Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.
Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.
Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.
Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.
|
ĐỀ 1 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. Đọc - hiểu (6.0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học các kĩ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế, xã hội và thiên nhiên. Đặc biệt là với lứa tuổi dậy thì, khi các em bước vào giai đoạn khủng hoảng lứa tuổi quan trọng của cuộc đời. Từ những phân tích trên cho thấy, tuổi trẻ hiện nay phải tự đương đầu với nhiều vấn đề tâm lí xã hội phức tạp trong cuộc sống. Ngoài kiến thức, mỗi học sinh đều cần trang bị cho mình những kĩ năng để ngày càng hoàn thiện bản thân và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học là giúp các em có khả năng: Làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng; mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn... Những người có kĩ năng sống là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc. Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính họ. Các cá nhân thiếu kĩ năng sống là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Giáo dục kĩ năng sống có thể thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và do vậy sẽ làm giảm bớt tệ nạn xã hội. Kĩ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề về sức khỏe, xã hội và bảo vệ quyền con người. Giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội hiện đại.
(Trích “Cẩm nang Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.9)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định vấn đề nghị luận của ngữ liệu trên?
Câu 2 (0.5 điểm). Theo ngữ liệu, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học nhằm hướng tới mục tiêu nào?
Câu 3 (1.0 điểm). Chỉ ra và gọi tên 02 (hai) phép liên kết trong ba câu văn sau: Những người có kĩ năng sống là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc. Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính họ. Các cá nhân thiếu kĩ năng sống là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội.
Câu 4 (1.0 điểm). Tại sao tác giả lại cho rằng: "Giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hôi hiện đại"?
Câu 5 (1.0 điểm). Tác giả đã gửi gắm những thông điệp gì qua ngữ liệu trên? Thông điệp nào có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao?
Phần II. Viết (4.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm). Từ nội dung ngữ liệu phần đọc - hiểu, kết hợp với hiểu biết xã hội, em hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến “Rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như việc tích lũy kiến thức”.
Câu 2. Em hãy phân tích bài thơ “Hành quân giữa rừng xuân” của Lê Anh Xuân
HÀNH QUÂN GIỮA RỪNG XUÂN
Rừng xa vọng tiếng chim gù,
Ngân nga tiếng suối, vi vu gió ngàn.
Mùa xuân đẫm lá nguỵ trang,
Đường ra tiền tuyến nở vàng hoa mai.
Ba lô nặng, súng cầm tay,
Đường xa biết mấy dặm dài nhớ thương.
Giờ này mẹ ở quê hương,
Cũng chừng đang dõi theo đường ta đi.
Đêm mưa, ngày nắng sá gì,
Quân thù còn đó, ta đi chưa về.
Chim rừng thánh thót bên khe,
Nhìn lên xanh biếc bốn bề rừng xuân.
(Trích tuyển tập “Thơ Lê Anh Xuân”, NXB Giáo dục, 1981)
Tri thức ngữ văn về tác giả.
Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại quê hương Đồng Khởi - Bến Tre. Ông cũng là một chiến sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ và đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp to lớn của mình cho dân tộc. Các tác phẩm nổi tiếng: “Nhớ mưa quê hương” (1961), “Trở về quê nội” (1965), “Nguyễn Văn Trỗi” (Trường ca -1968) …
-------HẾT--------
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
I. ĐỌC HIỂU (4.0điểm)
|
Câu |
Yêu cầu cần đạt |
Điểm |
|
|
1 |
- Xác định đúng vấn đề nghị luận của ngữ liệu Vai trò/ Tầm quan trọng/ Sự cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học. |
0,5 |
|
|
2 |
- Chỉ ra đúng mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học: Theo đoạn trích, mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học là giúp các em có kĩ năng làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng; mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn... |
0,5 |
|
|
3 |
Chỉ ra và gọi tên đúng mỗi phép liên kết - Phép thế ở câu 1 và câu 2: Từ “Họ” ở câu 2 thay thế cho cụm từ “Những người có kĩ năng sống” ở câu 1. - Phép lặp ở câu 1 và câu 3: Cụm từ “kĩ năng sống” ở câu 1 được lặp lại ở câu 3. |
1,0 |
|
|
4 |
Giải thích đúng điều tác giả nói. + Vì đó là nội dung giáo dục hướng cho con người biết sống vui khỏe, làm chủ và bảo vệ chính mình. + Giáo dục kĩ năng sống còn giúp chúng ta có những suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn trong những tình huống cụ thể của cuộc sống. |
1.0 |
|
|
5 |
+ Kỹ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với tất cả mọi người, nhất là giới trẻ. + Phải có mục đích sống, có lý tưởng và có hướng đi đúng đắn. + Mỗi người cần phải làm chủ bản thân mình, có suy nghĩ tích cực, tự tin và luôn chịu khó học hỏi, tự xây dựng kỹ năng cho riêng mình. + Mỗi người cần thường xuyên trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng kĩ năng sống – kĩ năng mềm để dễ dàng thích nghi với cuộc sống hiện đại. - Chọn và lý giải đúng |
1,0 |
|
|
PHẦN VIẾT (6.0điểm) |
|
||
|
1 |
Từ nội dung ngữ liệu phần đọc – hiểu, kết hợp với hiểu biết xã hội, em hãy viết một đoạn văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến “Rèn luyện kỹ năng sống cũng quan trọng như việc tích lũy kiến thức”. |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Bày tỏ suy nghĩ về vấn đề bằng lập luận chặt chẽ với lí lẽ, dẫn chứng phù hợp, thuyết phục. Dưới đây là gợi ý triển khai: * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận * Thân đoạn: - Giải thích: Kỹ năng sống là các kỹ năng mà con người tự trang bị cho bản thân để giải quyết các vấn đề, các tình huống đặt ra trong đời sống thường nhật như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sinh tồn... Kỹ năng sống được hình thành không phải một sớm một chiều mà cần có thời gian rèn luyện, bồi đắp qua thực tế, qua việc con người tiếp xúc, hành xử hằng ngày. + Kiến thức là những hiểu biết, những tri thức được lấy từ sách vở. Để có kiến thức, mỗi người phải không ngừng tiếp thu từ sách vở, tích lũy những hiểu biết về nhiều mặt của cuộc sống + “Việc rèn luyện kỹ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức”: khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc trau dồi kỹ năng sống và tri thức, tránh lối sống lệch lạc, thiên về những kiến thức sách vở mà thiếu đi những kỹ năng đời thường. - Phân tích lí giải vấn đề: Tại sao rèn luyện kỹ năng sống cũng cần thiết như tích lũy kiến thức? Để giải quyết những tình huống trong đời sống, đạt đến những thành công trong sự nghiệp, con người không chỉ cần đến kiến thức. + Kiến thức là nền tảng hiểu biết, cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề chuyên môn. Nhưng để đối phó với những vấn đề phát sinh vô cùng phong phú của đời sống, con người cần phải trang bị cho mình những kỹ năng sống khác. Bởi vì nếu chỉ có kiến thức mà không có kĩ năng sống, con người sẽ trở nên thụ động trong những kiến thức mình có mà không thể vận dụng nó vào thực tế cuộc sống. + Trang bị nhiều kỹ năng sống giúp con người luôn bình tĩnh, chủ động, xử lí nhanh nhạy, khéo léo trong mọi tình huống; kết nối, xây dựng và duy trì những mối quan hệ tốt đẹp; hoàn thiện năng lực, tính cách, khẳng định và nâng cao giá trị bản thân để có được thiện cảm trong mắt mọi người. D/C: Chẳng hạn, trong học tập, để có thể giải quyết tốt một bài tập nhóm được giao, mỗi học sinh không chỉ cần trang bị những kiến thức nền tảng mà còn cần phải có kỹ năng làm việc nhóm, tương tác với các bạn khác trong nhóm. + Cân bằng giữa kiến thức và kỹ năng sống giúp cuộc sống con người thêm ý nghĩa và có thể tạo ra nhiều giá trị thực sự trong cuộc sống. - Phê phán những lối sống lệch lạc, chỉ chú trọng vào những kiến thức sách vở mà thiếu đi những kỹ năng sống (căn bệnh lý thuyết, căn bệnh của nhiều sinh viên khi ra trường không có kinh nghiệm giải quyết những vấn đề thực tiễn của công việc và đời sống). - Bài học nhận thức – hành động: + Nhận thức: Kỹ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với tất cả mọi người, nhất là giới trẻ. + Cách thức để trang bị kỹ năng sống: Bên cạnh thời gian dành cho học tập, tích lũy kiến thức sách vở, mỗi người cũng cần dành thời gian để tham gia các hoạt động xã hội, giao tiếp với những người xung quanh. Mỗi người cũng có thể tự trang bị kỹ năng sống bằng cách quan sát, học hỏi những điều hay, điều tốt từ những người xung quanh mình, tự trải nghiệm cuộc sống với những hoạt động như đi du lịch, tham gia các chương trình, hoạt động đoàn thể, cộng đồng. * Kết đoạn: Khẳng định việc tự trang bị kỹ năng sống là cần thiết. Câu nói đưa ra là một bài học vô cùng có ý nghĩa, đặc biệt đối với thế hệ trẻ ngày nay, khi mà những kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử dần bị coi nhẹ. |
0.25 0.5 0.5 0.25 0.25 0.25 |
||
|
2 |
Yêu cầu về kỹ năng:HS phải biết sử dụng kỹ năng làm văn nghị luận văn học để viết bài văn hoàn chỉnh; lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, rõ ràng, không mắc lỗi dùng từ, đặt câu. Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày bài viết theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo một số ý cơ bản sau đây: |
|
|
|
* Mở bài Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và nếu cảm nghĩ chung của em về bài thơ. * Thân bài 1. Đặc sắc về chủ đề văn bản: - Chủ đề: Bài thơ “Hành quân giữa rừng xuân” đã trở tiếng lòng, tâm hồn, là những cảm nhận sâu sắc của ông về cuộc đời người lính. - Phân tích chủ đề a. Hình ảnh người lính hành quân giữa rừng xanh. - Âm thanh: Tiếng chim gù, tiếng suối: Rộn rã, tươi vui - Hình ảnh: Đẫm lá ngụy trang, vàng hoa mai: Màu sắc tươi sáng, thắp lên hi vọng về ngày toàn thắng. - Biện pháp nhân hóa “ngân nga tiếng suối”, ẩn dụ “mùa xuân”: chỉ mùa xuân của tuổi trẻ, mùa xuân của đát trời, mùa xuân của non sông, “tiền tuyến nở vàng hoa mai”: tin vui thắng lợi, sao vàng tung bay. -> Thiên nhiên tươi đẹp, con người lạc quan, cùng hòa tấu tạo nên bức tranh tươi vui, rạng rỡ, tràn đầy hi vọng. Hiện ra trên trang thơ, trong lòng người đọc hôm nay vẫn còn mãi bức tranh thiên nhiên góp nhặt, nâng niu từng chi tiết với đầy đủ âm thanh, màu sắc vô cùng thi vị, quyện vào nhau làm nền cho con người trên con đường hướng về tương lai đầy rạng rỡ, thắm thiết. b. Tâm tình người lính - Hình ảnh: Ba lô trên vai, tay súng: Ý chí và tấm lòng vác cả non sông trên lưng để chiến đấu chống giặc, cứu nước. - Tâm tư: Nhớ thương, mẹ ở quê nhà: Tình yêu thăm thẳm, chất chưa nỗi nhớ, lo lắng về mẹ già của người lính => Đáng quý, đáng trân trọng. -> Biện pháp ẩn dụ, so sánh (nhớ thương dài như mấy dặm đường xa xôi) nhấn mạnh tâm hồn cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ. c. Ý chí của người lính - Hình ảnh: Đêm mưa, ngày nắng: ẩm dụ những khó khăn, vất vả của người lính trên đường đánh giặc. - Lòng quyết tâm: Quân thù còn đó, ta đi chưa về: mạnh mẽ, ý chí sắt đá, lời thề sắt son với non sông, Tổ quốc. - Hình ảnh: Chim rừng thánh thót, bốn bề rừng xuân: Niềm hân hoan nối tiếp lên đường và hi vọng thắng lợi nối liền hành trình các anh đi. + Liên hệ với hình ảnh người lính trong các bài thơ như “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật… -> Khắc họa rõ nét tinh thần của những người lính trẻ đối với tổ quốc, non sông. 2. Đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ - Thể thơ: Thể thơ lục bát với âm điệu tha thiết, sâu lắng đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc về cuộc đời người lính. - Bút pháp: Bút pháp hiện thực - bi tráng nhưng không kém phần lãng mạn. Lê Anh Xuân thật tài tình khi sử dụng những hình ảnh về núi rừng, thiên nhiên tuyệt đẹp để nói lên khát vọng mãnh liệt của lính hành quân. - Ngôn ngữ và hình ảnh thơ: + Những những chi tiết, hình ảnh tuy giản đơn, mộc mạc nhưng chứa đựng tấm lòng, tình yêu thương to lớn của tác giả dành cho người lính, quê hương, đất nước và con người Việt Nam. + Hình ảnh thơ cô đọng, mộc mạc, giản dị, chân thực song rất lãng mạn. - Ngôn ngữ thơ hàm súc, súc tích, có khi dồn nén, giàu sức biểu cảm. -> Những sáng tạo độc đáo của bài thơ tạo nên nét riêng cho phong cách thơ Lê Anh Xuân. * Kết bài - Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ. - Cảm xúc hoặc lời nhắn gửi tới mọi người. |
0.5 2.0 1.0 0.5 |
||
|
|
|
|
|
|
ĐỀ 2 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời.
(Trích Tinh hoa xử thế, Lâm Ngữ Đường, Ngữ văn 7, tập 2, NXB
Giáo dục, 2015, tr.70 – 71)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định vấn đề chính của ngữ liệu trên ?
Câu 2 (0.5 điểm). Trong đoạn văn thứ nhất, người có tính khiêm tốn có biểu hiện như nào?
Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp liệt kê được sử dụng trong đoạn văn thứ nhất?
Câu 4. (1.0 điểm) Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói sau: “Tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước nhỏ giữa đại dương bao la”.
Câu 5. (1.0 điểm) Anh/chị có đồng tình với ý kiến: Dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi? Vì sao?
Phần II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) : Từ những thông tin của văn bản phần đọc hiểu, anh / chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội (7-10 câu) bàn về “Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời”.
Câu 2 (4.0 điểm):
Em hãy phân tích bài thơ “Hành quân giữa rừng xuân” của Lê Anh Xuân
HÀNH QUÂN GIỮA RỪNG XUÂN
Rừng xa vọng tiếng chim gù,
Ngân nga tiếng suối, vi vu gió ngàn.
Mùa xuân đẫm lá nguỵ trang,
Đường ra tiền tuyến nở vàng hoa mai.
Ba lô nặng, súng cầm tay,
Đường xa biết mấy dặm dài nhớ thương.
Giờ này mẹ ở quê hương,
Cũng chừng đang dõi theo đường ta đi.
Đêm mưa, ngày nắng sá gì,
Quân thù còn đó, ta đi chưa về.
Chim rừng thánh thót bên khe,
Nhìn lên xanh biếc bốn bề rừng xuân.
(Trích tuyển tập “Thơ Lê Anh Xuân”, NXB Giáo dục, 1981)
Tri thức ngữ văn về tác giả.
Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại quê hương Đồng Khởi - Bến Tre. Ông cũng là một chiến sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ và đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp to lớn của mình cho dân tộc. Các tác phẩm nổi tiếng: “Nhớ mưa quê hương” (1961), “Trở về quê nội” (1965), “Nguyễn Văn Trỗi” (Trường ca -1968) …
Chúc các em làm bài tốt –
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
Câu |
Nội dung |
|
ĐỌC HIỂU |
|
|
1 |
- Vấn đề chính bàn về Đức tính khiêm tốn |
|
2 |
Người có tính khiêm tốn có biểu hiện: -Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. - Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa |
|
3 |
- Biện pháp liệt kê: Liệt kê các biểu hiện của khiêm tốn: tự cho mình là kém, phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, học hỏi thêm… - Tác dụng của biện pháp liệt kê: diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những biểu hiện của lòng khiêm tốn. |
|
4 |
Tài nghệ của mỗi người quan trọng nhưng hữu hạn, bé nhỏ như “những giọt nước” trong thế giới rộng lớn, mà kiến thức của loài người lại mênh mông như đại dương bao la. Vì thế cần khiêm tốn để học hỏi. |
|
5 |
-Đồng tình với quan điểm trên -Vì: + Tài năng là cái vốn có, nó chỉ thực sự phát huy khi ta có kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. + Kiến thức là đại dương, không chỉ vậy mỗi ngày lượng kiến thức mới lại có thêm. Bởi vậy chúng ta cần liên tục trau dồi để làm phong phú tri thức của bản thân. |
|
LÀM VĂN |
|
|
1 |
Triển khai vấn đề cần nghị luận Học sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ Có thể theo hướng sau: - Giải thích được Khiêm tốn là gì? (là đức tính nhã nhặn, nhún nhường, không đề cao cái mình có và luôn coi trọng người khác.); Thành công là gì? (là đạt được kết quả như mong muốn, thực hiện được mục tiêu đề ra.) ⟹ Khiêm tốn và thành công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chỉ khi bạn có lòng khiêm tốn mới đạt được thành công thực sự trên đường đời. - Bàn luận được về vai trò, ý nghĩa của sống khiêm tốn : Vai trò của lòng khiêm tốn: + Cá nhân dù có tài năng đến đâu cũng chỉ là giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Bởi vậy cần học nữa, học mãi để làm đầy, làm phong phú vốn tri thức, sự hiểu biết của bản thân. + Khi đạt được thành công bước đầu, nếu có lòng khiêm tốn, không ngừng học hỏi thêm chúng ta sẽ đạt được thành công lớn hơn, vinh quang hơn. - Ý nghĩa của lòng khiêm tốn: + Khiêm tốn là biểu hiện của con người biết nhìn xa, trông rộng. + Khiêm tốn giúp hiểu mình, hiểu người. - Rút ra được bài học cho bản thân – làm thế nào để hình thành đức tình khiêm tốn. |
|
2 |
*Yêu cầu chung: Học sinh biết cách tạo lập một bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. |
|
* Mở bài Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và nêu cảm nghĩ chung của em về bài thơ. * Thân bài Tập trung phân tích những đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của bài thơ. */ Phân tích chủ đề của bài thơ: Bài thơ “Hành quân giữa rừng xuân” thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết của những người lính ra đi bảo vệ độc lập, hòa bình cho Đất Nước. a. Bốn câu thơ đầu: Hình ảnh người lính hành quân giữa rừng xanh. - Âm thanh: Tiếng chim gù, tiếng suối: Rộn rã, tươi vui - Hình ảnh: Đẫm lá ngụy trang, vàng hoa mai: Màu sắc tươi sáng, thắp lên hi vọng về ngày toàn thắng. - Biện pháp nhân hóa “ngân nga tiếng suối”, ẩn dụ “mùa xuân”: chỉ mùa xuân của tuổi trẻ, mùa xuân của đát trời, mùa xuân của non sông, “tiền tuyến nở vàng hoa mai”: tin vui thắng lợi, sao vàng tung bay. -> Thiên nhiên tươi đẹp, con người lạc quan, cùng hòa tấu tạo nên bức tranh tươi vui, rạng rỡ, tràn đầy hi vọng. Hiện ra trên trang thơ, trong lòng người đọc hôm nay vẫn còn mãi bức tranh thiên nhiên góp nhặt, nâng niu từng chi tiết với đầy đủ âm thanh, màu sắc vô cùng thi vị, quyện vào nhau làm nền cho con người trên con đường hướng về tương lai đầy rạng rỡ, thắm thiết. b. Bốn câu thơ tiếp theo: Tâm tình người lính - Hình ảnh: Ba lô trên vai, tay súng: Ý chí và tấm lòng vác cả non sông trên lưng để chiến đấu chống giặc, cứu nước. - Tâm tư: Nhớ thương, mẹ ở quê nhà: Tình yêu thăm thẳm, chất chưa nỗi nhớ, lo lắng về mẹ già của người lính => Đáng quý, đáng trân trọng. -> Biện pháp ẩn dụ, so sánh (nhớ thương dài như mấy dặm đường xa xôi) nhấn mạnh tâm hồn cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ. c. Bốn câu còn lại: Ý chí của người lính - Hình ảnh: Đêm mưa, ngày nắng: ẩm dụ những khó khăn, vất vả của người lính trên đường đánh giặc. - Lòng quyết tâm: Quân thù còn đó, ta đi chưa về: mạnh mẽ, ý chí sắt đá, lời thề sắt son với non sông, Tổ quốc. - Hình ảnh: Chim rừng thánh thót, bốn bề rừng xuân: Niềm hân hoan nối tiếp lên đường và hi vọng thắng lợi nối liền hành trình các anh đi. + Liên hệ với hình ảnh người lính trong các bài thơ như “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật… -> Khắc họa rõ nét tinh thần của những người lính trẻ đối với tổ quốc, non sông. */ Đặc sắc nghệ thuật: Dấu ấn rõ nét, độc đáo, sáng tạo vẻ đẹp hình thức nghệ thuật bài thơ. -Thể thơ lục bát đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt. - Bút pháp hiện thực - bi tráng nhưng không kém phần lãng mạn. Lê Anh Xuân thật tài tình khi sử dụng những hình ảnh về núi rừng, thiên nhiên tuyệt đẹp để nói lên khát vọng mãnh liệt của lính hành quân. - Những những chi tiết, hình ảnh tuy giản đơn, mộc mạc nhưng chứa đựng tấm lòng, tình yêu thương to lớn của tác giả dành cho người lính, quê hương, đất nước và con người Việt Nam. - Hình ảnh thơ cô đọng, mộc mạc, giản dị, chân thực song rất lãng mạn. - Ngôn ngữ thơ hàm súc, súc tích, có khi dồn nén, giàu sức biểu cảm. -> Những sáng tạo độc đáo của bài thơ tạo nên nét riêng cho phong cách thơ Lê Anh Xuân. * Kết bài - Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ. |
|
|
*/ Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. |
|
|
*/ Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. |
|
|
ĐỀ 3 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Có những ngày muốn post cái gì đó tươi tươi cũng thấy cần nhìn trước nhìn sau. Vì xung quanh đang có những chuyện buồn, chuyện tổn thất, chuyện đau lòng. Không được cười nói khi người khác có chuyện buồn, kiểu như nhà mình cũng cần đi khẽ nói nhẹ, ngả nón chào khi hàng xóm có người qua đời, đó cũng là một trong những biểu hiện tối thiểu của sự tử tế.
Thật ra, làm người tử tể khó lắm không? Nói dễ, không dễ nhưng khó, cũng không hề là khó.
Không cần phải cổ gắng làm những điều vượt quá khả năng của bản thân, nếu đó là điều trước giờ ở nhà cha mẹ bạn chưa từng dạy qua cho bạn. Từ từ, trải qua đời sống, bạn sẽ tự rút kinh nghiệm, và mình nhận ra rằng, hình như càng có tuổi hơn, người ta dường như càng biết sống tử tế hơn thì phải. Cái đó gọi là “đời dạy”. Tuy nhiên, có những cái nhỏ nhỏ này không cần đợi đến lúc “đời dạy” mình cũng có thể làm được ngay. Ở trên xe biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mang bầu..., đi ngang đám ma biết im giọng không cười, nhìn thấy chị hàng xóm xách đồ nặng biết chạy tới xách phụ..., hay chủ động đỡ xe của một người không quen vừa té. Và những điều này cũng quan trọng không kém, khi bạn chuẩn bị comment ném đá ai đó, cân nhẳc coi comment của bạn có làm hại gì cuộc sống người ta không, để thôi, bớt làm anh hùng bàn phím chỉ để cho vui. Hay những ai giữ trong lòng ý niệm hại người, ngưng lại.
Bởi vì, làm người tử tế, nó đẹp lắm. Mỗi người tánh tình tốt xấu có đủ, âu cũng là cái tính tự nhiên, nhưng ý thức làm người tử tế nó sẽ khiến cho con người mình đẹp hơn nhiều, dẫu trời chỉ cho ta cao không tới một mét rưỡi hay chẳng có được cặp mắt hai mí to tròn, sóng mũi cao vút kiểu mấy cô mấy cậu ngôi sao Hàn Quốc. Mà chỉ cần mình thấy mình đẹp, tự nhiên mình thấy đời mình vui lên nhiều. Thì thêm được một chuyện tốt là bớt đi được một thói quen xấu mà.
(An nhiên mà sống, Lê Đỗ Quỳnh Hương, NXB Trẻ, tr. 189-191)
Câu 1. Xác định luận đề của đoạn trích trên ?
Câu 2. Tác giả đã chỉ ra những biểu hiện nào của sự tử tế mà mỗi người có thể làm được ngay?
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ có trong câu văn sau: Tuy nhiên, có những cái nhỏ nhỏ này không cần đợi đến lúc “đời dạy” mình cũng có thể làm được ngay. Ở trên xe biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mang bầu..., đi ngang đám ma biết im giọng không cười, nhìn thấy chị hàng xóm xách đồ nặng biết chạy tới xách phụ..., hay chủ động đỡ xe của một người không quen vừa té.
Câu 4. Bạn có đồng ý với nhận định của tác giả: ý thức làm người tử tế nó sẽ khiến cho con người mình đẹp hơn nhiều” không? Vì sao?
Câu 5. Em rút ra bài học gì sau khi đọc từ đoạn trích trên.
II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những việc làm tử tế trong cuộc sống.
Câu 2. (4,0 điểm) Phân tích truyện ngắn Bát phở của nhà văn Phong Điệp.
BÁT PHỞ
(Lược trích một phần: Nhân vật “tôi” đi ăn phở tại một quán phở khá ngon, có tiếng ở Hà Nội. Tôi tình cờ được chứng kiến câu chuyện của hai người cha đang đưa hai cậu con trai từ quê lên Hà Nội thi Đại học. Hai người bố sau khi đã trao đổi với nhau mất vài phút, họ củng bước vào quán phở chỗ tôi đang ngồi).
Cả bốn người họ nhìn sang tôi, nhìn sang những bàn khác, rồi tần ngần nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán.
- Phở bò nhé? Tái hay chín?
- Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé?
Hai cậu con nhè nhẹ gật đầu:
- Vâng, gì cũng được.
- Thế thì cho hai phở bò chín. Hai trứng.
Thằng nhỏ chạy bàn vo cái khăn trong tay, tần ngần nhìn bốn người, ý chừng như muốn
hỏi:
“Sao bốn người mà chỉ có hai bát?" Nó chạy ra chỗ ông chủ quán, chỏng lỏn: “Hai bò!"
... Trong tích tắc, hai bát phở sóng sánh được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn. “Chúng mày ăn đi”- Một trong hai người cha lên tiếng. Đoạn hai ông kéo xích cái ghế ra ngoài một chút, thì thầm nói chuyện với nhau. Đại loại ba cái chuyện mùa màng, bò đẻ, vải thiều sụt giá... Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chỉ mà đắt. Sáng mốt ngủ dậy, mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tẩm bánh mì, lên xe ăn tạm. Về đến quê rồi, chủng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chậc...chậc...
Cuộc sống nơi đây hẳn là khác rất xa với nơi họ vẫn sống hàng ngày, nơi mà họ đang thon thót về đợt vải năm nay, con bò sắp đẻ lại lăn đùng ra ốm. Họ chỉ vừa lên đây vài ba bữa mà đã thấy lâu quá trời quả đất. Bộ quần áo chỉn chu nhất trong tủ quần áo của hai ông bổ nông dân ấy, đều đã mang cả ra đây để mặc rồi. Những bộ quần áo không còn rõ mẫu sắc ban đầu của vải nữa. Nhưng dưới quê, chỉ có lễ trọng họ mới mặc mà thôi.
Trong khi ấy, hai cậu con vẫn cặm cụi ngồi với bát phở của mình. Chúng không nói gì. Không cả dám khen một câu đại loại: "phở ở đây ngon quả". Hàng phở này ngon thật. Tôi vốn rành ăn phở, những quán thế này không thật nhiều. Nhưng vì sao chúng không hồ hởi mà thổi ra một câu như thế?
Và tôi, không kìm nén được mình, cử hưởng sang phía bổn con người ấy. Bốn con người ngồi lặng một góc giữa cái quán ồn ã. Người cha sẽ đợi những đứa con của mình ăn đến tận thìa nước cuối cùng, rồi lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần mầu lam, cất trong ngực áo ra. Ông sẽ phải đểm một lúc cho những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để sao cho đủ ba mươi nghìn đồng, trả cho hai bát phở...
Hai cậu con trai lặng lẽ bên những người cha. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Những kì thi, những nẻo đường ngổn ngang phía trước... Hôm nay, chúng nợ cha ba mươi nghìn đồng. Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều ...
(Theo Phong Điệp, Văn học và Tuổi trẻ số tháng 5 (430-431) năm 2019,
NXB Giáo dục Việt Nam, trang 61-63)
Chú thích:
Nhà văn Phong Điệp tên thật là Phạm Thị Phong Điệp, sinh năm 1976 tại Nam Định. Truyện của Phong Điệp thường ít cảm xúc lai láng nghệ sĩ, mà tràn trề những câu văn miêu tả của người quan sát khách quan, nhẹ nhõm, dửng dưng nhưng lôi cuốn người đọc đến tận câu kết cuối cùng.
.............................Hết ......................
