Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.
Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.
Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.
Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.
RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN
CÂU CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN KỂ
RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN
(Những đặc điểm trong cách kể của tác giả)
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠNG ĐỀ
- Kiểu bài: Nghị luận về 1 tác phẩm truyện. Đi sâu vào phân tích, đánh giá tính nghệ thuật của tác phẩm truyện, đặc biệt là những tìm tòi của tác giả trong cách kể câu chuyện.
- Yêu cầu:
+ Nắm vững các tri thức Ngữ văn về tác phẩm truyện đã học ở lớp 10 và được cung cấp thêm ở lớp 11 (Bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội của tác phẩm, Cảm hứng chủ đạo, Người kể chuyện, Điểm nhìn, Lời người kể chuyện và lời nhân vật, Cốt truyện, Nhân vật và mối quan hệ của các nhân vật, Chi tiết tiêu biểu, Đề tài, Chủ đề, Tư tưởng, Thông điệp, Không gian, Thời gian, Câu chuyện, Truyện kể).
+ Đặc biệt chú ý các tri thức về nghệ thuật: Điểm nhìn, Lời văn nghệ thuật, Lời người kể chuyện và lời nhân vật, Chi tiết tiêu biểu, Không gian, Thời gian.
II. TÌM HIỂU ĐỀ
1. Xác định kiểu bài: Nghị luận về 1 tác phẩm truyện (Những đặc điểm trong cách kể của tác giả)
2. Nội dung trọng tâm: các phương diện nghệ thuật của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu phân tích (Nghệ thuật sáng tạo tình huống, Nghệ thuật xây dựng cốt truyện; Nét đặc sắc của hình tượng người kể chuyện; Cách tổ chức trần thuật, lời văn và giọng điệu, Nghệ thuật tự sự nói chung, …)
3. Phạm vi tư liệu dẫn chứng: tác phẩm truyện cần nghị luận và 1 số tác phẩm để liên hệ, so sánh (nếu có).
III. DÀN Ý CHUNG
1. Mở bài
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề
2. Thân bài
- Giới thiệu khái quát các phương diện nghệ thuật của tác phẩm mà bài viết sẽ đi sâu phân tích
- Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
+ Nghệ thuật sáng tạo tình huống
+ Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
+ Nét đặc sắc của hình tượng người kể chuyện
+ Cách tổ chức trần thuật, lời văn và giọng điệu,…
- Đánh giá:
+ Đánh giá về các phương diện nghệ thuật trong việc góp phần làm nên vẻ đẹp của tác phẩm
+ Đánh giá về tài năng và phong cách của nhà văn
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của tác phẩm
IV. GỢI Ý CÁCH LÀM CÁC DẠNG ĐỀ CỤ THỂ
Dạng 1.
PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN
a. Ví dụ:
- Phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.
b. Gợi ý cách làm
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (nếu đề yêu cầu).
- Giới thiệu yếu tố cần nghị luận: nghệ thuật xây dựng tình huống truyện cần phân tích.
2. Thân bài:
*Luận điểm 1: Giới thiệu chung về tình huống (khái niệm tình huống, vai trò của tình huống,..)
- Tình huống: là sự kiện xảy ra trong truyện dẫn đến những đột biến trong câu chuyện, làm bộc lộ những nét bản chất của đời sống và của nhân vật, đồng thời thể hiện rõ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
- Vai trò của tình huống:
+ Đối với cốt truyện (có vai trò thúc đẩy cốt truyện)
+ Đối với nhân vật (góp phần giúp nhân vật bộc lộ tính cách, tâm lý, cảm xúc)
+ Đối với chủ đề tư tưởng (Khắc họa chủ đề, tư tưởng)
*Luận điểm 2: Tái hiện tình huống của truyện cần phân tích
+ Gọi tên tình huống truyện
+ Dựng lại tình huống truyện 1 cách ngắn gọn
*Luận điểm 3: Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của tác giả
Một số cách xây dựng tình huống thường gặp:
+ Đặt nhân vật vào trong 1 ngữ cảnh đặc biệt, éo le, làm môi trường cho nhân vật hoạt động, qua đó bộc lộ phẩm chất, tính cách.
+ Đẩy nhân vật vào một tình thế thử thách, phải giải quyết bằng hành động (tình huống hành động).
+ Đặt nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh biến động trong thế giới tình cảm (tình huống tâm trạng).
+ Đặt nhân vật rơi vào một tình thế khiến nhân vật giác ngộ, vỡ lẽ, thức tỉnh (tình huống nhận thức)
+ Ngoài việc sáng tạo ra tình huống đặc sắc, nhà văn còn tổ chức để diễn biến tình huống trở nên hấp dẫn nhờ các yếu tố tổng hợp như: ngữ cảnh, lời văn, bố cục, kết cấu,…
*Luận điểm 4: Đánh giá
+ Đánh giá chung về tình huống
+ Đánh giá về tài năng, tư tưởng, tình cảm của nhà văn
3. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của tình huống
- Nêu cảm xúc người viết, mở rộng vấn đề
Dạng 2.
PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN
a. Ví dụ:
- Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Tràng (người vợ nhặt, bà cụ Tứ) trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.
- Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật Chí Phèo (thị Nở) trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
b. Gợi ý cách làm:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (nếu đề yêu cầu).
- Giới thiệu yếu tố cần nghị luận: nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cần phân tích.
Lưu ý:
- Mở bài cần ngắn gọn nên không yêu cầu bắt buộc phải giới thiệu đầy đủ, lần lượt, chi tiết các yếu tố ngoài văn bản như trên.
- Có thể xuất phát từ 1 góc độ để dẫn dắt.
Nên sáng tạo các cách mở bài như:
+ Xuất phát từ 1 nhận định về tác giả, tác phẩm
+ Xuất phát từ 1 nhận định về thể loại
+ Xuất phát từ 1 nhận định về đề tài
+ So sánh với 1 tác giả, 1 nhân vật khác
2. Thân bài:
*Luận điểm 1: Cảm nhận chung, ngắn gọn về nhân vật (Số phận, cuộc đời, Ngoại hình, Tài năng, Tâm hồn, tính cách)
*Luận điểm 2: Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
Một số cách xây dựng nhân vật thường gặp:
+ Xây dựng nhân vật qua nét riêng về ngoại hình, lời thoại, hành động
+ Xây dựng nhân vật qua thế giới nội tâm
+ Đặt nhân vật vào tình huống đặc biệt
+ Xây dựng nhân vật bằng bút pháp: tả thực hoặc lí tưởng hóa…
*Luận điểm 3: Đánh giá
+ Ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
+ Tài năng nghệ thuật, tấm lòng của nhà văn
3. Kết bài:
- Khẳng định sức sống của nhân vật trong lòng độc giả
- Nêu cảm xúc người viết, mở rộng vấn đề
Dạng 3.
PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN
a. Ví dụ:
- Phân tích đặc điểm, vai trò, chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân).
- Phân tích đặc điểm, vai trò, chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao).
- Phân tích đặc điểm, vai trò, chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm Cải ơi! (Nguyễn Ngọc Tư).
b. Gợi ý cách làm:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (nếu đề yêu cầu).
- Giới thiệu yếu tố cần nghị luận: đặc điểm, vai trò, chức năng của người kể chuyện trong truyện cần phân tích.
2. Thân bài:
*Luận điểm 1: Cảm nhận chung, ngắn gọn về nhân vật người kể chuyện
+ Nhân vật người kể chuyện nói chung: Là 1 vai được tác giả tạo ra, đảm nhiệm việc kể lại câu chuyện trong văn bản truyện.
