn sâu vào tiềm thức trở thành kỉ niệm và cũng là những trăn trở về đất và người nơi đây. Bởi thế, Nguyễn Huy Thiệp có nhiều truyện ngắn viết về đề tài cuộc sống và con người Tây Bắc. Trong đó, có thể nói, Những ngọn gió Hua Tát là tập truyện được viết giản dị, biểu hiện trọn vẹn và xúc động âm hưởng huyền thoại núi rừng. Những ngọn gió Hua Tát bao gồm mười câu chuyện, mỗi câu chuyện tựa “những bông hoa dại, màu vàng nhạt, bé như khuy áo, điểm đâu đó quanh hàng rào trong các ngõ nhỏ”. Truyện ngắn “Sạ” là truyện thứ sáu trong mười truyện “Những ngọn gió Hua Tát” của tác giả Nguyễn Huy Thiệp. Tác phẩm như một lời nhắn nhủ với người đọc: Hạnh phúc của con người không ở đâu xa, đó chính là những điều bình thường nhất. 2. Thân bài Lần lượt trình bày các luận điểm. Sử dụng lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ luận điểm: a. Tóm tắt nội dung chính của truyện Câu chuyện kể về Sạ - con trai út ông Lò Văn Pành, từ nhỏ, Sạ đã nghịch ngợm và thích phiêu lưu. Suốt đời chàng mơ làm nên sự tích phi thường. Bỏ qua hết thảy những lời khuyên nhủ, chàng chỉ khăng khăng một mực làm theo ý thích của mình. Sạ điên rồ đến nỗi chỉ vì một lời thách đố là chàng nhảy ngay vào lửa. Đối với chàng, lời khen của đứa bé con hoặc một phụ nữ còn quý hơn cả lượng vàng. Thế nhưng – điều này cũng ác như mọi thói đời, dân bản Hua Tát chẳng ai đi khen chàng cả. Người ta không gọi tên chàng. “Thằng Điên”… “Thằng Rồ”… “Kẻ Khùng”… đấy là tên gọi của chàng. Chàng như một con thú lạ sống giữa mọi người. Sạ sống như thế bứt rứt đau khổ. Chàng ngờ vực trí tuệ, khả năng mình. Niềm ham sống và những khát vọng mãnh liệt bứt chàng ra mọi nếp thường. Năm ba mươi tuổi, nghe theo lời rủ rê của một gã buôn muối ở dưới xuôi lên, Sạ bỏ Hua Tát ra đi cũng với ý muốn lập nên sự tích phi thường ở vùng đất khác. Sạ đi rồi, mọi người đều cảm thấy nhớ Sạ, thấy Sạ đi là điều đáng tiếc. Mọi tin tức về Sạ đề do gã buôn muối kể lại. Nhưng một ngày kia, Sạ trở về quê hương không phải là một người trẻ trung và vui nhộn nữa, mà thay vào đó là ông lão lụ khụ hệt người rừng, một chân cụt, đôi mắt già nua bắt đầu có nước đọng trong đồng tử. Và Sạ bắt đầu sống một cuộc đời bình thường như bao người khác: lấy vợ sinh con, cảm nhận được niềm vui của cuộc sống bình thường. Hai vợ chồng già sinh được một đứa con trai. Sống được đến bảy mươi tuổi thì ông mới mất. Trước khi mất, nghe đồn ông nói lại rằng: Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được. b. Khái quát chủ đề của truyện: Trong cuộc sống, còn người mải mê đi kiếm tìm những thứ vô cùng lớn lao để khẳng định mình, mà họ quên mất đi rằng những được sống theo ý mình, được sống là chính mình ấy chính là sự tích phi thường nhất. b. Phân tích nhân vật và vai trò của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề của truyện - Cốt truyện được xây dựng đơn giản với nhân vật chính trong câu chuyện là Sạ. - Nhân vật Sạ khi ở bản Hua Tát + Sạ là con út trong gia đình ông Pành, từ thuở nhỏ nghịch ngợm và thích phiêu lưu, suốt đời mơ ước làm được những sự tích phi thường. + Bỏ qua hết mọi lời khuyên của mọi người, Sạ làm theo ý định và sở thích của mình, mặc ho người ta chửi anh, nhưng anh vẫn làm theo ý của mình + Sạ điên rồ đến nỗi, chỉ cần một lời thách là sẵn sàng nhảy vào lửa + Lời khen đối với Sạ còn quý hơn cả vàng + Thế nhưng chẳng ai khen chàng, mọi người thậm chí còn gọi chàng lag “Thằng Điên” … “Thằng Rồ”… “Kẻ Khùng”… Sạ là một người có lí tưởng sống, khao khát lập lên những sự tích phi thường, nhưng tất cả mọi người không hiểu, họ coi chàng là kẻ điên, thàng khùng, điều ấy khiến chàng sống giữa sự cô đơn, chàng trở lên lầm lì, ít nói, chàng sống