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I. Đọc hiểu |
|
Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc đoạn trích. |
4,0 |
|
1 |
- Luận đề : Làm người tử tế, nó đẹp lắm. |
0,5 |
|
|
2 |
- Tác giả đã chỉ ra những biểu hiện của sự tử tế mà mỗi người có thể làm được ngay: .Ở trên xe biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mang bầu..., đi ngang đám ma biết im giọng không cười, nhìn thấy chị hàng xóm xách đồ nặng biết chạy tới xách phụ..., hay chủ động đỡ xe của một người không quen vừa té. , khi bạn chuẩn bị comment ném đá ai đó, cân nhẳc coi comment của bạn có làm hại gì cuộc sống người ta không, để thôi, bớt làm anh hùng bàn phím chỉ để cho vui. Hay những ai giữ trong lòng ý niệm hại người, ngưng lại. |
0,5 |
|
|
3 |
- BPTT : Liệt kê: . Ở trên xe biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mang bầu..., đi ngang đám ma biết im giọng không cười, nhìn thấy chị hàng xóm xách đồ nặng biết chạy tới xách phụ..., hay chủ động đỡ xe của một người không quen vừa té. - Tác dụng: + Tặng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, làm câu văn dễ hiểu, thuyết phục. + Diễn tả cụ thể, sinh động những việc làm tử tế để giúp đỡ người khác trong cuộc sống hàng ngày. + Tác giả trân trọng những việc làm bé nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn. Mong muốn mọi người thường xuyên làm những việc tốt. |
0,25 0,25 0,25 0,25 |
|
|
4 |
- HS có thể lựa chọn đồng ý hoặc không đồng ý Đ * Đồng ý - Vì: Bản thân khi có ý thức làm người tử tế ta sẽ luôn có hành động đúng đắn, tốt tốt đẹp. Tâm hồn ta sẽ rộng mở, có nhiều năng lượng tích cực. Bản thân thấy thanh thản, có ích cho cuộc đời. Khi làm người tử tế khiến cuộc sống thanh thản, hạnh phúc, XH tốt đẹp * HS có thể không đồng ý (lí giải được) |
0.25 0.75 |
|
|
5 |
- HS rút ra được bài học sâu sắc phù hợp từ nội dung đoạn trích. - Có thể là bài học: Cần biết trân trọng những việc tử tế , biết cảm thông, chia sẻ, biết giúp đỡ người khác, thực hành làm những việc có ích trong cuộc sống .... |
1.0 |
|
|
II. Làm văn |
1 |
Ý nghĩa của những việc làm tử tế trong cuộc sống. |
2,0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng của một đoạn văn nghị luận theo yêu cầu. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của những việc làm tử tế trong cuộc sống. |
0,25 |
||
|
c. Triển khai vấn đề: Vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai vấn đề, rút ra bài học nhận thức và hành động. Thí sinh có thể viết theo nhiều cách nhưng cần tập trung làm nổi bật ý nghĩa của những lời cảm ơn. Có thể theo hướng: - Giải thích: Việc tử tế là những việc tốt, có ích lương thiện, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác. - Biểu hiện của người tử tế: Sống và làm việc có kỉ luật, biết lễ phép, yêu thương chan hòa, hướng đến và làm theo những điều tích cực. Lan tỏa được những hành động, thông điệp tích cực ra cộng đồng. - Bàn luận về ý nghĩa của việc sống tử tế: + Đối với bản thân: Khi làm việc tử tế bản thân sẽ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, thanh thản, hoàn thiện bản thân, phát triển bản thân. + Khi giúp đỡ người khác, ta sẽ nhận lại sự kính trọng, niềm tin yêu của người khác và cả sự sẵn sàng giúp đỡ lại mình lúc mình gặp khó khăn. + Khi người giúp đỡ người, xã hội sẽ ấm áp, có tình người. Từ đó sẽ phát triển tốt đẹp, vững mạnh hơn. + Một người làm cha, làm mẹ khi có lối sống tử tế sẽ làm gương cho con cái của mình, cho thế hệ măng non sau này làm theo, từ đó làm nền tảng để xây dựng một xã hội tử tế. (Dẫn chứng về nhân vật, sự việc yêu thương, chia sẻ) - Mở rộng: Trong xã hội vẫn có không ít người có tính ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không cần suy nghĩ cho người khác, lại có những người vô cảm mặc kệ nỗi đau của đồng loại,… - Bài học trong nhận thức và hành động. |
1,0 |
||
|
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục. |
0,25 |
||
|
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... |
0,25 |
||
|
2 |
Phân tích truyện ngắn Bát phở của nhà văn Phong Điệp. |
4,0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học – phân tích truyện. |
0,25 |
||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Thí sinh có thể triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng về cơ bản, cần làm rõ chủ đề, đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Có thể triển khai theo hướng sau: Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm Thân bài: * Về nội dung: Nêu ngắn gọn nội dung chính ( Tóm tắt) Nhân vật tôi vào ăn sáng tại một quán phở ngon nổi tiếng. Ở đây, tôi tình cờ chứng kiến có hai người cha đưa hai cậu con trai lên Hà Nội thi đại học. Họ vào quán mà chỉ gọi hai bát phở bò và trứng cho hai người con, còn hai người cha lặng lẽ ngồi chuyện phiếm. Họ nói về mùa màng thất bát, về giá cả ở Hà Nội gì cũng đắt đỏ. Hai người con lặng lẽ ăn, không một lời bình phẩm mặc dù đây là quán phở rất ngon. Hai người cha đếm những đồng tiền lẻ ít ỏi trả tiền hai bát phở, đợi các con thì xong, trên đường về họ sẽ mua tạm mấy ổ bánh mì để ăn. Phân tích chủ đề của tác phẩm: Truyện ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảm động. - Đó là tình cảm, sự hi sinh của những người cha dành cho con. Dù hai người cha nhà quê, hoàn cảnh chẳng khá giả gì.Bộ quần áo chỉn chu nhất trong tủ quần áo của hai ông bổ nông dân ấy, đều đã mang cả ra đây để mặc rồi. Những bộ quần áo không còn rõ mầu sắc ban đầu của vải nữa, nhưng họ vẫn bỏ công bỏ việc, cất công đưa các con lên Hà Nội thi đại học, những mong các con có tương lai xán lạn, tốt đẹp hơn. Họ vào quán và chỉ gọi phở cho các con trong khi bản thân họ nhịn chạy. Khi gọi phở, họ còn không quên gọi thêm trứng để bồi bổ cho các con Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé Hai người cha đã tính đến việc các con thi xong, trên đường đi xe về quê, họ sẽ mua mấy ổ bánh mỉ ăn tạm. Những người cha nông dân chất phác đã cố gắng dành những gì tốt đẹp nhất trong khả năng của họ cho những đứa con. -Tình cảm của con dành cho cha: Những người con thấu hiểu sự hi sinh âm thầm của cha. Bởi thế mà khi ăn phở, dù là một bát phở rất ngon Hàng phở này ngon thật. Tôi vẫn rảnh ăn phở, những quán thể này không thật nhiều nhưng họ không dám bình phẩm nữa lời, chỉ biết lặng lẽ ăn. Họ hiểu rằng, những người cha cũng đói, nhưng vì hoàn cảnh, những người cha chỉ dành dụm lo được cho họ. Một lời suýt soa, một tiếng khen chê về bát phở lúc này đều là điều tàn nhẫn với hai người cha. Rồi khi nhìn cha đếm những đồng tiền lẻ để trả hai bát phở, họ không giấu được tâm trạng âu lo Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi vi của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Họ biết rằng trong cuộc đời này, họ không chỉ nợ cha mình bát phở bò mà con nợ nhiều hơn thế. Điều đó có lẽ sẽ là động lực mạnh mẽ giúp họ cố gắng để có thể sống tốt hơn, có thể báo đáp công ơn cha mẹ. * Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật + Cốt truyện đơn giản, chỉ như câu chuyện đời thưởng vụn vặt, nhưng qua đó cho thấy được sự hi sinh âm thầm của những bậc làm cha và làm toát lên tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. + Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các nhân vật, nhất là nhân vật hai người cha được khắc hoạ chủ yếu qua ngoại hình, hành động, lời nói, cử chỉ bên ngoài. Chi tiết Những bộ quần áo không còn rõ mầu sắc ban đầu của vải nữa hé lộ phần nào gia cảnh của họ, đưa con lên phổ thi, chắc chắn họ sẽ chọn những bộ cánh mới nhất, đẹp nhất mà mình có, nhưng đó cũng chỉ là những bộ quần áo đã bạc màu thời gian, chẳng còn rõ màu sắc ban đầu của vải. Hành động gọi hai bát phở, thêm hai trứng cho các con ăn, còn mình ngồi chuyện phiếm đợi con ăn đến giọt nước cuối cùng rồi trả tiền thực sự khiến ta cảm động về tình yêu thương dành cho con cái của những người làm cha mẹ. + Truyện còn đặc sắc ở việc chọn ngôi kể thứ nhất, nhân vật tôi chỉ là một người khách qua đường, tình cờ được chứng kiến câu chuyện của bốn người ở quán phở. Nhưng với cách chọn ngôi kể này, câu chuyện vửa có yếu tố khách quan, lại vừa chân thực. + Ngôn ngữ mộc mạc, chân chất như chính bản chất dân dã, chân thành của những người dân quê. + Ngoài ra, truyện neo đậu trong tâm trí người đọc qua những chi tiết truyện đắt giá, như chi tiết trong cuộc trò chuyện của hai người cha khi ngồi đợi con ăn phở: Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chỉ mà đắt. Sáng mất ngủ dậy, mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm. Chi tiết thoáng qua trong câu chuyện phiếm nhưng đã đủ để tố cáo cái khó, cái nghèo của những người dân quê, đồng thời làm nổi bật sự tần tiệm, tiết kiệm và tình yêu thương của hai người cha cho con cái. Họ sẵn sàng nhịn ăn để lo cho các con được tốt nhất… *Liên hệ: Những tác phẩm cùng đề tài, cùng tác giả. *Đánh giá: Khái quát thành công về nội dung, nghệ thuật. Kết bài: Khẳng định thành công của truyện. Ý nghĩa của tác phẩm với bản thân. |
0.25 2.5 0.25 |
||
|
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ. |
0,25 |
||
|
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... |
0,25 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
* LƯU Ý KHI CHẤM BÀI:
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm một cách máy móc, linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm.
Cần khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo, nội dung bài viết có thể không trùng với yêu cầu trong đáp án nhưng lập luận thuyết phục, văn phong sáng rõ.
|
ĐỀ 4 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm). Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Đố kị nghĩa là bực tức, khó chịu trước những may mắn và thành công của người khác. Trong khi người thành công luôn nhìn thấy và học hỏi những đức tính tốt đẹp của người khác thì kẻ thất bại lại không làm được điều đó. Họ không muốn nhắc đến thành công của người khác, đồng thời luôn tìm cách chê bai, hạ thấp họ. Họ để mặc cho lòng tỵ hiềm, thói ganh tỵ, cảm giác tự ti gặm nhấm tâm trí ngày qua ngày.
Đố kị không những khiến con người cảm thấy mệt mỏi mà còn hạn chế sự phát triển của mỗi người. Thói đố kị khiến chúng ta lãng phí thời gian và không thể tận dụng hết năng lực để đạt được điều mình mong muốn. Ganh tị với sự thành công của người khác sẽ khiến chúng ta đánh mất cơ hội thành công của chính mình.
(George Matthew Adams, Không gì là không thể, Thu Hằng dịch, NXB tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2017, tr.44)
Câu 1. Đoạn trích trên thuộc kiểu văn bản gì?
Câu 2. Xác định luận đề của đoạn trích trên?
Câu 3. Tìm và nêu tác dụng của một phép liên kết được thực hiện trong đoạn văn: “Đố kị không những khiến con người cảm thấy mệt mỏi mà còn hạn chế sự phát triển của mỗi người. Thói đố kị khiến chúng ta lãng phí thời gian và không thể tận dụng hết năng lực để đạt được điều mình mong muốn.”
Câu 4. Theo em, vì sao người có tính đố kị thường “không muốn nhắc đến thành công của người khác”?
Câu 5. Em có đồng ý với ý kiến: “Đố kị không những khiến con người cảm thấy mệt mỏi mà còn hạn chế sự phát triển của mỗi người” không? Vì sao?
II. VIẾT: 6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị.
Câu 2. (4,0 điểm) Phân tích truyện ngắn “Đôi tai của tâm hồn”
Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.
Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.
“Cháu hát hay quá!”. Một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm rãi bước đi.
Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay nói lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại chậm rãi một mình bước đi.
Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không.
“Cụ già ấy đã qua đời rồi. Cụ ấy điếc đã hơn 20 năm nay” – một người trong công viên nói với cô. Cô gái sững người. Một cụ già ngày ngày vẫn chăm chú lắng nghe và khen cô hát lại là một người không có khả năng nghe?
( Hoàng Phương)
----------Hết---------
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
I. Hướng dẫn chung:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của đề bài để đánh giá tổng quát năng lực của thí sinh (năng lực nhận biết, thông hiểu và vận dụng), đảm bảo đánh giá theo định hướng phát triển năng lực;phẩm chất chỉ cho điểm tối đa cho từng câu khi thí sinh đạt yêu cầu cả về kiến thức và kĩ năng.
- Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể. Nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho điểm. Trân trọng những bài viết sáng tạo, giàu chất văn, liên hệ tốt, có tư duy phản biện; kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
II. Hướng dẫn cụ thể:
|
Yêu cầu kiến thức – kĩ năng |
Điểm |
|
|
Mã đề 1 |
|
|
|
Câu |
I. ĐỌC HIỂU |
4,00 |
|
1 |
Kiểu văn bản nghị luận |
0.5 |
|
2 |
Lối sống không có sự đố kị |
0.5 |
|
3 |
+ Phép liên kết: phép lặp + Từ ngữ thực hiện phép lặp: đố kị + Tác dụng: -Giúp lời văn có tính liên kết logic và mạch lạc giữa các câu trong đoạn văn. -Làm nổi bật ý và tác giả muốn nhấn mạnhcon người đùng nên sống đó kị |
1,0 |
|
4 |
Người có tính đố kị thường “không muốn nhắc đến thành công của người khác” vì: + Họ không chịu thừa nhận thành công của người khác + Họ không muốn người khác thành công hơn mình |
0,5 0.5 |
|
5 |
|
0.5 0.5 |
|
|
II. Viết: |
|
|
Câu 1 |
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị. |
2,0 |
|
|
a. Đảm bảo hình thức của đoạn văn theo yêu cầu của đề; nội dung bàn luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý. b. Triển khai vấn đề nghị luận, đảm bảo được một số nội dung cơ bản sau: *MĐ: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề cần nghị luận *TĐ: - Giải thích + Đố kị nghĩa là bực tức, khó chịu là sự ghen ghét, không công nhận, thậm chí có suy nghĩ, hành động bài trừ đối với những thành tựu của người khác. + Lối sống không đố kị là lối sống đẹp, lành mạnh, phong phú; sống theo đạo lý con người, lối sống vui vẻ, hạnh phúc - Biểu hiện: + Sống văn minh, khoan dung, yêu thương và quan tâm đến mọi người + Luôn lạc quan yêu đời, sống đúng lương tâm, không đi ngược đạo lý làm người. -Ý nghĩa của lối sống không đố kị: Được mọi người yêu quý, cảm thấy thoải mái, sống gần gũi nhau, giúp cuộc sống và xã hội tốt đẹp hơn. - Dẫn chứng: -Bài học nhận thức và hành động +Thói ghen ghét, đố kị làm cho con người trở nên ti tiện, nhỏ nhen, tầm thường, ích kỷ, tự hạ thấp giá trị bản thân mình và từ đó sẽ bị mọi người coi thường, xa lánh, ghét bỏ. + Đố kị là một thói xấu bạn cần phải loại bỏ ra khỏi bản thân để con người trở nên cao thượng. Phải biết thi đua,cạnh tranh lành mạnh, vượt qua khó khăn để đạt được thành công . KĐ:-Khẳng định vẻ đẹp, ý nghĩa của lối sống không đố kị |
0,25 0.25 0.25 0.25 0.5 0.25 |
|
|
c. Chính tả, dùng từ, đặt câu Đảm bảo chuẩn về chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. d. Sáng tạo: thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt chặt chẽ, thuyết phục |
0,25 |
|
Câu 2 |
Phân tích truyện ngắn “Đôi tai của tâm hồn” |
4,0đ |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc 3 phần của bài văn nghị luận văn học: Mở bài giới thiệu được vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được các luận điểm; Kết bài khái quát, gợi mở được vấn đề. |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, biết trích dẫn và phân tích dẫn chứng để luận điểm có sức thuyết phục, bài viết có cảm xúc, rung động chân thực... |
|
|
|
HS có thể trình bày theo nhiều cách. Dưới đây là một phương án triển khai: |
|
|
1. MB: Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tên tác giả,...) và ý kiến khái quát của người viết về tác phẩm. Nêu cảm nhận chung của em về truyện ngắn. |
0,5 |
|
|
2.TB:Nêu chủ đề và phân tích các biểu hiện làm rõ chủ đề của tác phẩm: - Nêu đề tài và những nét đặc sắc của cốt truyện trong việc làm sáng tỏ chủ đề. *Tóm tắt ngắn gọn nội dung cốt truyện: Truyện kể vể cuộc gặp gỡ giữa cô bé và ông lão trong công viên. Khi nghe cô hát, ông lão đã bị thu hút bởi gọng hát trong trẻo, đầy cảm xúc của cô bé ông lão đã động viên và giúp đỡ cô bé bằng cách hằng ngày lắng nghe cô hát bằng cảm nhận của cả trái tim . Nhờ sự cổ vũ của ông lão, cô bé đã dần hoàn thiện khả năng ca hát và trở thành một ca sĩ nổi tiếng. * Phân tích chủ đề của truyện: Truyện ngắn “ Đôi tai của tâm hồn” đã đề cao giá trị của lòng nhân ái, sự đồng cảm và vẻ đẹp tâm hồn cả những con người bình dị. - Lòng nhân ái: Ông lão đã thể hiện lòng nhân ái khi giúp đỡ cô bé mồ côi, có hoàn cảnh khó khăn. Ông đã không ngại dành thời gian và công sức để cổ vũ cô bé. - Sự đồng cảm: Ông lão đã đồng cảm với hoàn cảnh và nỗi khổ của cô bé. Ông hiểu được khao khát được hát của cô bé và đã giúp đỡ cô bé theo đuổi ước mơ. - Vẻ đẹp tâm hồn: cô bé có nghị lực phi thường và một tâm hồn trong sáng, lạc quan, cô bé gặp hoàn cảnh khó khăn luôn yêu đời và khao khát được hát. Ông lão là một người già hiền từ, tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. * Phân tích nhân vật: - Nhân vật Cô bé: Là một cô bé mồ côi, sống lang thang, thiếu thốn tình thương, có tài năng ca hát nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, ăn mặc rách rưới nên không được tham gia vào dàn đồng ca. Mặc dù vậy, cô bé vẫn luôn lạc quan, yêu đời và khát khao được hát.( HS triển khai thành các ý và lấy dẫn chứng để phân tích chứng minh) -> Đánh giá khái quát về nhân vật cô bé -Nhân vật Ông lão: Là một người già hiền từ, tốt bụng, bị khiếm thính nhưng có một trái tim nhân hậu. Ông đã cổ vũ để tài năng của cô bé và giúp đỡ cô bé theo đuổi ước mơ âm nhạc. .( HS triển khai thành các ý và lấy dẫn chứng để phan tích chứng minh) -> Đánh giá khái quát về nhân vật ông lão *Phân tích những nét đặc sắc nghệ thuật của truyện: -Nhân vật được xây dựng sinh động có tính cách riêng. - Cốt truyện đơn tuyến, kết cấu ngắn gọn, tình tiết, sự việc đời thường gần gũi, tạo được tình hướng bất ngờ khơi gợi trong lòng người đọc nhiều cảm xúc và suy ngẫm, ý nghĩa sâu sắc. - Ngôi kể, ngôn ngữ giản dị dễ hiểu, giàu sức gợi. -Nghệ thuật đối lập: Làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của cô bé và ông lão. *Đánh giá: Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện: Tình cảm, suy nghĩ về thông điệp, bài học thấm thía mà tác giả gửi gắm trong câu truyện. 3.KB: Khẳng định giá trị và ý nghĩa của truyện, liên hệ, mở rộng. |
0,25 1,0 1,25 0,75 0,25 0,5 |
|
|
d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận |
0.25 |
|
|
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. |
0.25 |
|
------------ HẾT ------------
|
ĐỀ 5 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I.PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Thay vì giúp con có một ước mơ thực sự, nhiều ông bố bà mẹ thường đưa trẻ đến những trung tâm bồi dưỡng tài năng để tham gia hết khóa học này đến chương trình khác. Bởi, phụ huynh cho rằng những chương trình đó rất bổ ích và có giá trị với con.