+ Xác định nhân vật người kể chuyện trong truyện
*Luận điểm 2: Phân tích đặc điểm, vai trò, chức năng của người kể chuyện
+ Đặc điểm: Người kể chuyện có thể là hình tượng của chính tác giả (tất nhiên không đồng nhất với tác giả ngoài đời); có thể là một người biết câu chuyện và kể lại; có thể là một nhân vật do tác giả sáng tạo ra…
+ Vai trò, chức năng: Hình tượng người kể chuyện đem lại một cái nhìn, một sự đánh giá bổ sung cho tác phẩm, làm cho đời sống và con người trong tác phẩm thêm phong phú hơn.
*Luận điểm 3: Đánh giá
+ Ý nghĩa của nhân vật người kể chuyện trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
+ Tài năng nghệ thuật, tấm lòng của nhà văn
3. Kết bài:
- Nêu cảm xúc người viết, mở rộng vấn đề
Dạng 4.
PHÂN TÍCH CÁCH XÂY DỰNG TRUYỆN KỂ CỦA TÁC PHẨM TRUYỆN
a. Ví dụ:
- Phân tích cách xây dựng truyện kể của tác phẩm Vợ nhặt (Kim Lân).
- Phân tích cách xây dựng truyện kể của tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao).
- Phân tích cách xây dựng truyện kể của tác phẩm Cải ơi! (Nguyễn Ngọc Tư).
b. Gợi ý cách làm:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích (nếu đề yêu cầu).
- Giới thiệu yếu tố cần nghị luận: cách xây dựng truyện kể trong truyện cần phân tích.
2. Thân bài:
*Luận điểm 1: Cảm nhận chung về cách xây dựng truyện kể trong tác phẩm truyện
- Truyện kể: là cách câu chuyện được kể như thế nào. Nó bao gồm các sự kiện được tổ chức theo mạch kể của văn bản tự sự, gắn liền với vai trò của người kể chuyện, hệ thống điểm nhìn và lớp lời văn nghệ thuật.
*Luận điểm 2: Phân tích những nét đặc sắc trong cách xây dựng truyện kể
Một số cách xây dựng truyện kể thường gặp:
+ Cách tổ chức hệ thống sự kiện
+ Điểm nhìn: các phương thức tổ chức điểm nhìn
+ Lời văn: từ ngữ, cấu trúc câu, nhịp điệu trần thuật,..
*Luận điểm 3: Đánh giá
+ Giá trị của cách xây dựng truyện kể trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
+ Tài năng nghệ thuật, tấm lòng của nhà văn
3. Kết bài:
- Nêu cảm xúc người viết, mở rộng vấn đề
CÂU CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN KỂ
MỞ RỘNG TRI THỨC NGỮ VĂN
I. CÁC KHÁI NIỆM CẦN NẮM VỮNG
1. Truyện ngắn hiện đại
a. Khái niệm
- Truyện ngắn là "thứ nước hoa quả cô đặc" (Sekhop), tinh chất nhưng ngọt ngào (Sekhop)
- Truyện ngắn là con đom đóm bay vụt trong đêm tối, chỉ qua một vệt sáng mà thấy được cả một bầu trời đêm mênh mông (Etspago).
- Truyện ngắn là một giọt nước, tuy bé nhỏ nhưng có khả năng phản chiếu tất cả những ảnh hình, sắc màu lung linh của cuộc sống (Nating).
- "Truyện ngắn là bàn tay siết lại thành nắm đấm" (He-minh-uê).
“Truyện ngắn (short story) là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ” (Từ điển thuật ngữ văn học)
“Tự sự (narrative) là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” (TĐTNVH)
b. Đặc điểm
- Dung lượng ngắn gọn nhưng nội dung có khả năng bao trùm hầu hết các phương diện đời sống.
- Thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người.
- Thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, cốt truyện thường diễn ra trong một thời gian và không gian hạn chế.
- Kết cấu thường không chia nhiều tầng, nhiều tuyến, bút pháp thường chấm phá, chi tiết chắt lọc, cô đúc để tạo chiều sâu cho tác phẩm.
c. Phân biệt
- Phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết
- Phân biệt truyện ngắn hiện đại với truyện ngắn trung đại, truyện kể dân gian (truyện cười, truyện cổ tích, …).
2. Câu chuyện và truyện kể
- Câu chuyện: là nội dung của tác phẩm tự sự bao gồm nhân vật, bối cảnh và sự kiện được sắc xếp theo trật tự thời gian.
- Truyện kể: là cách câu chuyện được kể như thế nào. Nó bao gồm các sự kiện được tổ chức theo mạch kể của văn bản tự sự, gắn liền với vai trò của người kể chuyện, hệ thống điểm nhìn và lớp lời văn nghệ thuật.
3. Người kể chuyện
- Là 1 vai được tác giả tạo ra, đảm nhiệm việc kể lại câu chuyện trong văn bản truyện.
- Người kể chuyện có thể là hình tượng của chính tác giả (tất nhiên không đồng nhất với tác giả ngoài đời); có thể là một người biết câu chuyện và kể lại; có thể là một nhân vật do tác giả sáng tạo ra…
- Hình tượng người kể chuyện đem lại một cái nhìn, một sự đánh giá bổ sung cho tác phẩm, làm cho đời sống và con người trong tác phẩm thêm phong phú hơn.
4. Điểm nhìn trong truyện kể
- Một số nhận định:
+ “Điểm nhìn nghệ thuật là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, hơn thế nữa là một cấu trúc tiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể và văn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn" (Nguyễn Thái Hòa, Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và và điểm nhìn trong nghệ thuật trong truyện)
+ "Điểm nhìn là vị trí, xuất phát điểm mà từ đó hiện thực được quan sát và kể lại" (Nguyễn Thị Thu Thủy, Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể)
+ “Điểm nhìn nghệ thuật trong tự sự là vị trí, chỗ đứng nhất định để nhìn nhận, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng ...và sau đó kể, miêu tả, thể hiện chúng bằng hình thức của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ” (Nguyễn Thị Hoài An, luận án tiến sĩ)
- Khái niệm: Điểm nhìn là vị trí từ đó người trần thuật quan sát và trần thuật, miêu tả, đánh giá trong tác phẩm.
- Các loại điểm nhìn:
Nếu xét theo góc độ quan sát:
+ Điểm nhìn không gian: nhìn xa, gần, trên, dưới, lệch, thẳng,…
+ Điểm nhìn thời gian: nhìn từ hiện tại, quá khứ, tương lai
+ Điểm nhìn quang học: nhìn hoàn toàn khách quan
+ Điểm nhìn tâm lí: nhìn theo tầm mắt, tâm trạng của nhân vật
+ Điểm nhìn văn hóa: nhìn theo mô hình hoặc quan niệm văn hóa chung nào đó.
+ Điểm nhìn tư tưởng: nhìn theo lập trường, quan điểm có tính giai cấp, xã hội rõ rệt.