giữa sự xa lạ, thậm trí nghi ngờ về trí tuệ của mình. - Sạ khi rời khỏi bản Hua Tát: + Với niềm khao khát mãnh liệt từ nhỏ của mình để lập nên sự tích phi thường, năm ba mươi tuổi, nghe theo lời rủ rê của một gã buôn muối ở dưới xuôi lên, Sạ bỏ Hua Tát ra đi cũng với ý muốn lập nên sự tích phi thường ở vùng đất khác. + Khi Sạ rời đi, mọi người cảm thấy hụt hẫng, người ở bản trở lên cau có, họ không thấy được niềm vui trong lao động, người ta mới thấy nhớ Sạ, mới thấy Sạ đi là điều đáng tiếc. + Họ lắng nghe tin tức về Sạ từ gã buôn muối đem lại, họ lấy đó là niềm tự hào, họ dùng tấm gương của Sạ để dạy dỗ chồng con. + Năm tháng qua đi, bỗng một ngày kia Sạ trở về, nhưng không còn là Sạ của ngày trước, mà thay vào đó là một ông lão lụ khụ hệt người rừng, một chân cụt, đôi mắt già nua bắt đầu có nước đọng trong đồng tử. Người làng đến hỏi thăm về những năm tháng Sạ rời khỏi quê hương, nhưng Sạ lảng tránh người đọc dường như cảm thấy được Sạ không muốn nhắc đến quãng đời mình đã trải qua ấy, có thể nó là một nỗi buồn trong cuộc đời mà Sạ muốn giữ cho riêng mình. + Người ta dựng cho Sạ một ngôi nhà sàn, Sạ bắt đầu một cuộc sống bình thường như bao người dân Hua Tát khác: lấy vợ, sinh con, đến bảy mươi tuổi thì mất. + Trước khi Sạ mất, người ta đồn ông nói lại rằng: “Quãng đời bình thường cuối cùng ta sống ở bản Hua Tát như mọi người đời, mới thực chính là sự tích phi thường mà ta lập được” Cuộc đời Sạ những sự tích phi thường đáng ngưỡng mộ mà người dân Hua Tát biết về chàng, thế nhưng trong câu nói của Sạ trước khi mất là thông điệp truyền tải tới người đọc: hạnh phúc không phải ở đâu xa, hạnh phúc chính là được sống là chính mình, được vui vẻ thoải mái, làm những điều mình thích, được sống ở chính quê hương của mình. * Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật nghệ thuật của tác phẩm - Truyện được kể dưới ngôi kể thứ ba, với điểm nhìn trần thuật của Sạ. Với cảm xúc chủ đoạ buồn thương xót xa. Câu chuyện được nhà văn khai thác giữa cái mê và cái tỉnh, giữa tham ái và buông bỏ. Truyện ngắn Sạ mang đậm màu sắc dân gian, cuộc đời Sạ hiện lên như một giai thoại, huyền thoại, phủ bóng lên tác phẩm, tạo ra một thứ không khí nửa hư, nửa thực và làm nên sự mê hoặc cho tác phẩm. Câu chuyện với những chi tiết đậm màu giai thoại, nửa hư nửa thực và cuối cùng, là nỗi buồn man mác của đời người không thoát khỏi sinh mệnh cô đơn, buồn thảm của mình. - Kết thúc truyện ngắn Sạ, người đọc cảm nhận thấy sự buồn thương cho một cuộc đời đầy bi tráng của Sạ. Nó giúp người đọc nhận ra rằng điều phi thường mà con người đi tìm kiếm không phải ở đâu xa mà nó ở trong chính cuộc đời bình thường của mỗi người. Cả cuộc đời Sạ cứ đi kiếm tìm sự phi thường, nhưng cuối đời Sạ nhận ra đó chỉ là phù du, được sống ở quê hương với người thân của mình đấy mới chính là kì tích phi thường. 3. Kết bài: Khẳng định giá trị của tác phẩm. Câu chuyện đẫm màu sắc huyền thoại, có một sức mê hoặc lạ kỳ, khiến ta cứ mãi muốn đắm chìm trong đó. Buồn thương cho một cuộc đời suốt đời đi tìm kiếm những kì tích phi thường, đến cuối đời mới cảm nhận được niềm hạnh phúc khi sống trong cái bình thường nhất. Người đọc đồng thời thấy được tài năng viết truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: một sự trong trẻo, tinh khôi mà vẫn lan toả một sự mê hoặc của một nhà văn lớn. - Diễn đạt rõ ràng, dùng từ đặt câu đúng nghĩa, đúng ngữ pháp, đúng chính tả. – Có những sáng tạo về ý tưởng hoặc có sự độc đáo về diễn đạt. |
2,5 |
|
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,25 |
|
|
|
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. |
0,5 |
|
|
Tổng điểm |
10.0 |
||
Copyright © nguvan.online