(...) Ai trong chúng ta cũng có một ước mơ cho riêng mình, trẻ em cũng vậy. Song khác với người lớn, trẻ sẽ có nhiều ước mơ bay bổng do trí tưởng tượng phong phú. Khi đó nhiệm vụ của cha mẹ là nuôi dưỡng ước mơ của con một cách hợp lí, giúp chúng định hướng tương lai.
Trẻ em thường xuyên có ước mơ mới mỗi khi ngưỡng mộ ai đó. Khi được bác sĩ chữa khỏi bệnh, trẻ mong ước lớn lên sẽ làm bác sĩ, khi xem tivi và chứng kiến những diễn viên xinh đẹp hoặc xem những bộ phim siêu nhân thì tước mơ của trẻ lại khác. Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình. Thường, trẻ nhỏ với suy nghĩ ngây thơ, có thể con sẽ thốt ra những câu nói khiến cha mẹ hoang mang. Khi đó không ít phụ huynh áp đặt suy nghĩ và mong muốn của mình lên con. Họ ép con thích những điều cha mẹ muốn. Song, đó không phải là niềm yêu thích của trẻ. Theo các chuyên gia, đó là một trong những suy nghĩ sai lầm mà cha mẹ nên bỏ trong quá trình định hình ước mơ cho con trẻ. Theo chuyên gia Trần Quốc Phúc, cha mẹ hãy cho con một ước mơ và đừng bao giờ "tiêu diệt" giấc mơ đó. "Cha mẹ hãy hỏi con thích gì và tin con sẽ làm được điều đó. Cha mẹ hãy dẫn con tới nơi có những người thành công, để con tiếp cận, nhìn những căn nhà đẹp, những chiếc xe đẹp. Đồng thời để con chứng kiến cuộc sống của những trẻ em nghèo”, chuyên gia cho biết.
Theo: Vân Huyền, Khơi gợi điều trẻ muốn hướng tới, Báo Giáo dục và Thời đại, số 99, Thứ hai, 26/04/2021, tr.13)
Câu 1. Tìm một câu văn chứa luận điểm chính của bài.
Câu 2. Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình.
Câu 3. Nêu nội dung chính của văn bản trên.
Câu 4. Theo em vì sao tác giả muốn cha mẹ hãy cho con chứng kiến cuộc sống của những trẻ em nghèo
Câu 5. Em có đồng tình với việc cha mẹ ép con thích những điều cha mẹ muốn không? Vì sao?
II. PHẦN II. VIẾT VĂN
Câu 1. Từ việc đọc hiểu văn bản ở phần I, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của ước mơ đối với mỗi con người trong cuộc sống.
Câu 2. Em hãy phân tích bài thơ “Nói với em” của nhà thơ Vũ Quần Phương.
Nói với em*
(Vũ Quần Phương)**
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay
Tiếng lích chích chim sâu trong lá
Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên
Thấy chú bé đi hài bảy dặm
Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.
Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày
Tay bồng bế, sớm khuya vất vả
Mắt nhắm rồi, lại mở ra ngay.
(Trích “65 bài thơ hay dành cho thiếu nhi”- Cao Xuân Sơn tuyển chọn- NXB Kim Đồng)
Chú thích:
(*) Nhạc sĩ Phan Bá Chức đã phổ nhạc bài thơ thành bài hát cùng tên.
(**) Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định. Ông là bác sĩ y khoa đồng thời là nhà thơ, nhà phê bình văn học, trưởng ban biên tập văn học của NXB Văn học, chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam. Ông là nhà thơ nổi tiếng với nhiều bài thơ hay về tình yêu, và ở nhiều đề tài khác, trong đó có thơ thiếu nhi. Tác phẩm chính như: Cỏ mùa xuân (1966), Hoa trong cây (1977), Chỗ ấy sóng (2008
ĐÁP ÁN
|
CÂU |
NỘI DUNG |
|
PHẦN I. ĐỌC HIỂU |
|
|
1 |
Học sinh tìm được 1 câu văn đúng: Gợi ý:
|
|
2 |
Thành phần biệt lập trong câu là: Chắc chắn – thành phần tinh thái |
|
3 |
Học sinh có thể giải thích theo ý hiểu của mình, có lý giải Gợi ý: Đoạn trích đang nói tới thực hướng dạy con của các bậc phụ huynh hiện nay. Đồng thời nói lên tiếng nói con trẻ với mong muốn được thực sự phát triển, hướng tới đam mê của mình. |
|
4 |
Học sinh trình bày quan điểm của mình, có lý giải. Gợi ý: Cho con chứng kiến cuộc sống của những trẻ em nghèo là một cách dạy con trải nghiệm cuộc sống. Tiếp cận những hoàn cảnh khó khăn giúp con quý trọng hơn cuộc sống đủ đầy mình đanh có. Từ đó cũng gây dựng cho con lòng biết ơn, sự chia sẻ… |
|
5 |
Học sinh trình bày quan điểm của mình, có lý giải. Gợi ý: Không đồng tình: Vì việc ép những đứa trẻ đi theo con đường mà cha mẹ chúng muốn sẽ khiến những đứa trẻ trở thành những người máy, luôn làm theo những gì được sắp đặt từ trước. Không phát huy được hết khả năng của mình.... |
|
PHẦN II. VIẾT |
|
|
1 |
1.Mở đoạn: C1: Con người chúng ta từ khi sinh ra cho tới lúc trưởng thành, ai cũng có một ước mơ, hoài bão của riêng mình. C2: Dân gian ta thường nói “Sống là phải có ước mơ”… 2.Thân đoạn: a. Giải thích Ước mơ chính là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dải. Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ. b. Bàn luận chứng minh - Vai trò và ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống: + Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi chúng ta nó hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp Phân tích được con người đi tới ước mơ có dễ dàng không? + Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng khó khăn, không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhưng với những người kiên trì, bền chí, thì ước mơ sẽ giúp cho bạn định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất. Dẫn chứng cụ thể. - Nó là vì sao sáng soi những lối ta đi, khi đi qua những khó khăn nhìn thấy ước mơ của mình lấp lánh ở phía xa xa, bạn sẽ nỗ lực bước tiếp. - Những ước mơ sẽ đưa con người đi tới những tương lai, không quản ngại những chông gai, nghiệt ngã, những khó khăn trên con đường đi của mình. - Cuộc sống mà không có ước mơ thì sẽ như thế nào? + Ước mơ là điều mà ai cũng nên có và cần có trong cuộc sống bởi nếu không có ước mơ cuộc sống của bạn sẽ mất phương hướng vô định. Dẫn chứng cụ thể. + Không có ước mơ bạn sẽ không xác định được mục tiêu sống của mình là gì. Chính vì không xác định được phương hướng sẽ dẫn tới bạn sẽ sống hoài sống phí, và trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau. c. Bàn luận mở rộng: Phê phán những người không có khát vọng, ước mơ,.. d. Bài học nhận thức và hành động: Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình. 3. Kết đoạn: - Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình. |
|
2 |
*Mở bài Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và nếu cảm nghĩ chung của em về bài thơ. Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định. Ông là bác sĩ y khoa đồng thời là nhà thơ, nhà phê bình văn học, trưởng ban biên tập văn học của NXB Văn học, chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam. Ông là nhà thơ nổi tiếng với nhiều bài thơ hay về tình yêu, và ở nhiều đề tài khác, trong đó có thơ thiếu nhi. Tác phẩm chính như: Cỏ mùa xuân (1966), Hoa trong cây (1977), Chỗ ấy sóng (2008). Bài thơ Nói với em gợi nhắc tuổi thơ chúng ta phải biết học cách nghe, học cách nhìn, học cách nghĩ, nghĩa là phải biết sống đẹp, sống nhân hậu, sống có tình nghĩa thủy chung *Thân bài Tập trung phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ. - Nội dung: Luận điểm 1: Đặc sắc về chủ đề của bài thơ: - Chủ đề, nhan đề bài thơ: + Bài thơ thuộc chủ đề tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình. Bài thơ gợi nhắc tuổi thơ chúng ta phải biết học cách nghe, học cách nhìn, học cách nghĩ, nghĩa là phải biết sống đẹp, sống nhân hậu, sống có tình nghĩa thủy chung. Chủ đề ấy được thể hiện rõ trong nhan đề và nội dung các khổ thơ. + Nhan đề: “Nói với em” không hoa mĩ cầu kì, không trau chuốt từ ngữ hay công phu hàm ẩn mà chỉ như lời trò chuyện, tâm tình của thi nhân- người đi trước, với các em thiếu nhi về tình cảm gia đình, tình yêu thiên nhiên, cuộc sống. Từ đó góp phần thể hiện chủ đề của bài thơ. - Khổ thơ thứ nhất: Hãy nhắm mắt để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. + Bài thơ mở ra bằng cụm từ “Nếu nhắm mắt” và trạng ngữ chỉ thời gian “trong vườn lộng gió”, ấy là nhắm mắt để lắng nghe và cảm nhận thế giới tự nhiên. Bao giờ cũng vậy, khi ta khép bớt một giác quan lại, thì các giác quan khác sẽ làm việc mạnh hơn, mức độ tập trung cao hơn. “ Nếu nhắm mắt...”có nghĩa là em phải thật yên lặng, thật chú ý lắng nghe và thật chú ý “nhìn” bằng trí tưởng tượng- vì mắt đã nhắm rồi. + Và khi ấy, giác quan thính giác sẽ phát huy mạnh nhất: “sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay”. Với tuổi thơ, còn gì hấp dẫn hơn những điều đẹp đẽ của thế giới tự nhiên quanh mình, của cỏ cây hoa lá, của chim muông vườn nhà. + Trong vườn lặng gió, có những loài chim rất nhỏ, rất hiền, chỉ đến khu vườn vào những sáng, những chiều thật bình yên. Chúng hót khẽ, chuyền cành rất nhẹ, mà nếu nhắm mắt, em sẽ nghe được cả tiếng của những chú chim sâu bé tí như trái cau lích chích trong vòm lá, tiếng đôi cánh chim chìa vôi thân nửa trắng nửa đen nhẹ nhàng phất lên cụp xuống, tiếng hót vừa ở cành này đã bay sang cành khác. -> Những âm thanh ấy, nếu mở mắt và ồn ào gọi nhau, hay chạy theo đuổi bắt, ... em sẽ không bao giờ thấy được. Tiếng chim ở đây cũng là tiếng đời, là âm thanh của thiên nhiên, của sự sống. Hãy thật yên, thật khẽ, thật dịu dàng mở rộng tâm hồn, em sẽ được thấy bao điều từ thiên nhiên kì diệu, trong khu vườn, trên đồng ruộng hay trong cánh rừng, dòng sông, bãi cỏ quanh em. Những câu thơ gieo vào tâm hồn trẻ thơ khao khát được khám phá và cảm nhận thế giới tự nhiên và cuộc sống quanh mình bằng tất cả tâm hồn, tình yêu tha thiết. - Khổ thơ thứ 2: Hãy nhắm mắt để cảm nhận về thế giới thần tiên qua những câu chuyện của bà. + Từ không gian rộng là khu vườn, nhà thơ đưa dẫn ta đến không gian thân thuộc và gần gũi hơn nữa, đó là khung cảnh “nghe bà kể chuyện”. Và khi ấy, “nếu nhắm mắt” thì điều gì sẽ xảy ra? + Từ thế giới thực, cả một thế giới thần tiên kì ảo sẽ mở ra. Ở đó, các em không chỉ được nghe mà còn được nhìn thấy- cái nhìn bằng trí tưởng tượng, hình dung của một tâm hồn trẻ thơ luôn tin vào những câu chuyện cổ tích. + Thế giới đó có những bà tiên có quyền năng đặc biệt, luôn suốt hiện đúng lúc, đúng chỗ để giúp đỡ người tốt và trừng trị kẻ xấu; có chú bé đi hài bảy dặm với những phép màu kì diệu để thoả thích khám phá, chinh phục thế giới muôn màu; có cô Tấm dịu hiền- đại diện cho những phẩm chất tốt đẹp của con người,… -> Nếu biết "nhắm mắt nghe" thì tuổi thơ sẽ hạnh phúc biết bao. Hình ảnh bà và thế giới cổ tích mãi mãi sống trong tâm hồn tuổi thơ, sẽ là hành trang đẹp để tuổi trẻ bước vào đời. Khổ thơ khơi lên trong tâm hồn trẻ thơ tình yêu thương, trân trọng người bà kính yêu và những niềm tin trong veo, những ước vọng đẹp đẽ. - Khổ thơ thứ 3: Hãy nhắm mắt để suy ngẫm về công ơn của cha mẹ. + “Nếu nhắm mắt nghĩ” đó là nhắm mắt để suy ngẫm về lẽ đời, nó sẽ kích thích không chỉ thính giác hay trí tưởng tượng, mà nó sẽ tác động cả vào khối óc và trái tim. Có lẽ ở một lứa tuổi nhất định, các em mới có được, làm được điểm này. + Khi ấy, điều đầu tiên em cần nghĩ, nên nghĩ là “Nghĩ về cha mẹ”, nghĩ về công ơn nuôi dưỡng, bồng bế, dạy bảo... vô cùng vất vả, chẳng gì đong đếm hết của cha mẹ dành cho mình: “Đã nuôi em khôn lớn từng ngày- Tay bồng bế sớm khuya vất vả”. "Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" sao chúng ta không "nghĩ"? Có biết "nghĩ" về công ơn của cha mẹ thì mới biết cách đền đáp, mới biết báo hiếu mẹ cha. + Câu thơ cuối gói ghém bao ý tình sâu sắc, thấm thía. Tính hàm ngôn, lời ít mà ý nhiều của thơ được thể hiện rõ ở đây. Câu thơ có thể hiểu theo hai cách như sau: Cách hiểu thứ nhất, câu thơ cuối tiếp mạch cảm xúc để nói về công ơn của cha mẹ. Nó gợi tả sự vất vả, yêu thương, hết lòng hi sinh vì con của bậc sinh thành. Ai từng làm cha mẹ hẳn sẽ thấu cảnh “Tay bồng bế sớm khuya vất vả- Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay” đó là có những đêm trắng thức giấc ru con, canh cho giấc ngủ của con, cha mẹ mệt mỏi, buồn ngủ đến độ “nhắm mắt vào” trong vô thức, nhưng nhớ tới giấc ngủ con chưa tròn nên cha mẹ “Nhắm mắt rồi lại mở ra ngay.” Nếu hiểu theo cách này, câu thơ càng khiến ta thấm thía công ơn trời biển của mẹ cha dành cho mình. Cách hiểu thứ hai, câu thơ là lời nhắn “em” biết yêu thương, hiếu kính cha mẹ bằng cách ứng xử và các hành động cụ thể hằng ngày. Khi nghĩ về cha mẹ, nhân vật trữ tình “nhắm mắt rồi lại mở ra ngay” vì nhắm mắt để cảm nhận, thấu hiểu nỗi vất vả của cha mẹ đã nuôi ta khôn lớn. Còn mở mắt ra để nhận thức về trách nhiệm, bổn phận của mỗi chúng ta với cha mẹ. Công lao của bố mẹ chỉ cần ta “nhắm mắt nghĩ” một thoáng thôi đã dạt dào niềm cảm động, biết ơn. Tác giả đã phải dùng một động tác mạnh, xốc dậy cảm xúc “lại mở ra ngay”. Nếu hiểu theo cách này, bài thơ càng thêm sâu sắc, ý nghĩa. -> Dù được hiểu theo cách nào, thì khổ thơ vẫn là lời gợi nhắc về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu nặng. Là ơn nghĩa trời biển của bậc sinh thành và bổn phận, trách nhiệm của người con. Tác giả nhắc nhở tuổi thơ chúng ta phải biết học cách nghe, học cách nhìn, học cách nghĩ, nghĩa là phải biết sống đẹp, sống yêu thương, sống đúng đạo làm người. Luận điểm 2: Đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ: - Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ: mỗi câu thơ gồm bảy tiếng, cả bài thơ gồm ba khổ, mỗi khổ là bốn câu thơ. - Bài thơ có bố cục chặt chẽ theo mạch cảm xúc: từ lắng nghe thanh âm cuộc