Nếu xét theo vai người quan sát:
+ Điểm nhìn của người kể chuyện
+ Điểm nhìn của nhân vật
- Mỗi câu chuyện có thể có 1 điểm nhìn thấu suốt, gắn liền với 1 quan điểm, 1 cách đánh giá; có thể có nhiêu điểm nhìn gắn với nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
5. Lời người kể chuyện và lời nhân vật
- Lời văn nghệ thuật là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học, bao gồm các dạng: lời thơ, lời trần thuật, lời nhân vật, lời thoại,… Thành phần cơ bản của lời văn trần thuật là lời gián tiếp (của người kể chuyện) và lời trực tiếp (của nhân vật) được tổ chức theo cách thức hoạt động giao tiếp (lời độc thoại, lời đối thoại)
- Lời người kể chuyện: Gắn với ngôi kể, điểm nhìn, ý thức, giọng điệu của người kể chuyện, có chức năng miêu tả, trân thuật, phán đoán, đánh giá đối với đối tượng đượ miểu tả, trần thuật cũng như định hướng việc hình dung, theo dõi mạch kể của người đọc.
- Lời nhân vật: ngôn ngữ của chính nhân vật, độc thoại hay đối thoại gắn liến với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật.
- Lời người kể chuyện và lời nhân vật có khả năng kết nối, cộng hưởng, giao thoa tạo nên 1 số hiện tượng đặc biệt như:
+ Lời nửa trực tiếp: Lời của người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật
Ví dụ: Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rôi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Tức Thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều… (Chí Phèo)
+ Lời độc thoại nội tâm: tái hiện tiếng nói bên trong của nhân vật
Ví dụ: Hắn nghĩ bụng: “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ?...Ồ sao nó lại buồn thế nhỉ?...” (Vợ nhặt)
+ Lời nhại: mô phỏng quan điểm, ý thức của nhân vật với chủ ý mỉa mai, bông đùa
Ví dụ: Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn chỉ tâm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng… (Vợ nhặt)
6. Không gian nghệ thuật
- Không gian NT là không gian mà nhân vật sống, hồi tưởng, mơ tưởng; là không gian mà câu chuyện diễn ra
Ví dụ:
+ Không gian của truyện ngắn Vợ nhặt: Không gian chính bao trùm là xóm ngụ cư, không gian nhỏ hơn là căn nhà mẹ con Tràng sống; Ngoài ra có không gian ở cửa nhà kho nơi Trang đi xe thóc lên tỉnh
+ Không gian của truyện ngắn Chí Phèo: Không gian chính bao trùm là làng Vũ Đại, những không gian nhỏ hơn như: Nhà Bá Kiến, túp lều ven sông chỗ Chí Phèo trú ngụ, vườn chuối
7. Thời gian nghệ thuật
- Văn học miêu tả con người và cuộc sống trong 1 quá trình chứ không phải 1 khoảnh khắc như hội họa, nhiếp ảnh
+Thời gian tuyến tính
+Thời gian đa chiều
8. Chi tiết tiêu biểu:
+ Chi tiết NT: là bộ phận nhỏ nhất có ý nghĩa của tác phẩm mà nhờ bộ phận này thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện ra 1 cách sinh động và cụ thể
+ Chi tiết tiêu biểu: là chi tiết mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng
CÂU CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN KỂ
MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
ĐỀ SỐ 1. Anh/chị hãy viết bài văn ngắn phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật anh cu Lộ trong tác phẩm Tư cách mõ của nhà văn Nam Cao.
TƯ CÁCH MÕ
(Nam Cao)
Bây giờ thì hắn trở thành mõ thật rồi. Một thằng mõ đủ tư cách mõ, chẳng chịu kém một anh mõ chính tông một tí gì: cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn. Hơi thấy nhà nào lách cách mâm bát là hắn đến ngay. Hắn ngồi tít ngoài xa, ngay chỗ cổng vào. Người ta bưng cho một mình hắn một mâm. Hắn trơ tráo ngồi ăn. Ăn xong, còn thừa bao nhiêu, trộn tất cả vào, lấy lá đùm thành một đùm to bằng cái vế đùi, để đem về cho vợ, cho con. Có khi hắn còn xán đến chỗ người ta thái thịt, dỡ xôi, lấy cắp hoặc xin thêm một đùm to nữa. Hắn bỏ cả hai đùm vào cái tay nải rất to, lần đi ăn cỗ nào hắn cũng đem theo. Thế rồi một tay xách tay nải, một tay chống ba toong, hắn ra về, mặt đỏ gay vì rượu và trầu, đầy vẻ phè phỡn và hể hả… Mùa đến, hắn vác một cái đòn càn có quấn mấy sợi thừng ở một đầu, đi hết ruộng nọ đến ruộng kia:
- Mùa màng, anh em đến xin cụ lượm lúa… Mùa màng, anh em đến xin ông lượm lúa… Đến xin bà, hay thầy, hay cô lượm lúa…
Mồm hắn nói, tay hắn lượm. Hắn cứ chọn những gồi nào to nhất, mẩy nhất thì lượm. Cụ hay ông, hay bà, hay thầy, cô, bằng lòng cho hay không, cũng mặc! Mặc cho ông, bà, thầy, cô tiếc. Hạt thóc quý như hạt ngọc. Nhưng tiếc cũng chẳng làm sao được. Ai nấy đều im như thóc cả. Người ta đã nói: tham như mõ. Nếu nó không tham, sao nó làm mõ? Còn mình không lẽ mình lại keo với cả từ thằng mõ trở đi?… Hà hà! Cứ vậy là ăn câu đấy. Hắn biết thóp người ta như vậy, nên hắn lại càng làm dữ. Hết mùa rồi đến Tết. Trước Tết, hắn xách ba toong đi trước, vợ thì đội một cái thúng cái đi sau. Chúng đến từng nhà, xin mỗi nhà bát gạo. Mùng một Tết, bố con hắn xách một bao chè với năm quả cau, đến mừng tuổi các ông quan viên để kiếm cỗ ăn và kiếm tiền phong bao. Bao chè với cau của hắn, hắn đem đến rồi lại đem về: có ông nào ngu đến nỗi lấy cau, chè của hắn? Người ta thừa biết hắn chỉ có độc trọi một bao chè ấy, đem đi hết nhà này sang nhà nọ, xong mấy ngày Tết lại đem về bán lại… Thế rồi độ mùng năm, mùng sáu, vợ chồng hắn lại đi tua vòng nữa, để xin bánh chưng thừa… (…)
Người ta tưởng như ông trời đã cố ý sinh ra hắn như thế để mà làm mõ; hắn có cái cốt cách của thằng mõ ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, và là mõ ngay từ ngày mới sinh…
*
Không! Lộ sinh ra là con một ông quan viên tử tế, hẳn hoi. Và chỉ mới cách đây độ ba năm, hắn vẫn còn được gọi là anh cu Lộ. Anh cu Lộ hiền như đất. Cờ bạc không, rượu chè không, anh chỉ chăm chăm, chút chút làm để nuôi vợ, nuôi con. Bố mẹ chết cả rồi. Chị cu thì y như con mài mại: lúc nào cũng chửa. Vừa mới dạo nào, trông bụng chị to bằng cái thúng, rồi bẵng đi một dạo không gặp chị, đến lúc gặp thì bụng đã lại mây mẩy rồi. Người đàn bà mắn quá! Vườn đất hẹp. Gia sản không có gì. Anh cu Lộ chỉ độc nai lưng ra cày thuê, cuốc mướn. Nói thế, nghĩa là nhà cũng túng. Nhưng túng thì túng thật, mà bụng dạ anh ta khá. Anh chỉ làm mà ăn với nuôi vợ, nuôi con, chứ không hề ăn trộm, ăn cắp của ai. Cái sự túng làm liều, anh tịnh là không có. Nhà hàng xóm có con gà, con vịt chạy sang, hoặc buồng chuối, quả mít liền kề ngay với giậu nhà anh, anh cũng mặc thây, không hề có cái tính tắt ma, tắt mắt. Nói cho phải, thì anh cu Lộ ăn ở phân minh lắm. Bởi vậy, kẻ trên, người dưới, hàng xóm láng giềng ai cũng mến…
(Lược một đoạn: Họ đạo Lưu An xưa nay vốn cắt cử uân phiên một anh lam mõ, mỗi người ba năm. Nhưng một năm nọ, có một người vô gia cưa đến ngụ ở làng, được làng làm phúc nên anh làm mõ thay mọi người. Được 49 năm rỗi người ấy chết, chân mõ khuyết, làng không biết tìm ai. Bàn định mãi, các cụ bỗng nhớ đến anh cu Lộ, đem hết tất cả các cái lợi ra để nhử anh làm.)
Lộ bùi tai, làm vậy. Và quả nhiên, hắn làm được ít lâu thì nhà đỡ xo dụi hơn trước thật. Bởi vì hắn chăm chỉ lắm. Mấy sào vườn họ cho, hắn cuốc xới rất kĩ càng. Hắn làm ngô, làm mía được mấy vụ tốt luôn. Tiền của họ cho, hắn bỏ ra lấy khô bã cho lợn ăn. Sưu thuế không mất một đồng trinh, làm được đồng nào được cả. Làm gì không dễ chịu?
Bấy giờ những anh khác trông thấy thế mới sinh ra tiếc. Họ thấy Lộ làm sãi ngon ăn quá. Họ ngấm ngầm ghen với hắn. Và chẳng người nào bảo người nào, họ vô tình về hùa với nhau để báo thù.
Những lời tiếng mỉa mai truyền từ người nọ đến người kia. Lộ thấy những bạn bè cứ lảng dần. Những người ít tuổi hơn, nói đến hắn, cũng gọi bằng thằng. Trong những cuộc hội họp, nếu hắn có vui miệng nói chõ vào một vài câu, nhiều người đã ra vẻ khinh khỉnh, không thèm bắt chuyện… Hắn nhận thấy sự thay đổi ấy, và bắt đầu hối hận. Nhưng sự đã trót rồi, biết làm sao được nữa? Hắn tặc lưỡi và nghĩ bụng: “Tháng ba này, thằng nào thằng ấy đến ba ngày không được một bát cơm, dãi nhỏ ra, hết còn làm bộ!…” Một ý phấn khích đã bắt đầu nảy mầm trong khối óc hiền lành ấy… Một hôm, trong một đám khao, Lộ vừa chực ngồi cỗ thì ba người ngồi trước đứng cả lên. Lộ ngồi trơ lại một mình. Mặt hắn đỏ bừng lên. Hắn do dự một lúc rồi cũng phải đứng lên nốt, mặt bẽn lẽn cúi gầm xuống đất. Chủ nhà hiểu ba anh kia có ý gai ngạnh không chịu ngồi chung với mõ. Ông tìm một người khác, xếp vào cho đủ cỗ, và an ủi Lộ:
- Chú ăn sau cũng được.
Lộ ầm ừ cho xong chuyện, rồi nhân một lúc không ai để ý, lẻn ra về. Hắn tấm tức rất lâu. Trông thấy vợ, hắn cúi mặt, không dám nhìn thị, làm như thị đã rõ cái việc nhục nhã vừa rồi. Hắn thở ngắn thở dài, lắm lúc hắn muốn bỏ phắt việc, trả lại vườn cho họ đỡ tức. Nhưng nghĩ thì cũng tiếc. Hắn lại tặc lưỡi một cái, và nghĩ bụng: “Mặc chúng nó!…” Hắn chỉ định từ giờ chẳng đi ăn cỗ đám nào nữa là ổn chuyện… Nhưng khổ một nỗi, không đi, không được. Đám nào có ăn, tất nhiên chủ nhân không chịu để hắn về. Làm cỗ cho cả họ ăn còn được, có hẹp gì một cỗ cho thằng sãi? Để nó nhịn đói mà về, nó chửi thầm cho. Mà thiên hạ người ta cũng cười vào mặt, là con người bủn xỉn… Ấy, người ta cứ suy hơn, tình thiệt như vậy, mà nhất định giữ thằng sãi lại. Không ai chịu ngồi với hắn, thì hắn sẽ ngồi một mình một cỗ trong bếp, hay một chỗ nào kín đáo cho hắn ngồi…
Mới đầu, Lộ tưởng ngồi như thế, có lẽ là yên ổn đấy. Nhưng người ta tồi lắm. Người ta nhất định bêu xấu hắn. Trong nhà đám, một chỗ dù kín đáo thế nào, mà chả có người chạy qua, chạy lại. Mỗi người đi qua lại hỏi hắn một câu:
- Lộ à, mày?
Cũng có người đế thêm:
- Chà! Cỗ to đấy nhỉ? Đằng ấy hoá ra lại … bở!
A! Thế ra họ nói kháy anh cu Lộ vậy, cáu lắm. Hắn tặc lưỡi một cái và nghĩ bụng: “Muốn nói, ông cho chúng mày nói chán! Ông cần gì!…” Hắn lập tức bê cỗ về sân, đặt lên phản, ung dung ngồi. Nói thật ra, thì hắn cũng không được ung dung lắm. Tai hắn vẫn đỏ như cái hoa mào gà, và mặt hắn thì bẽn lén muốn chữa thẹn, hắn nhai nhồm nhoàm và vênh vênh nhìn người ta, ra vẻ bất cần ai. Sau cái bữa đầu, hắn thấy thế cũng chẳng sao, và bữa thứ hai đã quen quen, không ngượng nghịu gì mấy nữa. Bữa thứ ba thì quen hẳn. Muốn báo thù lại những anh đã cười hắn trước, tự hắn đi bưng lấy cỗ, và chọn lấu một cỗ thật to để các anh trông mà thèm. Bây giờ thì đến lượt người chủ không được bằng lòng. Có một mình nó ăn mà đòi một cỗ to hơn bốn người ăn!…
- Mẹ kiếp! Không trách được người ta bảo: “Tham như mõ”.
A! Họ bảo hắn là mõ vậy… Tham như mõ vậy!… Đã vậy thì hắn tham cho mà biết!… Từ đấy, không những hắn đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa. Không đem lên cho hắn thì tự hắn xông vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy. Ăn hết bao nhiêu thì hết, còn lại hắn gói đem về cho vợ con ăn, mà nếu vợ con ăn không hết, thì kho nấu lại để ăn hai ba ngày… Hà hà! Phong lưu thật!… Cho chúng nó cứ cười khoẻ đi!
Cứ vậy, hắn tiến bộ mãi trong nghề nghiệp mõ. Người ta càng khinh hắn, càng làm nhục hắn, hắn càng không biết nhục. Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để khiến người sinh đê tiện…
Bây giờ thì hắn mõ hơn cả những thằng mõ chính tông. Hắn nghĩ ra đủ cách xoay người ta. Vào một nhà nào, nếu không được vừa lòng, là ra đến ngõ, hắn chửi ngay, không ngượng:
- Mẹ! Xử bẩn cả với thằng mõ…
(Nam Cao, truyện ngắn trước 1945, NXB Văn học, 2016, tr.320-326)
HƯỚNG DẪN:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề: Phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật anh cu Lộ trong tác phẩm Tư cách mõ của nhà văn Nam Cao
2. Thân bài:
- Cảm nhận chung, ngắn gọn về nhân vật
+ Vốn là người nông dân nghèo, hiền lành, chăm chỉ
+ Sau khi được làng cử làm mõ dần dà trở nên tha hóa
- Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
+ Xây dựng nhân vật qua điểm nhìn thời gian từ hiện tại trở về quá khứ rồi trở lại thực tại cho thấy quá trình thay đổi, tha hóa về bản chất của nhân vật
+ Đặt nhân vật vào tình huống đặc biệt: làm mõ, một nghề bị coi khinh, rẻ rúng trong xã hội đương thời. Nhân vật buộc phải lựa chọn giữa coi thường vật chất để giữ sạch nhân tâm hoặc tham lam vật chất mà bán rẻ tư cách.