sống đến lắng nghe, suy tưởng về thế giới thần tiên qua lời kể của bà và khép lại là những nghĩ suy thấm thía về công ơn cha mẹ. - Vần: bài thơ gieo vần chân, là vần vần cách ở các câu 2-4 trong mỗi khổ. Cụ thể “hay- bay”; “tiên- hiền”, “Ngày- ngay”. - Nhịp: bài thơ ngắt 4/3- nhịp phổ biến của bài thơ thất ngôn. - Ngôn ngữ, hình ảnh thơ gần gũi, giản dị và tươi tắn, nên thơ, giàu sức gợi: Chim sâu, chim chìa vôi, bà kể chuyện, tay bế tay bồng, … - Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ: Một số biện pháp tiêu biểu như: + Điệp ngữ: Mỗi khổ thơ đều mở đầu bằng cụm từ có ý nghĩa giả định “Nếu nhắm mắt…sẽ được…”, (riêng khổ cuối có khác là “đã”). Tác dụng: Ba tiếng “Nếu nhắm mắt...” được điệp lại ba lần, qua đó nhà thơ khẽ nhắc các em thơ gần xa hãy nhắm mắt để lắng nghe âm thanh của thiên nhiên và của sự sống. Nhắm mắt để hồi tưởng về thế giới thần kì, bay lên cùng các tiên nữ, cùng cô Tấm, cùng chú bé đi hài bảy dặm, mãi mãi sống trong tâm hồn tuổi thơ, sẽ là hành trang đẹp để tuổi trẻ bước vào đời. Nhắm mắt để suy nghĩ: "nghĩ" về công ơn của cha mẹ thì mới biết cách đền đáp, mới biết báo hiếu mẹ cha… + Liệt kê: tiếng lích chích chim sâu trong lá, chim chìa vôi vừa hót vừa bay; bà tiên, chú bé đi hài bảy dặm, quả thị thơm, cô Tấm; … Là những điều kì diệu trong cuộc sống thường ngày mà nếu nhắm mắt, tĩnh tâm nghe bằng tâm hồn, ta sẽ được đón nhận và khám phá. + Ẩn dụ: Nhắm mắt là lắng lại, bình thản, nhìn nhận cuộc sống bằng tâm hồn. Mở mắt là nhận thức, đánh giá, nhìn nhận cuộc sống bằng trí tuệ. Kết bài - Bài thơ “Nói với em” là thi phẩm kết tinh thành công cả ở phương diện nội dung và nghệ thuật. Với những đặc sắc tiêu biểu của thể thơ bảy chữ, bài thơ nói với em rằng cuộc sống có biết bao điều kì diệu, nhưng tình yêu thương của cha mẹ dành cho chúng ta bao giờ cũng là điều kì diệu nhất. Như những tiếng chim trong vườn lặng gió, như bà tiên, như cô Tấm,... trong thế giới thần tiên, những vần thơ dịu dàng này “Nói với em” rằng, đừng bao giờ quên công ơn của Mẹ, của Cha... |
|
ĐỀ 6 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4đ)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của tạo hóa ban cho bạn. Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua trong vô vọng. (…) Người ta bảo, thời gian là vàng bạc, nhưng sử dụng đúng thời gian của tuổi trẻ là bảo bối của thành công. Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống. Nếu chỉ chăm chăm và tán dương tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ vỗ cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao. Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã dành thời gian cho những việc gì? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và cho công việc? Và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không lưu lại dấu tích gì không?
Các bạn hãy xây dựng tầm nhìn rộng mở (…), biến tri thức của loài người, của thời đại thành tri thức bản thân và cộng đồng, vận dụng vào hoạt động thực tiễn của mình. Trước mắt là tích lũy tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; tự mình xây dựng các chuẩn mực cho bản thân; nhận diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm và cái không nên làm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng về mọi mặt, thiếu nó không chỉ chông chênh mà có khi vấp ngã.
(Theo Báo mới.com; 26/ 03/ 2016)
Câu 1: Xác định thể loại văn bản của đoạn trích trên.0,5đ
Câu 2: Tìm câu văn mang luận điểm? 0,5đ
Câu 3: Xét về mặt mục đích nói, các câu in đậm thuộc kiểu câu gì? Việc sử dụng kiểu câu đó có ý nghĩa như thế nào đối với việc thể hiện nội dung của văn bản? 1đ
Câu 4: Tại sao tác giả cho rằng: “Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng về mọi mặt”
Câu 5: Em có đồng ý với quan điểm sau không?Vì sao?1đ
“Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống”
Phần II. Làm văn (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ đoạn trích trên, em hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về giá trị của thời gian để mỗi người biết quý trọng thời gian của mình.
Câu 2: Phân tích bài thơ “Miền Trung” của Hoàng Trần Cương
MIỀN TRUNG
Miền Trung
Câu ví dặm nằm nghiêng
Trên nắng và dưới cát
Đến câu hát cũng hai lần sàng lại
Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm.
Miền Trung
Bao giờ em về thăm
Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt
Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ
Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ
Không ai gieo mọc trắng mặt người.
Miền Trung
Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật
Em gắng về
Đừng để mẹ già mong...
(Trích Miền Trung, Hoàng Trần Cương, Thơ hay Việt Nam thế kỷ
XX, NXB Văn hóa Thông tin, 2006, tr. 81 - 82)
|
Phần |
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
Phần I (4 điểm) |
Câu 1 |
Thể loại văn bản của đoạn trích: Nghị luận |
0,5 |
|
Câu 2 |
Luận điểm của đoạn văn trên là:Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của tạo hóa ban cho bạn |
0,5 |
|
|
Câu 3 (1 điểm) |
|
0,5 0,5 |
|
|
Câu 4 |
Tác giả cho rằng: “Trường đời là trường học vĩ đại nhất”Đó là một quan điểm đúng vì: - Đời sống thực tiễn là một môi trường lí tưởng, tuyệt vời để chúng tatrau dồi kiến thức, rèn luyện kinh nghiệm, bồi dưỡng nhân cách… - Song muốn thành công truowcs hết ta cần chuẩn bị hành trang, xây dựng nền móng vững chắc từ nhiều môi trường giáo dục khác như gia đình, nhà trường, xã hội, bạn bè…. |
1,0 |
|
|
Câu 5 |
HS nêu rõ quan điểm: Nên đồng ý với quan điểm: “Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống” Vì: + Nếu như mỗi người phát hiện được một loại tài năng thiên bẩm của bản thân mình thì đó chính là một điều may mắn mang đến một chút lợi thế cho cuộc sống của người đó. + Tuy nhiên để đạt được thành công trong cuộc sống, con người phải bỏ ra mồ hôi, nước mắt, những sự hy sinh và đánh đổi cả cuộc đời để có thể trở nên mạnh mẽ, vững vàng hơn trước những khó khăn và thử thách. + Những khó khăn, gian nan dù cho có đau đớn nhưng là những yếu tố mài giũa con người trở thành phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình. Dù cho có thất bại và nhận thật nhiều đắng cay, những sự hy sinh của con người rồi sẽ được đền đáp xứng đáng bằng những thành công sau này. + Nếu chỉ có tài năng mà không có sự chăm chỉ, không nỗ lực phấn đấu thì sớm muộn gì những tài năng đó cũng dần bị thui chột. |
|
|
|
Phần II (6 điểm) |
Câu 1 (2 điểm) |
a)Hình thức : Yêu cầu đúng cấu trúc đoạn văn b)Nội dung : *Mở đoạn: Từ đoạn trích ở phần đọc hiểu=> giới thiệu vấn đề nghị luận (giá trị của thời gian) * Thân đoạn : - Giải thích: Khái niệm về thời gian rất trìu tượng. Có thể hiểu thời gian là cụm từ diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, các biến cố và khoảng kéo dài giữa chúng - Nêu giá trị của thời gian *Mở đoạn: Giới thiệu câu nói từ đó giới thiệu vấn đề nghị luận (giá trị của thời gian) *Thân đoạn: nêu cụ thể giá trị của thời gian. - Thời gian là một thứ trừu tượng, trôi qua từng ngày, ta không cảm nhận thời gian một cách trực quan như nhìn hay chạm vào, ta cảm sự trôi chảy của thời gian qua sự thay đổi của sự vật tồn tại xung quanh mình. - Thời gian là thứ tiền bạc không thể mua được, một đi không trở lại, một khi đã qua đi không thể nào lấy lại được. Nếu để lỡ mất thời gian dù có hối tiếc cũng thể lấy lại được. (“Nếu một người cho bạn thời gian của của mình, anh ta không thể cho bạ món quà nào quý giá hơn nữa”) - Thời gian giúp vạn vật vận động theo đúng quy luật, trình tự của nó (con người, cây cối trưởng thành rồi chết đi, xã hội cũng thay đổi theo thời gian). - Thời gian giúp con người tích lũy được giá trị, không chỉ vật chất mà quan trọng hơn là tinh thần, nếu biết tận dụng tốt sẽ tích sẽ khiến giá trị bản thân tăng lên (trưởng thành hơn, hiểu biết hơn, ...) - Thời gian là thứ không thể nhìn thấy, không thể cầm nắm nhưng lại có giá trị to lớn, và tác động sâu sắc đến cuộc sống mỗi người. - Cuộc sống hiện đại hối hả, gấp gáp càng đòi hỏi hơn nữa chúng ta phải biết cách sử dụng thời gian hợp lí. - Sử dụng thời gian hợp lí là một trong những cách thức để đạt thành công. |
0.25 1,5 0,25 |
|
|
Câu 2 (4 điểm) |
a.Đảm bảo cấu trúc của bài nghị luận: - H/s phải xác định đúng kiểu bài nghị luận - H/s phải viết thành một bài văn, có bố cục đầy đủ, rõ ràng. b.Xác định đúng vấn đề : Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người miềm Trung. c.Thực hiện nội dung nghị luận. Sau đây là một số gợi ý về nội dung: A. Mở bài: * Giới thiệu tác giả, tác phẩm, và nêu ý kiến chung của người viết. - Nhà thơ Hoàng Trần Cương (1948 - 2020) sinh ra tại Nghệ An nhưng sống ở thủ đô Hà Nội từ nhỏ. Ông có rất nhiều tác phẩm hay về thiên nhiên, con người miền Trung. - Miền Trung là thị phẩm được trích từ trường ca Trầm tích. Ban đầu là bài thơ độc lập, sau này được nhà thơ đưa vào chương cuối của trường ca Trầm tích. Bài thơ Miền Trung là bài thơ hay đặc sắc được nhiều người biết đến, trong đó có đoạn trích ở đề bài trên. B. Thân bài. *Tập trung nêu nội dung, chủ đề và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ… - Khái quát về bài thơ, đoạn thơ. + Hoàn cảnh sáng tác bài thơ và thể loại: Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ Miền Trung được sáng tác năm 1990. Đoạn trích trong đề bài là phần cuối của thi phẩm. Thể loại của bài thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Cả bài thơ gồm sáu khổ, phần trích trong đề bài là ba khổ cuối của bài thơ. Nêu nội dung chủ đề: Bài thơ Miền Trung nói chung và đoạn trích trong đề bài nói riêng đã miêu tả về thiên nhiên miền Trung rất khắc nghiệt “nắng cháy trời, mưa dầm đất” và con người miền Trung còn nhiều vất vả, lam lũ, cuộc sống mưu sinh còn nhiều khó khăn, gian khổ. Qua đó, nhà thơ ca ngợi những phẩm chất, đức tính của con người miền Trung. Đồng thời thể hiện niềm thương cảm, chia sẻ với con người miền Trung và đó cũng chính là bức thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm đến mọi người. - Làm rõ nội dung, chủ đề Đoạn thơ trích trong đề bài gồm có ba khổ thơ. Cảm xúc chủ đạo chung của đoạn trích là hình ảnh thiên nhiên miền Trung khắc nghiệt nhưng con người miền Trung vẫn kiên cường chịu thương, chịu khó vượt qua thiên tai, nắng bão. Từ đó bộc lộ tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả và nỗi niềm trăn trở về phát triển của một miền quê nghèo khó. + Trước hết là sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung Câu ví dặm nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát là hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung gợi cho người đọc về một vùng đất đầy nắng gắt và cát bao phủ, đó là vùng đất khô cằn và khắc nghiệt. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung đã khiến cho: Đến câu hát cũng hai lần sàng lại/ Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm. Mảnh đất miền Trung nắng, mưa, gió, bão ùn ùn kéo đến đè nặng kiếp người, khiến họ không dễ làm ăn sinh sống. Đến nỗi câu hát ví dặm ngàn xưa cũng phải nhọc nhằn bới lên vùi xuống, sàng đi sẩy lại năm lần bảy lượt nên nghe “lọt tai” nhưng vẫn thấy day dứt đến quặn lòng. + Bắt đầu từ “Bao giờ” như một lời mời, như một câu hỏi thời gian: Bao giờ em về thăm, mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt/ Lúa con gái mà gầy còm của đỏ/ Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ/ Không ai gieo cũng mọc trắng mặt người. Sự nghiệt ngã của thiên nhiên nơi đây đã khiến cho cuộc sống của người miền Trung nghèo nàn xơ xác. Hình ảnh mồng tơi không kịp rớt đã thể hiện sự nghèo nàn khốn khó. Lúa thời con gái mà gầy còm ủa đỏ là sự héo hắt, tàn lụi của cây lúa do khắc nghiệt của thiên nhiên. Chỉ có gió bão như cây cỏ chẳng ai gieo trồng mà mọc trắng cả mặt người -> Ý thơ vừa nói lên hiện tượng thiên nhiên đặc trưng của vùng đất nhiều bão lũ, mưa giông vừa là nỗi trăn trở, xót xa, thương cảm của nhà thơ. Đó còn là cảm phục, ngợi ca ý chí, nghị lực phi thường của con người miền Trung đã dũng cảm vượt qua thiên tai, bão lũ. Cụm từ “miền Trung” được lặp lại để một lần nữa nhấn mạnh mảnh đất quê hương với đặc điểm địa hình: Eo đất này thắt đáy lưng ong -> Gợi ra mảnh đất miền Trung bé nhỏ, dài và hẹp, lại cong cong và bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ, đất đai cằn cỗi. Tất cả những yếu tố đó làm cho mảnh đất miền Trung khó sống và phát triển. + Thiên nhiên miền Trung khắc nghiệt nhưng con người miền Trung qua câu thơ: Cho tình người đọng mật lại thể hiện người miền Trung đậm đà tình nghĩa, giàu yêu thương, chân thành, giản dị. Đây là sự đối lập với thiên nhiên khắc nghiệt của miền Trung. Hai câu cuối: Em gắng về/ Đừng để mẹ già mong... vừa như là lời chào mời những ai chưa đến miền Trung thì hãy ghé về miền Trung để cảm nhận được sự khắc nghiệt và tình người của người dân miền Trung lại vừa như lời nhắc nhở chính bản thân con người miền Trung. Dù đi bất cứ nơi đâu cũng không được quên mảnh đất quê hương - nơi có mẹ cha cả đời lam lũ, có tình làng nghĩa