+ Xây dựng nhân vật bằng bút pháp tả thực
+ Lời văn sinh động, đặc biệt là sự giao thoa giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật tạo nên hiện tượng đa thanh
- Đánh giá
+ Ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm:
Qua nhân vật anh cu Lộ, tác giả thể hiện cái nhìn đa chiều về sự tha hóa nhân cách của con người trong xã hội cũ: con người tha hóa do hoàn cảnh bên ngoài tác động, nhưng cũng do lòng tham, do tư cách, do thiếu bản lĩnh
+ Tài năng nghệ thuật, tấm lòng của nhà văn
ĐỀ SỐ 2. Anh/chị hãy viết bài văn ngắn phân tích nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Chiếc ấm sứt vòi (Trần Đức Tiến)
CHUYỆN CHIẾC ẤM SỨT VÒI
( Trần Đức Tiến)
Trong quán nước bên đường, có một cái ấm pha trà đã cũ. Vòi ấm bị sứt một miếng nhỏ. Chủ quán mấy lần định thay, nhưng vì chưa có tiền nên cứ để dùng tạm. Và lại trông thế nhưng ấm còn tốt chán. Bản thân chiếc ấm như cũng hiểu được hoàn cảnh của ông chủ. Nó tự nhủ: mình đã bị khuyết tật thì phải cố làm việc cho tốt. Thế là ấm luôn chú ý giữ cho mình sạch sẽ. Nó hãm trà bằng nước sôi thật khéo, bao giờ trà cũng vừa chín và tỏa hương thơm phức. Khi rót trà ra chén, qua cái vòi bị sứt, nó cẩn thận không để nước rớt ra ngoài.
Cái ấm có phần hơi xấu xí ấy cứ tận tình phục vụ khách hết ngày này qua ngày khác. Lâu dần thành quen, ai vào quán cúng chỉ muốn dùng trà trong cái ấm sứt vòi. Mùa đông, có người pha trà xong, còn khum khum hai lòng bàn tay ôm lấy chiếc ấm thật lâu.
Một hôm, bỗng có một vị khách từ nơi xa đến. Nhìn thấy chiếc ấm hơi khác thường, ông ta nhấc lên, chăm chú ngắm nghía hồi lâu. Đoạn cất tiếng nói với chủ quán:
- Ấm quý! Nếu ông bằng lòng để lại cho tôi, tôi sẽ trả cho ông thật hậu.
- Dào ôi! Bác khéo đùa! – ông chủ nhìn khách nở nụ cười thật thà- Chẳng qua chỉ là cái ấm sứ bình thường, do vô ý tôi đánh mẻ ở vòi. Quán nghèo nên mới phải để dùng tạm…
- Ông bảo ấm bình thường à? Ba trăm năm mà bình thường à?
- Bác vừa nói gì cơ?
- Tôi bảo cái ấm này đã ra đời cách đây ba thế kỉ. Nếu tính tuổi thì tôi với ông còn phải gọi ấm là cụ tổ của cụ tổ đấy! Tóm lại là đồ cổ, quý hiếm cực kì.
Nghe giọng nói quả quyết của ông khách, cái ấm suýt rùng mình. Thiếu bản lĩnh một chút thì nó đã để cho nước sôi trào ra miệng. Nhưng nó kịp trấn tĩnh. Không ai tự biết mình bằng mình, ấm nghĩ thầm. Nó biết nó ra đời ở một cái lò gốm sứ ven song, chỉ mới cách đây hơn chục năm. Cái ông khách tưởng như sành đồ cổ kia, hóa ra nhìn gà hóa cuốc.
- Thế nào? Ông để lại cho tôi chiếc ấm này chứ?
Chủ quán ngần ngừ, nhìn chiếc ấm như muốn nói: “người ta tha thiết như thế, ngươi tính sao”?
Chiếc ấm im lặng. Nó không nói được, tất nhiên rồi. Đất có nung thành sứ thì cũng chả cất nên lời. Nhưng ấm biết suy nghĩ. Và ông chủ hiểu được những suy nghĩ của nó. Chính vì thế mà ông ngẩng lên nói với khách:
- Nó không đồng ý, bác ạ. Nó biết sứ mệnh cao quý của nó là biến những cái búp trà thành thứ nước uống tuyệt vời, như tất cả những cái ấm lão luyện khác. Bao nhiêu năm nay, nó đã tận tụy phục vụ khách hàng của tôi. Đến nỗi sứt mẻ cả mình mẩy mà vẫn không nề hà… Khách ở quán tôi ai cũng chuộng nó. Tôi không thể vì tiền mà phụ nó được.
Vậy là cái ấm sứt vòi vẫn được ở lại trong cái quán nước nghèo, làm cái công việc sở trường của nó là pha trà. Đôi khi nó nghĩ: May mà ông chủ quán không tham! Nếu không thì vị khách gà mờ kia đã mất oan cả đống tiền. Còn nó, dù được trưng bày trong tủ kính, hay quăng quật mua đi bán lại, sao cũng đến lúc than phận bị lộ tẩy. Tưởng ba trăm năm, hóa ra có mười năm… Lúc ấy thì xấu hổ chết đi được!
Có hôm nào ghé quán nước nhìn thấy chiếc ấm ấy, bạn hãy tưởng tượng them những câu chuện thú vị về nó nhé. Tôi cam đoan chiếc ấm sứt vòi nào cũng chứa trong mình khối chuyện lí thú, có khi cả chuyện cổ tích nữa ấy chứ!
(Nguồn: http://www.baobariavungtau.com.vn )
*Trần Đức Tiến sinh ngày 2/5/1953, quê ở tỉnh Hà Nam, sống và làm việc ở Hà Nội từ 1970 đến 1986. Cuối 1986, ông chuyển vào sống ở Vũng Tàu cho đến nay. Ông không chỉ ở những sáng tác dành cho người lớn mà còn là tác giả sung sức và nhiều thành tựu ở mảng văn học thiếu nhi.