xóm đậm đà khúc dân ca. => Ba khổ thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện được hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt và hình ảnh con người miền Trung chịu thương chịu khó, giàu ý chí và nghị lực vươn lên, tình nghĩa mặn mà, chân chất. Đồng thời thể hiện được tình yêu mến, cảm thương, chia sẻ và những trăn trở, khắc khoải của nhà thơ dành cho miền Trung khiến ai đọc đoạn thơ cũng cảm thấy xúc động, rưng rưng như chính bản thân ta cũng được sinh ra từ miền Trung vậy. - Phân tích tác dụng một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn thơ. + Thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau phù hợp với việc diễn tả cảm xúc khi thì tự hào, ca ngợi, khi thì trăn trở, khắc khoải của nhà thơ. + Hình ảnh thơ giàu sức gợi câu thơ nằm nghiêng, mồng tơi không kịp rớt, lúa con gái gầy còm ủa đỏ, eo đất thắt đáy lưng ong có tác dụng gợi tả mảnh đất miền Trung khô cằn, rất khó làm ăn sinh sống, đồng thời, gợi niềm thương cảm, xót xa cho người đọc. + Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng thành công: - Điệp từ “miền Trung” nhấn mạnh mảnh đất miền Trung đã khắc sâu vào trong lòng tác giả và còn là tiếng gọi thân thương dành cho quê hương. -Ẩn dụ: Mồng tơi không kịp rớt là sự nghèo nàn, khốn khó của miền Trung; Lúa con gái là ẩn dụ cho độ xuân thì; trắng mặt người là tượng trưng cho sự tàn phá của thiên nhiên khắc nghiệt; tình người đọng mật là tình người đậm đà, ngọt ngào, chân thành của con người miền Trung. Các hình ảnh ẩn dụ đã làm sâu sắc thêm ý thơ và cách diễn đạt thêm tinh tế. - Nhân hoá: Câu ví dặm nằm nghiêng làm cho câu hát cũng có hoạt động như con người bởi câu hát thể hiện tâm hồn, sức sống, sự vất vả của con người miền Trung; Lúa con gái gầy còm úa đỏ gợi sự tàn lụi, héo hắt của cây lúa và cũng là cuộc sống của con người miền Trung do thời tiết khắc nghiệt nên khó phát triển. -So sánh: Gió bão tốt tươi như cỏ diễn tả sức mạnh tự nhiên của gió bão - một trong những đặc điểm nổi bật của thiên nhiên miền Trung. => Việc sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ đã góp phần thể hiện được hình ảnh một miền quê nghèo khó, quanh năm thời tiết khắc nghiệt. Nhưng đối lập với thời tiết là hình ảnh con người miền Trung chịu thương chịu khó, mộc mạc, giản dị, đậm đà tình nghĩa, giàu ý chí, niềm tin. Từ đó thể hiện niềm thương cảm, xót xa, trăn trở, khắc khoải của nhà thơ đối với quê hương. Đồng thời còn là cảm xúc tự hào, mến yêu, trân trọng, ngợi ca dành cho mảnh đất, con người miền Trung. Tất cả đã làm nên nét riêng trong chủ đề viết về miền Trung của tác giả. Kết bài - Đoạn thơ đã giúp ta hiểu hơn về thiên nhiên và con người miền Trung - Từ đó, ta cảm thương, chia sẻ và mong muốn được đến miền Trung vào một ngày gần nhất. |
0.25 0.25 0.25 0.25 0.25 1.5 1.5 0.25 0.25 0.25 |
|
ĐỀ 7 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Rất nhiều người trong chúng ta sẽ thần tượng một ai đó hơn bố mẹ mình, hoặc chí ít là cũng biểu lộ tình cảm ra một cách nhiệt thành hơn. Cũng rất nhiều người trong chúng ta quan tâm tới một người nổi tiếng trên mạng, một nhân vật đang trong showbiz, một người thành đạt nào đó...hơn những bạn bè xung quanh. Nhưng điều thật sự những người đó đã làm gì cho bạn? Họ có thể làm được gì cho bạn và họ đã làm gì để cuộc sống hàng ngày của bạn tốt hơn? Họ đã làm gì để giúp bạn cảm thấy đầy đủ hơn, họ đã làm gì để bạn cảm thấy mình đặc biệt và không thể thay thế?
[...] Trước khi vươn mình đuổi theo những giấc mơ to tát được chạm sờ vào bóng hình của một ai đó, một điều gì đó mà mình tự ngộ nhận, thì cần nhớ rằng: Hãy yêu người luôn ở cạnh mình.
(Theo Chúng ta rồi sẽ ổn thôi - Gào, Minh Nhật – NXB Hội nhà văn 2015)
I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Câu 1. Xác định thể loại của đoạn văn bản trên.
Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích.
Câu 3. Tìm và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: “Nhưng điều thật sự những người đó đã làm gì cho bạn? Họ có thể làm được gì cho bạn và họ đã làm gì để cuộc sống hàng ngày của bạn tốt hơn? Họ đã làm gì để giúp bạn cảm thấy đầy đủ hơn, họ đã làm gì để bạn cảm thấy mình đặc biệt và không thể thay thế?”? (1,5 điểm)
Câu 4. Em hiểu thế nào về câu nói: "Trước khi vươn mình đuổi theo những giấc mơ to tát được chạm sờ vào bóng hình của một ai đó, một điều gì đó mà mình tự ngộ nhận, thì cần nhớ rằng: Hãy yêu người luôn ở cạnh mình." (1,0 điểm)
Câu 5. Em rút ra được bài học gì cho bản thân từ văn bản trên.
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1 (2.0đ). Trong cuộc sống, một thực tế cho thấy chúng ta thường “vươn mình đuổi theo những giấc mơ to tát” mà quên đi những người luôn ở cạnh mình. Từ đoạn văn bản trên, kết hợp những hiểu biết xã hội, em hay viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ với chủ đề: Hãy yêu người luôn ở cạnh mình!
Câu 2 (4.0đ). Trong cuộc sống chúng ta cảm nhận cuộc sống (thiên nhiên, con người...) không chỉ bằng mắt nhìn mà bằng nhiều giác quan khác để thấy hết vẻ đẹp của nó. Hãy viết bài văn (khoảng 500 chữ) phân tích bài thơ sau để thấy được cách cảm nhận cuộc sống đặc biệt mà nhà thơ Vũ Quần Phương muốn nói cho chúng ta:
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay
Tiếng lích rích chim sâu trong lá
Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên
Thấy chú bé đi hài bảy dặm
Quả thị thơm cô Tấm rất hiền.
Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày
Tay bồng bế, sớm khuya vất vả
Mắt nhắm rồi, lại mở ra ngay.
(Vũ Quần Phương, Nói với em - SGK Tiếng Việt lớp 2, tập 1, NXB Giáo dục 2002)
Chú thích: Vũ Quần Phương (sinh năm 1940), tên thật là Vũ Ngọc Chúc, là nhà thơ, nhà báo và nhà phê bình văn học.
IV. ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
Phần I |
4,0 |
|
|
1 (0,5đ) |
- Thể loại: văn bản nghị luận |
0,5 |
|
2 (0,5đ) |
- HS nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích: Trước khi theo đuổi giấc mơ về một thần tượng nổi tiếng mà chúng ta không quen biết thf hãy yêu thương những người ở bên cạnh mình, mang lại cuộc sống ý nghĩa cho mình |
0,5 |
|
3 (1,0đ) |
* Biện pháp tu từ: điệp ngữ (họ đã làm gì) * Tác dụng: + Tạo sự nhịp nhàng cho đoạn văn - Tác giả hỏi liên tiếp những câu để tác động đến cảm xúc, suy nghĩ của người đọc, khẳng định: + Việc chúng ta thần tượng, quan tâm đến một ai đó, không phải là những người luôn bên cạnh mình, không mang lại cho chúng ta cuộc sống tốt và ý nghĩa hơn + Chúng ta cần quan tâm đến những người thân luôn bên cạnh, coi ta là “đặc biệt và không thể thay thế” |
0,25 0,25 0,5 |
|
4 (1đ) |
- Câu nói khẳng định con người muốn làm những điều lớn lao, "to tát", kì vĩ, muốn thần tượng, theo đuổi một người nổi tiếng nào đó trước tiên hãy yêu quý những điều giản dị, những người giản dị gần gũi với mình hàng ngày - Câu nói chỉ ra một nghịch lí của các bạn trẻ: thần tượng những người không quen biết nhưng lại quên đi yêu thương những người quanh mình thực sự có ý nghĩa với mình, từ đó gửi gắm thông điệp cần yêu thương người gần gũi với mình (bố mẹ, ông bà, ...) |
0,5 0,5 |
|
5 (1đ) |
HS có thể rút ra những bài học sau: - Mỗi người đều có thần tượng của riêng mình, nhưng không nên thần tượng quá mức mà theo đuổi những giấc mơ viển vông, cần có những ước mơ thực tế, phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của bản thân - Cần biết quan tâm, yêu thương bố mẹ, những người thân yêu bên cạnh mình bởi họ mới thực sự có ý nghĩa và mang lại cho chúng ta một cuộc sống ý nghĩa. |
0,5 0,5 |
|
|
PHẦN II |
|
|
5 (2,0đ) |
* Hình thức: - Đúng hình thức đoạn - Viết mạch lạc, rõ ý, bố cục đoạn rõ ràng, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả * Nội dung: 1. Nêu, khẳng định vấn đề: Hãy yêu người luôn ở cạnh mình 2. Giải thích: - Yêu: yêu thương, quan tâm, lo lắng, sẻ chia, thấu hiểu... - Người bên cạnh mình: người luôn đồng hành cùng mình, quan tâm, yêu thương mình trong mọi hoàn cảnh, có thể là người thân ruột thịt (ông bà, bố mẹ, anh chị em...), có thể là những người bạn... - Câu nói gửi gắm thông điệp về việc chúng ta cần biết quan tâm những người thật sự quan trọng đối với mình, có thể mang lại cho mình một cuộc sống thật sự ý nghĩa 3. Vai trò, ý nghĩa của việc quan tâm, yêu thương người bên cạnh mình. - Gắn kết các thành viên trong gia đình, bồi đắp tình cảm - Mọi người hiểu nhau hơn, sẻ chia nhiều hơn, từ đó cuộc sống luôn hạnh phúc, ấm áp... - Những lúc khó khăn, gặp những điều không như ý muốn sự quan tâm yêu thương sẽ giúp mỗi người có thêm động lực, niềm tin để vượt qua - Giúp con người nhận ra một điều không gì quan trọng hơn những người thực sự luôn bên cạnh mình, cùng mình trong mọi hoàn cảnh dù hạnh phúc hay khổ đau, mọi sự quan tâm đối với những con người khác chỉ là những cảm xúc nhất thời, không mang lại những giá trị bền vững 4. Dẫn chứng, phản đề (ưu tiên cho dẫn chứng trong thực tế cuộc sống) - Thomas Edison nhờ tình yêu thương của mẹ mà từ một cậu bé bị trường học trả về thành một thiên tài với phát minh vĩ đại cho nhân loại. - Nick Vuijicic sinh ra khiếm khuyết, cha mẹ đã yêu thương và dạy dỗ, rèn luyện cho anh như một đứa trẻ bình thường, giúp anh tự lập và vươn lên hoàn cảnh từ bé - Trong cuộc sống tình yêu thương của những người bên cạnh mình sẽ giúp cho con người sống cuộc sống ý nghĩa - Phản đề: nhiều người không quan tâm đến những người bên cạnh mình, chạy theo thần tượng, quan tâm đời sống sự nghiệp của những người mình thần tượng... 5. Liên hệ cá nhân, bài học... - Quan tâm, yêu thương những người trong gia đình bằng lời nói, hành động, thái độ cụ thể - Sẵn sàng chia sẻ với người thân yêu bên cạnh mình, sống chân thành với họ - Phấn đấu nỗ lực trong học tập để những người bên cạnh mình yên tâm. |
0,5 0,25 0,25 1,5 0,25 0,25 0,5 0,25 0,25 |
|
6 (4,0đ) |
* Hình thức: bài văn, đảm bảo dung lượng, lập luận chặt chẽ ngữ pháp, chính tả... * Nội dung: a. Mở bài: - Nhắc đến nhà thơ VQP không thể không nhắc đến bài thơ "Nói với em", một tác phẩm đặc sắc của ông. Tác giả đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả khi diễn tả một cách tinh tế cách cảm nhận cuộc sống đặc biệt bằng tất cả tâm hồn qua bài thơ. b. Thân bài: - Với thể thơ bảy chữ giản dị, ngôn ngữ thơ gần gũi, cùng biện pháp tu từ điệp ngữ đặc sắc, mỗi khổ đều bắt đầu bằng giả định "nếu nhắm mắt...sẽ được" nhà thơ đã đưa người đọc đến với cách cảm nhận cuộc sống thật diệu kì... - Ở khổ thơ đầu, ta cảm nhận được thế giới thiên nhiên thật tươi đẹp (trích thơ). Đó là tiếng chim hót trong vườn, tiếng chim sâu, chim chìa vôi. Cả một không gian vô cùng yên bình và thơ mộng để kích thích trí tưởng tượng phong phú, để ta được hòa mình vào thiên nhiên, cảm nhận tất cả những gì đẹp nhất của thiên nhiên. - Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn “nói với em” những điều thú vị hơn nữa: (trích khổ 2). Nhắm mắt lại để cả tâm hồn và trái tim lắng nghe những lời kể ngọt ngào ấm áp của bà với những câu chuyện cổ tích thần tiên. Và bà sẽ dẫn cháu vào thế giới diệu kỳ, cũng chính điều này sẽ nâng bước chân cháu trên mọi nẻo đường. Cháu sẽ được bay lên với các cô tiên, cô Tấm hay chú bé đi hài bảy dặm... - Chưa hết, những câu thơ cuối, tác giả tiếp tục nói với em những điều gần gũi, thiết thân hơn nữa: (trích khổ 3). Vẫn với hình ảnh thơ giản dị nhà thơ đã giúp người đọc hình dung hình ảnh cha mẹ đã tần tảo sớm hôm nuôi lớn con cái từng ngày, người không chỉ “bồng bế” mà còn từng trải qua biết bao “vất vả” để nuôi ta được lớn khôn như ngày hôm nay. - Bài thơ là bức thông điệp vừa bình dị, vừa sâu sắc về tình yêu cuộc sống, biết sống cao đẹp, hiếu nghĩa, thủy chung. “Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay” là lời nhắn “em” biết sáng suốt yêu thương, hiếu kính cha mẹ bằng cách ứng xử và các hành động cụ thể hằng ngày. - Phải là một người có tâm hồn sâu sắc, biết trân trọng tất cả những gì bình dị trong cuộc sống thì nhà thơ mới cất lên được những vần thơ làm lay động trái tim người đọc đến vậy! c. Kết bài: - Chúng ta thật trân trọng biết bao cuộc sống này sau khi đọc bài thơ. Bằng việc sử dụng những hình ảnh thơ gần gũi mà sinh động, ngôn ngữ thơ đặc sắc tác giả VQP đã không chỉ khắc họa rõ nét những điều kì diệu của thiên nhiên, cuộc sống, con người mang đến mà ông còn giúp người đọc hiểu rằng hãy biết lắng nghe, nhìn nhận, suy nghĩ về cuộc sống quanh ta để từ đó biết sống đẹp, sống có tình có nghĩa. |
1,0 3,0 0,5 2,0 0,25 0,5 0,5 0,5 0,25 0,5 |
|
ĐỀ 8 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
ĐỌC - HIỂU: Đọc văn bản sau :
Chúng ta thường quan tâm đến việc nuôi dưỡng cơ thể bằng những loại thức ăn nào bổ dưỡng, lành mạnh, nhưng lại rất ít khi quan tâm đến việc nuôi dưỡng tâm hồn. Thật ra, tâm hồn ta cũng cần được nuôi dưỡng.Và xết về nhiều khía cạnh, tâm hồn là quan trọng và cần chú ý quan tâm hơn rất nhiều. Một tâm hồn trong sáng, khỏe mạnh dễ mang lại cho ta cuộc sống yên vui, hạnh phúc, ngay cả khi ta gặp phải những nghịch cảnh khó khăn.