*Tác phẩm chính: Linh hồn bị đánh cắp (tiểu thuyết, 1990), Bụi trần (tiểu thuyết, 1992), Bão đêm (tập truyện ngắn, 1993), Mười lăm năm mưa xói (tập truyện ngắn, 1997), Vương quốc vắng nụ cười (tập truyện thiếu nhi, 1993), Dế mùa thu (tập truyện thiếu nhi, 1997), Làm mèo (truyện vừa thiếu nhi, 2003), Trăng vùi trong cỏ (tập truyện thiếu nhi, 2006)…
HƯỚNG DẪN:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề: nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Chiếc ấm sứt vòi (Trần Đức Tiến)
2. Thân bài:
- Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
+ Chọn ngôi kể thứ ba: người kể chuyện không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện nhưng có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện; Do đó có khả năng miêu tả, trần thuật cả những biểu hiện nội tâm sâu kín của tất cả các nhân vật, đặc biệt xoáy sâu vào tâm trạng, suy nghĩ của cái ấm và ông chủ quán
+ Đặt nhân vật vào một lựa chọn (bán hay không bán cái ấm), từ đó bộc lộ phẩm chất, nhân cách của nhân vật
+ Cốt truyện đơn giản, văn phong nhẹ nhàng mà thấm thía
+ Đan xen lời người kể chuyện và lời nhân vật, kết hợp giữa kể, tả và biểu cảm rất linh hoạt
- Đánh giá:
+ Đánh giá về các phương diện nghệ thuật trong việc góp phần làm nên vẻ đẹp của tác phẩm: Tác phẩm giàu ý nghĩa, nhiều tầng thông điệp nhưng được chuyển tải rất nhẹ nhàng
+ Đánh giá về tài năng và phong cách của nhà văn: Nghệ thuật tự sự của truyện ngắn đã góp phần tô đậm nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Trần Đức Tiến
ĐỀ SỐ 3. Anh/chị hãy viết bài văn ngắn phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật tôi trong tác phẩm Những thiên thần còn sót lại ở trần gian của tác giả Hoàng Chính.
NHỮNG THIÊN THẦN CÒN SÓT LẠI Ở TRẦN GIAN
(Hoàng Chính*)
Chúng tôi bước dạt lên bờ cỏ để tránh một người đàn ông và một người đàn bà đi ngược chiều. Bởi từ xa tôi đã thoáng thấy người đàn bà che miệng ho. Đại dịch chưa dứt hẳn mà cả hai đều không đeo khẩu trang. Buổi sáng, trời hiu hiu gió. Lũ siêu vi trùng lởn vởn bay. Trong vạt nắng xuyên ngang khe lá, tôi thấy những vẩy bụi; những con siêu vi trùng đánh đu trên những vẩy bụi li ti ấy. Tôi tưởng tượng ra thế. Và tôi sợ. Tôi không ưa những cái máy trợ hô hấp, tôi ghét những mũi kim gài sâu vào tĩnh mạch, và nếu may mắn không bỏ mạng, thì tôi vẫn ghét những di chứng như không còn ngửi được mùi ly cà phê buổi sáng, không nếm được vị thức ăn ngon bữa tối, và mệt đuối người từ ngày này sang ngày khác. Vì vậy tôi sợ, dù tôi đã chích ngừa đầy đủ và còn thêm hai mũi tăng cường. Với chừng ấy thuốc men, nếu nhiễm bệnh, dù đã lớn tuổi nhưng tôi sẽ sống sót, tôi nghĩ thế. Nhưng tôi vẫn sợ.
Qua khỏi hai người ấy một quãng xa, chúng tôi mới bước trở lại lề đường cho người đi bộ. Vừa bước lên nền gạch, con bé níu những ngón tay tôi, kéo tôi lên thềm đậu xe trước cửa nhà người lạ, khom người cúi xuống nhìn người đàn ông nằm ngửa dưới gầm chiếc xe màu trắng, đang cặm cụi vặn những con ốc.
“Are you okay?” Con bé hỏi.
Người đàn ông nằm dưới gầm xe ngưng tay vặn, cái mặt lem luốc vết dầu nhớt xoay qua nhìn con bé. Một vạt nắng từ cành phong bên đường thả xuống, vắt ngang cái đầu bù xù, nhuộm mái tóc một màu nâu thẫm. Con bé gỡ tay tôi ra, ngồi thụp xuống, lặp lại câu hỏi, “Are you okay?” bằng giọng rất trẻ thơ nhưng vô cùng tha thiết. Cử chỉ và câu hỏi bất ngờ của con bé cháu ngoại tôi làm tôi vừa ngỡ ngàng vừa bối rối.
Trong khoảng nhá nhem dưới gầm xe, nụ cười méo mó hé nở trên khuôn mặt người đàn ông. Nhưng ông ta không nói được bởi môi ông ta đang mím chặt một cái đinh ốc.
Tôi đặt tay lên vai con bé, “Ông ấy không sao đâu, con ạ. He’s okay.”
“Ông ấy kẹt dưới chiếc xe,” con bé lắc đầu, đôi mắt đen nhánh ánh nhìn lo âu.
“Ồ, không,” tôi nói vội. “Ông ấy không sao đâu.”
Người đàn ông tóc nâu luồn cánh tay dưới cái khoảng chật hẹp, đưa bàn tay có những ngón tay nắm lại và ngón cái duỗi ra. Đầu ông ta khẽ gật gù.
“Đấy, con thấy không, ông ấy ra dấu là ông ấy okay.” Tôi nói với con bé và cũng đủ để người đàn ông dưới gầm chiếc xe Toyota nghe được.
Con bé “Ô!” nho nhỏ cùng với tiếng thở ra nhẹ nhàng. Và nó nhoẻn miệng cười.
Bỗng dưng tôi chột dạ như vừa nghe ai nói ra một điều không đẹp nhưng trúng tim đen mình. Và tôi bồi hồi như tình cờ gặp lại điều gì đó rất quen thân từ thuở nào xa lơ lắc. Cảm giác ấy làm tôi nghĩ ngợi. Ngày xưa tôi có tử tế và ngây thơ như thế không nhỉ. Và nếu có thì tôi đã đánh mất sự tử tế ấy từ lúc nào?
Vừa tròn ba tuổi (hôm qua sinh nhật nó), cháu ngoại tôi tâm hồn còn trong vắt, bụi đời chưa phủ mờ nên nó còn nhìn ra được những con người. Còn tôi, ông ngoại con bé, thì bụi bặm, nhọ nồi bịt kín tâm hồn, không còn nhìn xa được, chỉ loanh quanh với cái bóng của chính mình; và nhân loại chung quanh, nếu như tôi có thể nhìn ra thì cũng chỉ là những bóng mờ.
Tôi hít một hơi dài, xua vội đi những ý nghĩ lẩn quẩn trong đầu. Chạm nhẹ những ngón tay lên vai con bé, tôi bảo, “Ông ấy không sao đâu. Xe bị hư, ông ấy chui bên dưới để sửa.” Tôi nói câu dài, con bé chắc chỉ hiểu một phần. Nhưng nó nhùng nhằng không muốn bước đi.
“Thôi mình đi, cháu ơi,” tôi cầm lấy bàn tay bé bỏng của con bé. “Ông ấy okay.”
Và tôi dợm bước. Cháu ngoại tôi bước theo, nhưng bỗng dưng nó sựng lại, gỡ tay tôi ra, quay lại khom người nói với người đàn ông dưới gầm xe, “Have a nice day!” bằng giọng ân cần và trong như tiếng hót của một loài chim lạ.
Người đàn ông lại ra dấu bằng ngón tay cái duỗi và những ngón kia nắm lại.
Chúng tôi lại rảo bước trên lề đường dành cho người đi bộ. Con bé nhún nhảy trên những đốm nắng dập dìu vẽ trên mặt đường như chơi nhảy lò cò. Thường ngày, nó vẫn rủ tôi chơi lò cò trên sân nắng và bao giờ tôi cũng hăng hái làm theo dù hai đầu gối thỉnh thoảng lại nhói đau. Hôm nay tôi không nhảy theo nó, bởi đầu óc tôi bận rộn. Con bé làm tôi giật mình.[…]
Chập tối, khi tiễn chân tôi ra cửa, con bé níu tôi lại. Tôi ngồi xuống, nó kề tai tôi, hỏi nhỏ, “Grandpa, are you sure he’s okay?”