(…) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa. Chỉ cần ta sống buông trôi, thiếu hiểu biết, cuộc đời ta sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài.Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác.
Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác, nhưng chúng ta rất thường lãng quên không chú ý đến việc này. Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nếu ý thức được điều này và bắt đầu chăm sóc gieo trồng những hạt giống tốt lành, chắc chắn bạn sẽ có được một cuộc sống tươi vui và hạnh phúc hơn nhiều.
(Trích Nuôi dưỡng tâm hồn nơi chính bạn).
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1(0.5 điểm): Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2(0.5 điểm): Theo đoạn trích, một tâm hồn trong sáng, khỏe mạnh mang lại cho ta điều gì? Sống buông trôi, thiếu hiểu biết sẽ dẫn đến hậu quả gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Dể thuyết phục người đọc về tầm quan tọng của việc nuôi dưỡng tâm hồn, tác giả sử dụng những lý lẽ nào ?
Câu 4 (1.0 điểm): Xác định các hình ảnh ẩn dụ trong câu: “Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại.” Nêu ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ đó.
Câu 5 (1.0 điểm) Em có đồng tình với ý kiến “Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác” không? Vì sao? ( Trình bày thành 1 đoạn văn khoảng 4 - 5 câu)
II LÀM VĂN
Câu 1 (2.0 điểm): Từ nội dung phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn khoảng một trang giấy thi trình bày suy nghĩ của bản thân về việc làm thế nào để nuôi dưỡng một tâm hồn tươi đẹp.
Câu 2: (4.0 điểm):
Em hãy viết bài văn phân tích bài thơ sau:
TẾT QUÊ BÀ
Bà tôi ở một túp nhà tre.
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nửa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.
Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.
(Đoàn Văn Cừ - Nguồn: Đoàn văn Cừ toàn tập, NXB Hội nhà văn, 2013)
HƯỚNG DẪN CHẤM
M
ÔN: NGỮ VĂN LỚP 9
(Dưới đây chỉ là những gợi ý mang tính định hướng chung. GV căn cứ vào bài làm cụ thể của HS để linh hoạt chấm điểm cho phù hợp. Nên tôn trọng sự sáng tạo của học sinh).
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Thang điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
|
|
|
1 2 |
- Thể loại: Nghị luận - Theo đoạn trích, một tâm hồn trong sáng, khỏe mạnh mang lại cho ta: cuộc sống yên vui, hạnh phúc ngay cả khi ta gặp phải những nghịch cảnh khó khăn. Còn nếu “sống buông trôi, thiếu hiểu biết” thì cuộc đời sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài. |
0,5 0,5 |
|
3 |
|
1.0 |
|
|
4 |
+ Bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn: Sống khô khan, thờ ơ vô cảm với mọi người, với chính mình + Mọc đầy cỏ dại:không chăm chút tâm hồn, để những đều không tốt xâm chiếm. |
0,5 0,5 |
|
|
5 |
Trình bày ý kiến của em, lí giải hợp lí. Gợi ý: - Em đồng ý với ý kiến. - Vì: + Chúng ta vẫn thường chăm chút nhiều cho vẻ bề ngoài mà quên đi rằng tâm hồn cũng cần được nuôi dưỡng, cần được chăm chút. Tâm hồn lành mạnh cũng sẽ góp phần nuôi dưỡng và phát triển thể xác, giúp người ta có cơ thể khỏe mạnh, dẻo dai. + Vẻ đẹp tâm hồn không có hình hài thực sự, chúng ta cũng không thể sờ vào, cầm nắm được nhưng nó mang ý nghĩa sâu xa và bền vững. Một tâm hồn đẹp sẽ giúp chúng ta biết yêu thương, biết lắng nghe, biết suy nghĩ, giúp chúng ta sống đẹp và sống có ích hơn. + Hơn nữa, vẻ đẹp tâm hồn tạo nên những nét riêng biệt, đặc trưng cho mỗi người. Nó khiến bạn trở nên độc đáo, khác biệt hơn trong mắt người khác. - Hoặc không đồng ý với lý giải hợp lý. |
1.0 |
|
|
5 |
HS đưa ra ý kiến của bản thân về cách nuôi dưỡng tâm hồn và so sánh với ý kiến của tác giả. Trình bày thành 1 đoạn văn khoảng 4 - 5 câu |
1.0 |
|
|
II |
|
|
|
|
|
1 |
1.Yêu cầu chung: đoạn văn phải rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết 2.Yêu cầu cụ thể a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cách nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn. c. Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau: I/ Mở đoạn:
II Thân đoạn 1. Giải thích: Tâm hồn con người là tổng hòa của nhiều yếu tố như cảm xúc, nhận thức, lí trí, khát vọng... Người có tâm hồn đẹp là người có tấm lòng nhân ái, bao dung, nhạy cảm trước mọi nỗi niềm của con người. 2. Bàn luận. Vì sao chúng ta phải nuôi dưỡng tâm hồn đẹp? - Vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp của phẩm chất bên trong, là yếu tố tạo nên nét đẹp chân chính của mỗi người. - Nuôi dưỡng tâm hồn là điều rất quan trọng và thật cần thiết. Việc làm ấy cần được tiến hành thường xuyên và ngay từ khi còn nhỏ. - Làm thế nào để nuôi dưỡng tâm hồn đẹp: Biết quan sát, lắng nghe, học hỏi, nhạy cảm, thấu hiểu, chia sẻ với người khác để cùng hướng tới những điều thiện. - Mỗi người có thể nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng nhiều cách khác nhau: + Biết lắng nghe sự chỉ bảo của ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo + Không ngừng học hỏi để nâng cao vốn sống, vốn hiểu biết + Luôn hướng thiện và có tâm hồn đồng cảm với người khác + Biết cách sống mình vì mọi người, bản thân không bao giờ vụ lợi và luôn có ý chí vươn lên trong cuộc sống + Tránh gây tổn thương cho những người xung quanh + Biết chia sẻ niềm vui mà bạn mình vừa nhận được,... lời nói đi đôi với việc làm, hành động bên ngoài thống nhất với suy nghĩ bên trong... + Lấy dẫn chứng * Mở rộng vấn đề : Phê phán một số người hiện nay thường chỉ quan tâm đến vẻ đẹp hình thức, ra sức chăm chút cho vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài mà không quan tâm trau dồi vẻ đẹp tâm hồn (công, dung, ngôn, hạnh) 3. Bài học nhận thức và hành động - Từ văn bản trên đã thức tỉnh mỗi người chúng ta hãy biết cái đẹp tiềm ẩn bên trong phẩm chất, tính cách mới tạo nên giá trị đích thực của mỗi con người, vẻ đẹp tâm hồn tôn vinh thêm cho vẻ đẹp hình thức. III/ Kết đoạn - Vẻ đẹp tâm hồn làm nên giá trị sâu xa, bền vững của con người. - Con người ta chỉ hoàn thiện khi có sự hài hoà giữa vẻ đẹp hình thức với vẻ đẹp tâm hồn. - Liên hệ với bản thân |
2.0 |
|
2 |
* Về kỹ năng - Biết cách làm kiểu bài nghị luận về một đoạn trích thơ - Xác định đúng vấn đề cần nghị luận : - Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc. - Diễn đạt lưu loát, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. * Về kiến thức Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần tập trung làm rõ các ý sau: I/ Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, và nêu ý kiến chung của người viết - Nhà thơ Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004) là một nhà thơ có phong cách đặc biệt viết về nông thôn. Làng quê Bắc Bộ đã trở thành một phần kí ức lấp lánh trong thơ ông. Tuy viết về những hình ảnh quen thuộc như ngôi nhà, cánh đồng hay một phiên chợ nhưng tất cả những hình ảnh gần gũi, quen thuộc ấy đều gắn liền với những nét đẹp văn hoá của làng quê Việt Nam yêu dấu. Bài thơ Tết quê bà đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên về hình ảnh ngôi nhà của người bà và Tết cổ truyền của dân tộc, khiến ai đọc cũng bồi hồi cảm xúc. II/ Thân bài: Tập trung nêu nội dung, chủ đề và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ. - Khái quát về bài thơ. + Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ Tết quê bà được sáng tác năm 1941, được đưa vào tập thơ Thôn ca năm 1944. Đến năm 2013, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đưa vào cuốn Đoàn Văn Cừ toàn tập. Bài thơ được trích ra từ cuốn sách đó. + Thể loại của bài thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ. Cả bài thơ gồm tám câu thơ ngắn gọn. - Nêu nội dung chủ đề: Bài thơ Tết quê bà miêu tả, biểu cảm về ngôi nhà giản dị, quen thuộc của bà nơi làng quê yên bình và cảnh ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Từ đó, nhà thơ thể hiện tình cảm yêu mến, gắn bó với con người, cảnh vật, ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Đồng thời nhắc khẽ người đọc phải biết trân trọng, giữ gìn những vẻ đẹp bình dị ấy, đặc biệt là nét đẹp văn hoá ngày Tết cổ truyền của dân tộc. - Làm rõ nội dung, chủ đề bài thơ: + Chủ đề của bài thơ thể hiện ở hình ảnh ngôi nhà của bà và cảnh ngày Tết ở quê bà trong bài thơ. Hình ảnh ngôi nhà của bà hiện lên thật giản dị “một túp nhà trẻ”, “một hàng cau trước hè”, “một mảnh vườn”, “giậu nứa”. Hình ảnh “một túp nhà trẻ” vừa gợi ngôi nhà bé nhỏ, đơn sơ vừa gợi cuộc sống nghèo, bình dị của bà. Đó cũng là tình cảm yêu thương, trân trọng pha lẫn chút xót xa của đứa cháu trước hoàn cảnh sống của bà. Nhưng hình ảnh “có một hàng cau chạy trước hè”, “một mảnh vườn bên rào giậu nứa” giúp ta hình dung ra ngôi nhà, mảnh vườn, bờ giậu, thật tươm tất, gọn gàng, sạch sẽ và cuộc sống không bon chen. Đó cũng là cuộc sống bình dị, dân dã nơi làng quê Việt Nam. Cuộc sống nghèo, mảnh vườn nhỏ nhưng không gợi sự heo hút, buồn vắng mà biểu thị một sắc màu tươi vàng của rau cải vườn nhà. “Xuân về hoa cải nở vàng hoe” một cuộc sống đời thường thanh đạm, quen thuộc, gần gũi. Cuộc sống thật yên bình nơi làng quê thôn dã và đằng sau hình ảnh ngôi nhà, mảnh vườn, bờ giậu ấy thấp thoáng hình ảnh người bà tần tảo, cần cù, chịu thương, chịu khó và đảm đang, tháo vát, gọn gàng, Cảnh Tết đến xuân về: Tết cổ truyền là ngày Tết quan trọng và ý nghĩa đối với mọi gia đình Việt Nam. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn vất vả, cái nghèo còn chưa hết nhưng ngày Tết nhà nào cũng có: Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh. Theo đó, hình ảnh ngày Tết cổ truyền trong Tết quê bà của nhà thơ cũng có đầy đủ: Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng/ Cả đêm cuối chạp nướng than hồng/ Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn/ Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông. Đó là những hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của ngày Tết: gạo nếp, bánh chưng, quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông. Khung cảnh ngày Tết trong thơ Đoàn Văn Cừ thật tấp nập, đông vui, ấm cúng, tràn ngập niềm vui và và rực rỡ sắc màu. Khung cảnh rộn rã, đông vui, ấm cúng của ngày Tết tại chính ngôi nhà giản dị, mộc mạc của bà đã gợi ra những niềm vui bình dị nhưng đầy ý nghĩa. Đặc biệt là ngày Tết cổ truyền, mọi thành viên trong gia đình đều được trở về mái nhà bình dị xưa để đoàn viên, cùng nhau làm mâm cơm cúng ông bà, tổ tiên, cầu mong một năm mới nhiều sức khoẻ, bình an và may mắn, thuận lợi. Ngày nay, khi những giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc đang dần bị mai một, con người đang chạy theo xu hướng hiện đại thì những giá trị văn hoá nói chung và ngày Tết cổ truyền nói riêng càng đáng quý biết bao. Đó là nét đẹp văn hoá cổ truyền của dân tộc có từ ngàn đời nay mà nhà thơ muốn nhắc nhở mọi người hãy trân trọng, giữ gìn. - Phân tích tác dụng một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: + Thể thơ bảy chữ, cách ngắt nhịp và gieo vần tự do, không bị gò bó thể hiện cảm xúc của nhà thơ một cách tự nhiên, trôi chảy. + Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, giàu sức gợi dễ dàng đưa ta trở về với những ngôi nhà thân yêu, quen thuộc và trở về với ngày Tết cổ truyền - nét đẹp văn hoá của dân tộc. + Biện pháp tu từ liệt kê: “ngôi nhà, mảnh vườn, bờ giậu, gạo nếp, bánh chưng, quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, cơm tám, dưa hành,... làm cho sự vật, sự việc hiện lên phong phú và đa dạng, cụ thể hơn. Đồng thời làm hiện lên Tết của bà trong kí ức của nhà thơ có đủ đầy những món ăn dân dã trong ngày Tết. + Kết hợp các phương thức biểu đạt kể, tả, biểu cảm làm cho nội dung vừa cụ thể vừa lắng sâu. => Bài thơ ngắn gọn, có sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung với những hình thức nghệ thuật độc đáo tạo cho bài thơ trọn vẹn về nội dung, nghệ thuật vừa thể hiện được chủ đề tác phẩm lại vừa thể hiện được tài năng, tình cảm của tác giả. III/Kết bài: Khẳng định lại giá trị của bài thơ. Cảm xúc của cá nhân hoặc bức thông điệp, lời nhắn gửi tới mọi người. |
0,5 |
|
ĐỀ 9 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Mọi người sẽ cảm thông và tha thứ cho bạn nếu bạn thiếu năng lực và kiến thức. Nhưng khi dối trá, bạn sẽ phải gánh chịu hậu quả khôn lường. Do đó, hãy luôn thể hiện sự chân thành của mình trong mọi hoàn cảnh. Cuộc sống của bạn sẽ trở nên bằng phẳng và dễ dàng hơn nếu bạn luôn sống chân thành.