“Ai hở con?”
“Người đàn ông bên dưới chiếc xe.”
Tôi ngập ngừng, “Ông ấy… ông ấy okay, con à.”
Tôi lại nói dối. Tôi lại không thành thật như cháu ngoại tôi. Tôi biết người đàn ông ấy không okay. Nhưng tôi vẫn bảo cháu tôi là ông ấy okay. Và hai con mắt trẻ thơ lại thắp sáng cơn vui.
Hồi trưa, xe cứu thương hú còi vang dội và chớp đèn lập lòe khu xóm. Lối xóm xì xào với nhau là người đàn ông tiếc tiền, không đem xe ra tiệm mà tự sửa ở nhà. Cây trục sắt – mà ông ta dùng để nâng chiếc xe rồi chui xuống gầm để sửa gì đó – bị gẫy. Người ta phải dùng cần trục nâng chiếc Toyota lên mới kéo ông ta ra được. Thương tích không rõ nặng nhẹ ra sao nhưng chắc chắn ông ta sẽ phải nằm bệnh viện ít lâu.
Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu tôi. Tôi ôm con bé, nói nhỏ vào tai nó, “Ngày mai ông cháu mình sẽ đi thăm ông ta, chịu không?”
Con bé reo lên, “Thank you, Grandpa!” Và ôm chầm lấy ông ngoại, hôn ghì lên gò má nhăn nheo. […]
Thế nhưng ngày hôm sau, cái hôm hai ông cháu dự tính đi thăm bệnh, năn nỉ mãi người ta vẫn không cho tôi dẫn con bé vào thăm người đàn ông sửa xe không quen mà chúng tôi gặp ở cuối con phố. Người ta bảo trước hết bệnh viện cấm trẻ nhỏ vào thăm, thứ hai đại dịch chưa hết hẳn nên không cho thăm viếng.
Chuyến viếng thăm của hai ông cháu tôi trở thành khúc phim tôi tưởng tượng trong đầu.
Người đàn ông nửa nằm nửa ngồi trên giường, vành băng bột quấn quanh cổ vòng lên đầu thành ra ông ta không gật đầu hay lắc đầu được. Lúc đứng bên giường người đàn ông ấy trong bệnh viện, cháu ngoại tôi chạm nhẹ vào vành băng vải, và lại hỏi, “Are you okay?” Tôi không kịp kéo tay con bé lại. Tôi thấy những con vi trùng, vô số vi trùng, nhưng con bé thì chẳng thấy con vi trùng nào; nó chỉ thấy những vòng băng vải màu trắng quấn quanh cổ và đầu người đàn ông, và nghĩ chắc ông ta đau đớn lắm. Nó lặp lại câu hỏi bằng giọng hót của loài chim, “Are you okay?” Người đàn ông chớp mắt, đưa tay cầm lấy bàn tay bé bỏng của con bé, nói nhỏ, “I’m okay. You’re an Angel, sweetie!”
“Ông ấy nói vậy thật hả ngoại?” Con bé hỏi sau khi nghe tôi kể khúc phim giả tưởng hai ông cháu đi thăm người bệnh. Tôi hăng hái gật đầu. Dù cái cổ tôi có sượng lại ít nhiều khi biết chắc mình đang nói ra những điều không thật.
“Mai mốt gặp ông ấy, ông ngoại nói…” con bé ngập ngừng.
Tôi hỏi vội, “Gì hở con?”
“Nói với ông ấy, con không phải thiên thần, con chỉ là a little girl.”
Tôi gật đầu liên tục. Tôi hứa tôi sẽ chuyển lời con bé đến người đàn ông xa lạ. Tôi nói dối, tôi hứa cuội. Bởi sáng hôm ấy khi chiếc trụ chống chiếc xe bị gẫy, chiếc xe đổ sụp xuống, không một ai hay biết. Mãi đến khi có người phát hiện ra, gọi xe cấp cứu thì đã muộn mất rồi. Tin tức trên truyền hình nói thế. Cháu ngoại tôi không được xem ti vi. Bố mẹ nó không muốn đầu óc nó bị vẩn đục. Bố mẹ nó muốn che chở cho nó được chừng nào hay chừng nấy. Bởi con bé là thiên thần, một trong những thiên thần còn sót lại thế gian này.
Bước xuống bậc thềm, tôi quay lại hôn gió cháu ngoại tôi thêm một lần rồi đeo cái khẩu trang lên mặt. Toan bước ra xe, tôi vội lùi lại. Ba bóng người rảo bước trên lề đường cho người đi bộ qua chỗ tôi đậu xe. Tôi chờ cho họ đi qua. Bao lâu cũng được nhưng tôi sẽ chờ.
Đại dịch đã giảm nhưng lại có thêm những biến chủng mới. Biết đâu đấy!
(Nguồn: https://tonvinhvanhoadoc.net/ )
*Nhà văn Hoàng Chính: Quê quán Hải Phòng. Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn năm 1978. Định cư tại Canada từ năm 1983. Đã xuất bản một tập thơ và mười một tập văn xuôi trong số đó có truyện dài “Thư Tình Viết Muộn” in tại Việt Nam năm 2012. (Nhà văn Võ Thị Xuân Hà biên tập). Là một trong hai dịch giả bộ truyện “Ngôi nhà nhỏ trong thảo nguyên”, NXB Kim Đồng. Cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí văn học ở hải ngoại. Hiện là thông dịch viên tòa án liên bang Canada.
HƯỚNG DẪN:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề
2. Thân bài:
- Cảm nhận chung, ngắn gọn về nhân vật tôi
+ Tuổi già, nhiều trải nghiệm cuộc sống, giàu suy tư
+ Sợ hãi dịch bệnh, luôn cẩn thận, giữ gìn khi tiếp xúc
+ Thờ ơ trước vấn đề của người khác, tính toán, lo sợ, dối lòng vì mình
+ Day dứt, suy tư trong ý nghĩ, nhận thức nhưng không hành động để đem yêu thương, sự quan tâm đến người khác
- Những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật tôi:
+ Lựa chọn ngôi kể thứ nhất, với điểm nhìn trần thuật tham dự khiến câu chuyện hiện lên rất chân thực, gần gũi, cảm xúc được bộc bạch trực tiếp, sinh động.
+ Xây dựng nhân vật tôi qua nét riêng về lời thoại, hành động
+ Đặt nhân vật tôi vào tình huống đặc biệt từ đó bộc lộ nội tâm, tâm trạng
+ Ngôn từ giản dị, hiện đại, mang đậm hơi thở cuộc sống
- Đánh giá
+ Ý nghĩa của nhân vật tôi trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm: Ngợi ca những con người hiếm hoi trong cuộc sống hiện đại có tâm hồn thánh thiện, trong sáng, đã yêu thương, quan tâm, giúp đỡ không tính toán với người khác. Đồng thời đặt ra vấn đề về sự thơ ơ, vô cảm, chỉ biết đến sự yên ổn của bản thân mà đôi khi vô tình gây ra tội ác với người khác.
+ Tài năng nghệ thuật, tấm lòng của nhà văn
ĐỀ SỐ 4. Anh/chị hãy viết bài văn ngắn phân tích nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Một chuyện nhỏ (Lỗ Tấn).
MẨU CHUYỆN NHỎ
(Lỗ Tấn)
Tôi bỏ quê nhà lên Bắc Kinh thấm thoắt đã sáu năm rồi. Trong thời gian đó, những việc gọi là “quốc gia đại sự”, mắt thấy tai nghe, kể cũng không phải ít, nhưng chẳng để lại một tí dấu vết nào trong lòng tôi cả. Giá bảo tìm xem có ảnh hưởng gì đến tôi không thì phải nói, chỉ làm cho tôi càng thêm gàn dở, mà thành thực hơn thì phải nói, chỉ làm cho tôi càng thêm khinh người.
Nhưng có một việc tầm thường đối với tôi lại có ý nghĩa, khiến tôi phải bỏ tính gàn dở đi, và cho đến nay, vẫn không hề quên.
Ấy là vào mùa đông năm Dân quốc thứ 6. Gió bắc thổi mạnh lắm, nhưng vì sinh kế, vừa sáng sớm, tôi đã phải ra đường. Dọc đường, hầu như không gặp ai cả. Vất vả lắm mới thuê được một chiếc xe kéo, bảo kéo đến cửa S. Một lát, gió dịu dần. Mặt đường không còn một hạt bụi, sạch bóng, trắng xóa. Anh xe chạy càng nhanh. Gần đến cửa S, bỗng một người nào vướng phải càng xe, rồi ngã dần dần xuống.
Đó là một người đàn bà, tóc hoa râm, áo quần rách rưới. Bà ta từ bên kia lề đường thình lình chạy qua chiếc xe, anh xe đã tránh rồi, nhưng cái áo bông bà ta không cài khuy, gió thổi lật lên, vướng vào càng xe. May mà anh xe đã bước chậm lại rồi, không thì đã ngã lộn nhào đến vỡ đầu mất!
Bà ta vẫn nằm phục dưới đất, anh xe cũng vừa dừng lại. Tôi đoán bà ta chẳng bị thương tích gì, vả cũng không có trông thấy. Tôi trách anh xe đến đa sự, tự chuốc lấy việc lôi thôi vào mình làm tôi phải đi trễ.
Tôi nói:
– Không việc gì đâu mà! Kéo đi thôi!
Anh xe chẳng để ý lời tôi nói, hoặc giả không nghe thấy chăng, cứ đặt xe xuống, đi lại dìu bà kia dậy, đỡ lấy cánh tay cho bà ta đứng vững, rồi hỏi:
– Có làm sao không?
– Ngã đau lắm.
Tôi nghĩ bụng: “Chính mắt tôi trông thấy bà ta ngã dần xuống kia mà, làm sao lại có thể đau được! Chỉ được cái làm bộ thôi. Thật đáng ghét. Còn anh, cũng đa sự, tự chuốc lấy phiền não vào thân, bây giờ mặc kệ anh, anh xoay sở lấy”.
Anh xe nghe bà kia nói thế, nhưng không chần chừ tí nào, vẫn đỡ lấy cánh tay bà ta, dìu đi từng bước một về phía trước. Tôi hơi lấy làm ngạc nhiên, vội nhìn về phía trước. Thì ra, phía trước là một cái đồn cảnh sát. Sau trận gió lớn, không thấy ai đứng gác ở ngoài. Chính anh xe đang dìu bà đi tới cổng cái đồn ấy.
Lúc bấy giờ, tôi vụt có một cảm giác rất lạ: cái bóng anh xe, người đầy cát bụi kia, nhìn từ phía sau, bỗng to dần ra. Anh càng bước tới, cái bóng càng to thêm, phải ngước lên mới nhìn thấy được, và dần dần cơ hồ biến thành một sức nặng đè lên người tôi đến nỗi làm cho cái “thằng tôi nhỏ nhen”, che giấu dưới lần áo da, như muốn lòi ra ngoài.
Sức sống của tôi lúc đó chừng như ngừng trệ lại. Tôi cứ ngồi lì trên xe không nhúc nhích, cũng không suy nghĩ, cho đến khi thấy một người cảnh sát từ trong đồn đi ra, mới bước xuống.
Người cảnh sát đến gần nói:
– Ông thuê xe khác mà đi. Anh xe này không kéo được cho ông nữa.
Không nghĩ ngợi, tôi lấy một nắm xu trong túi áo ngoài đưa cho người cảnh sát, nói:
– Bác đưa lại cho anh xe hộ tôi!
Gió lặng hẳn. Đường vẫn vắng. Tôi vừa đi vừa nghĩ, nhưng hình như lại sợ không dám nghĩ đến con người tôi. Thôi thì hẵng tạm không nói đến việc xảy ra vừa rồi, nhưng cái nắm xu kia là có ý nghĩa gì? Thưởng cho anh ta phải không? Tôi mà còn xứng đáng để thưởng cho một người như anh xe kia ư? Tôi không thể tự trả lời được.
Mẩu chuyện này, đến bây giờ, tôi thường vẫn nhớ tới, và do đó, cảm thấy đau khổ vô cùng và cố gắng suy nghĩ về con người tôi. Mấy năm lại đây, bao nhiêu chuyện văn trị, võ công (*) tôi đều quên hết, như đã quên những câu “Tử viết thi vân” hồi còn nhỏ. Duy có mẩu chuyện nhỏ này cứ hiện lên trước mắt, có lúc còn rất rõ ràng, khiến tôi hết sức xấu hổ, thúc giục tôi phải tự sửa mình, và cũng làm cho tôi càng thêm can đảm, càng thêm hy vọng.
Tháng 7 năm 1920
(Truyện ngắn Lỗ Tấn, NXB Văn học, 2000, tr.68-71)
* Lỗ Tấn (1881-1936), tên thật là Chu Chương Thọ, sinh ra tại phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn hóa lớn mà còn là nhà giáo dục lớn. Tư tưởng giáo dục quan trọng nhất của Lỗ Tấn là vấn đề lập nhân- xây dựng và đào tạo con người. Nhắc đến Lỗ Tấn, người ta vẫn nhớ đến một biểu tượng của văn học Cách mạng Trung Quốc. Ông đã dùng chính ngòi bút của mình để đẩy lùi căn bệnh thời đại. Các tác phẩm xuất sắc của ông là Nhật kí người điên (1918), Gào thét (1922), Bàng hoàng (1925), AQ chính truyện (1921),…
* Văn trị võ công: tức những chuyện quốc gia đại sự.
HƯỚNG DẪN:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề
2. Thân bài:
- Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
+ Chọn ngôi kể thứ nhất: Nhân vật tôi mang dáng dấp tác giả, là loại nhân vật vừa khách quan vừa chủ quan; trực tiếp bộc bạch nỗi lòng.
+ Đặt nhân vật rơi vào một tình thế khiến nhân vật giác ngộ, vỡ lẽ, thức tỉnh (tình huống nhận thức)
+ Cốt truyện đơn giản, văn phong nhẹ nhàng mà thấm thía
- Đánh giá:
+ Đánh giá về các phương diện nghệ thuật trong việc góp phần làm nên vẻ đẹp của tác phẩm: Tác phẩm giàu tính chiến đấu, lẩy ra được những nhược điểm sâu xa trong mỗi người là lòng ích kỉ, sự vô cảm, thờ ơ,.. để con người tự nhận thức và sửa chữa
+ Đánh giá về tài năng và phong cách của nhà văn: Nghệ thuật tự sự của truyện ngắn đã góp phần tô đậm nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Lỗ Tấn, một nhà văn vừa truyền thống vừa hiện đại.
-------------------------- HẾT --------------------------
Copyright © nguvan.online