Hãy chân thành với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đối tác của bạn. Nhưng trên hết, hãy học cách sống chân thành với chính bản thân. Nếu không làm được điều này, bạn sẽ không bao giờ thuyết phục được mọi người tin tưởng ở mình. Khi bạn tự tin nhìn thẳng vào mắt người đối diện và truyền cho họ niềm tin của mình, bạn sẽ có được sự tin tưởng và ủng hộ từ họ.
(Trích Không gì là không thể, George Matthew Adams, Thu Hằng dịch, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2022, tr 29 + 30)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định luận đề của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, cần phải sống chân thành với những ai?.
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của phép liên kết trong hai câu văn sau : “Mọi người sẽ cảm thông và tha thứ cho bạn nếu bạn thiếu năng lực và kiến thức. Nhưng khi dối trá, bạn sẽ phải gánh chịu hậu quả khôn lường.”
Câu 4 (1,0 điểm). Vì sao tác giả lại cho rằng: “Nhưng trên hết, hãy học cách sống chân thành với chính bản thân.”
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với ý kiến sau của tác giả không? Vì sao?
Cuộc sống của bạn sẽ trở nên bằng phẳng và dễ dàng hơn nếu bạn luôn sống chân thành.
Phần II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích trên, hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của thái độ sống chân thành.
Câu 2 (4,0 điểm). Phân tích bài thơ sau:
ÁO CŨ
Áo cũ rồi, mỗi ngày thêm ngắn
Chỉ đứt sờn màu bạc hai vai
Thương áo cũ như là thương kí ức
Đựng trong hồn cho mắt phải cay cay.
Mẹ vá áo mới biết con chóng lớn
Mẹ không còn nhìn rõ chỉ để xâu kim
Áo con có đường khâu tay mẹ vá
Thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm.
Áo đã ở với con qua mùa qua tháng
Cũ rồi con vẫn quý vẫn thương
Con chẳng nỡ mỗi lần thay áo mới
Áo dài hơn thấy mẹ cũng già hơn.
Hãy biết thương lấy những manh áo cũ
Để càng thương lấy mẹ của ta
Hãy biết thương những gì đã cùng ta sống
Những gì trong năm tháng trôi qua...
(Lưu Quang Vũ)
*Chú thích: Lưu Quang Vũ (17/4/1948 - 29/8/1988) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng. Bài thơ Áo cũ được viết vào năm 1963, khi tác giả mới 15 tuổi, học lớp 9 và đến năm 2002, Áo cũ mới được in trong tập thơ tình của nhà xuất bản Văn học.
-------------- Hết--------------
HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM
Phần I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
|
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
|
ĐỌC HIỂU |
4,0đ |
|
1 |
Luận đề: Hãy sống chân thành để cuộc sống tốt đẹp hơn |
0,5 |
|
2 |
Theo tác giả, phải sống chân thành với: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đối tác . Nhưng trên hết, hãy học cách sống chân thành với chính bản thân. |
0,5 |
|
3 |
+ Học sinh chỉ ra hai phép liên kết sau: - Phép lặp từ ngữ: Lặp từ “bạn” - Phép nối: Từ “Nhưng” + Tác dụng: Nhấn mạnh ý, tạo sự liên kết chặt chẽ cho câu văn. |
1,0 |
|
4 |
HS trình bày được suy nghĩ của mình về ý kiến của tác giả một cách thuyết phục, có thể theo hướng sau: * Ý kiến là lời khẳng định tầm quan trọng của việc sống chân thành với bản thân, vì: - Có sống chân thành với bản thân thì mới chân thành với mọi người. - Sống chân thành với bản thân sẽ khám phá được bản chất, năng lực trong con người mình để điều chỉnh hành vi cho phù hợp. |
1,0 |
|
5 |
Học sinh bày tỏ quan điểm của mình và lí giải phù hợp. Sau đây là một hướng trả lời: Em đồng tình với ý kiến trên, vì: - Sống chân thành thì sẽ được mọi người yêu mến, tôn trọng, khi gặp khó khăn sẽ được giúp đỡ. - Sống chân thành khiến tâm hồn con người luôn thanh thản, lạc quan, tràn đầy tự tin... |
1,0 |
Phần II. VIẾT (6,0 điểm)
|
|
Nội dung |
Điểm |
|
Câu 1 |
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của thái độ sống chân thành. |
2,0 |
|
Yêu cầu chung |
- Đề bài kiểm tra năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội của học sinh; đòi hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm riêng của mình để làm bài. - Xác định đúng vấn đề nghị luận. - Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: HS viết đúng hình thức đoạn văn, đúng quy định về số chữ, đảm bảo tính lôgic mạch lạc. - HS có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; diễn đạt sáng rõ, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp;… HS được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. |
|
|
Yêu cầu cụ thể |
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của thái độ sống chân thành |
0,25 |
|
2. Thân đoạn: Triển khai vấn đề nghị luận Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nhưng phải làm rõ ý nghĩa của thái độ sống chân thành trong cuộc sống. Có thể triển khai theo hướng: - Giải thích: Thái độ sống chân thành là cách con con người sống thật thà,đối xử với nhau bằng tấm lòng, bằng tình yêu thương không toan tính, vụ lợi... - Ý nghĩa của thái độ sống chân thành: + Thái độ sống chân thành là nền tảng để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Nhờ có sự chân thành mà con người biết quan tâm, yêu thương giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống thêm tốt đẹp. + Khi sống chân thành, tâm hồn con người luôn thanh thản, giúp con người có niềm tin vào bản thân và hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. + Người sống chân thành.cũng luôn tạo được niềm tin với mọi người và được yêu mến, tôn trọng. + Thái độ sống chân thành có sức lan toả rộng , tạo nên cảm xúc tích cực trong cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp, văn minh. (HS lấy dẫn chứng phù hợp để chứng minh) - Phê phán: Trái ngược với chân thành là là lối sống giả tạo, gian dối vụ lợi hoặc thờ ơ, vô cảm. Lối sống này làm nảy sinh nhiều tiêu cực ảnh hưởng xấu đến sự hình thành nhân cách và kìm hãm sự phát triển của xã hội. - Bài học nhận thức và hành động: + Thái độ sống chân thành là mục tiêu mà mỗi người cần hướng tới. Hãy chân thành với gia đình, bạn bè, mọi người. Nhưng trên hết, hãy học cách sống chân thành với chính bản thân. + Là học sinh,chúng ta cần rèn luyện để biết cư xử với mọi người một cách chân thành. |
1,0 |
|
|
|
3. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề: Hãy luôn thể hiện sự chân thành của mình trong mọi hoàn cảnh. Cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên bằng phẳng và dễ dàng hơn nếu ta luôn sống chân thành. |
0,25 |
|
|
4. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 5. Sáng tạo: Thể hiện quan điểm của người viết, có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
|
Câu 2 |
Phân tích bài thơ “Áo cũ” của Lưu Quang Vũ: |
4,0 |
|
Yêu cầu chung |
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. - Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ |
|
|
Yêu cầu cụ thể |
Học sinh có thể có nhiều cách làm bài khác nhau nhưng cần đảm bảo được những yêu cầu sau: |
|
|
I.Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm, nêu ý kiến đánh giá chung về tác phẩm - Lưu Quang Vũ (17/4/1948 - 29/8/1988) là một cây bút tài năng để lại dấu ấn trong nhiều thể loại: thơ ca, văn xuôi và đặc biệt là kịch. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là bài thơ “Áo cũ”. Bài thơ được viết vào năm 1963, khi tác giả mới 15 tuổi, học lớp 9 và đến năm 2002, Áo cũ mới được in trong tập thơ tình của nhà xuất bản Văn học. - Bài thơ là tình cảm sâu nặng của tác giả dành cho mẹ và sự trân trọng kí ức tuổi thơ của mình. |
0,5 |
|
|
II.Thân bài: 1.Nêu và phân tích chủ đề văn bản a. Chủ đề: Bài thơ "Áo cũ" của Lưu Quang Vũ là một tác phẩm cảm động về tình mẹ con và sự quý trọng những ký ức tuổi thơ. Nhà thơ đã dùng chiếc áo cũ như một biểu tượng đậm nét để thể hiện tình cảm sâu nặng của mình đối với người mẹ. b. Phân tích chủ đề: + Chiếc áo cũ gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ và thể hiện tình yêu thương sâu nặng của con đối với mẹ (Phân tích 2 khổ thơ đầu). . HS phân tích một số hình ảnh gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ: áo cũ, chỉ đứt sờn màu bạc hai vai, đường khâu mẹ vá... -> con nhớ đến hình ảnh mẹ tần tảo, chăm chút, yêu thương con. . HS phân tích từ ngữ thể hiện tình yêu thương của con với mẹ: thương áo cũ, thương kí ức, mắt cay cay, thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm... -> con xúc động trước tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc của mẹ. + Từ hình ảnh chiếc áo cũ, người con thể hiện những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời (Phân tích 2 khổ thơ cuối) . HS phân tích hình ảnh chiếc áo gắn bó với người con qua năm tháng: áo ở với con..., vẫn quý vẫn thương, chẳng nỡ thay áo mới, mẹ cũng già hơn... -> theo thời gian, con càng thấu hiểu hơn về mẹ và bày tỏ niềm xót xa khi mẹ già đi. . HS cảm nhận những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời: thương... manh áo cũ, thương lấy mẹ, thương những gì cùng ta sống... -> yêu thương, trân trọng, biết ơn mẹ và trân trọng quá khứ nghĩa tình... => Bài thơ thể hiện tình cảm tha thiết, mãnh liệt của con với mẹ và những suy ngẫm sâu sắc về mẹ, về cuộc đời. 2. Phân tích hình thức nghệ thuật đặc sắc: - Thể thơ: tự do -> thể hiện linh hoạt tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình. - Giọng điệu: khi tha thiết, khi sâu lắng... - Từ ngữ, hình ảnh: giản dị, gợi hình gợi cảm và giàu ý nghĩa. - Biện pháp tu từ: vận dụng tinh tế, linh hoạt các biện pháp tu từ (điệp ngữ, so sánh...) Lưu ý: HS lấy dẫn chứng một số từ ngữ, hình ảnh nổi bật để làm rõ nét đặc sắc nghệ thuật. => Bằng sự quan sát tinh tế, tài năng chọn lọc những lời hay tiếng đẹp, bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. * Đánh giá: Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ - Bài thơ không chỉ là sự tưởng nhớ về chiếc áo cũ mà còn là sự tri ân đối với mẹ, người đã dành cả cuộc đời để yêu thương và dạy dỗ con cái. Từng đoạn văn thể hiện sự biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với mẹ, và thông qua bài thơ, ông đã truyền tải một thông điệp rõ ràng về tình thương và hi sinh của người mẹ. bài thơ thể hiện rõ phong cách thơ Lưu Quang Vũ, gợi những niềm rung động sâu xa trong lòng người đọc. |
0,5 1,0 0,5 0,5 |
|
|
|
III.Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ với người viết, thông điệp của tác giả Bài thơ Áo cũ của Lưu Quang Vũ thật giản dị về hình thức nhưng lại rất xúc động với người đọc bao thế hệ. Từ những dòng thơ nhỏ bé, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã biến chiếc áo cũ thành một biểu tượng vĩ đại về tình mẹ con, và cảm xúc của mình về tình thương gia đình đã được thể hiện một cách sâu sắc và đầy xúc cảm. Bài thơ "Áo cũ" là một tác phẩm vĩ đại trong thơ văn Việt Nam, với sự kết hợp hoàn hảo giữa nghệ thuật và cảm xúc con người |
0,5 |
|
|
Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,25 |
|
|
Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo; văn phong trôi chảy; kết hợp các phương thức biểu đạt và kiến thức tiếng Việt để bài viết giàu hình ảnh, cảm xúc. |
0,25 |
……………………………
|
ĐỀ 10 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi sau:
Việc tử tế không phải là những gì to tát, phi thường mà đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị như câu chuyện được lan truyền trên mạng xã hội của cậu bé Đạt “thông cống” khi trời mưa, câu chuyện của nữ sinh nhặt được của rơi trả người đánh mất, cụ bà 80 tuổi với kinh nghiệm 20 năm vá đường không công, sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi… Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng…
Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống. Vì vậy, hãy tiếp tục lan tỏa những việc làm tử tế mỗi ngày để góp phần xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
(Theo Quang Vũ – Trải lòng về việc tử tế - Nguồn: kenh14.vn đăng ngày 6/6/2020)
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn trích trên mang đặc trưng của thể loại nào? Kể tên một văn bản đã học cùng thể loại với đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Em hãy chỉ ra những bằng chứng để làm sáng tỏ lí lẽ “đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị ... được lan truyền trên mạng xã hội" ?
Câu 3 (1,0 điểm): “Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng…”
Trình bày cách hiểu của em về quan điểm trên.
Câu 4 (1,0 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu văn sau: "Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng…"
Câu 5 (1,0 điểm): Em có đồng tình với tác giả rằng "Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống."? Vì sao?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ ngữ liệu phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những việc tử tế.
Câu 2 (4,0 điểm)
Phân tích bài thơ “Khát vọng” của Bùi Minh Tuấn
KHÁT VỌNG (Bùi Minh Tuấn)
Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội
Hãy sống như đồi núi vươn tới những tầm cao
Hãy sống như biển trào, như biển trào để thấy bờ bến rộng
Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông
Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la
Và sao không là phù sa rót mỡ màu cho hoa
Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông
Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung
Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
…………HẾT……………
HƯỚNG DẪN CHẤM
(Hướng dẫn chấm gồm có 06 trang)
|
|
|
Nội dung cần đạt |
Điểm |
|
Đọc hiểu |
Câu 1 |
- Xác định thể loại văn bản:Văn bản nghị luận - Văn bản đã học cùng thể loại với đoạn trích trên (bộ Chân trời sáng tạo). Thí sinh có thể kể tên một trong số các văn bản sau: + Ý nghĩa văn chương + Đấu tranh cho một thế giới hoà bình + Bài phát biểu của Tổng thư lí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu + ............. |
0,25 0,25 |
|
Câu 2 |
Bằng chứng để làm sáng tỏ lí lẽ “đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị ... được lan truyền trên mạng xã hội: - Câu chuyện về cậu bé Đạt thông cống khi trời mưa. - Câu chuyện nữ sinh nhặt được của rơi trả lại người mất. - Ông lão nông dân 70 tuổi với công việc 20 năm vá đường không công. - Sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi. ( Thí sinh nêu đúng 2 câu chuyện đạt 0.25đ ) |
0,5 |
|
|
Câu 3 |
Việc tử tế không chỉ được thể hiện qua hành động, mà còn được thể hiện ở thái độ sống đối với thế giới xung quanh. Gắn với cuộc sống đời thường, xuất phát từ những gì nhỏ bé, bình dị. (Thí sinh được trình bày theo quan điểm cá nhân, miễn hợp lí) |
1,0 |
|
|
Câu 4 |
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật : - Biện pháp nghệ thuật: Liệt kê - Tác dụng: + Nhấn mạnh những hành động đơn giản, diễn ra hàng ngày nhưng lại thể hiện sự tử tế. + Từ đó kêu gọi hãy làm việc tử tế từ những điều nhỏ bé nhất. |
1,0 |
|
|
Câu 5 |
Thí sinh chọn đồng ý hoặc không đồng ý và đưa ra lý giải hợp lệ: - Đồng ý vì làm việc tử tế không phải chỉ làm một lần, hai lần mà phải là cả cuộc đời, bằng những việc làm và hành động vô cùng đơn giản. Như vậy chúng ta mới có thể trưởng thành mỗi ngày, cảm thấy sống có ý nghĩa hơn và xã hội cũng sẽ ngày càng lan tỏa nhiều hơn những tấm gương người tốt việc tốt… - Không đồng tình. Lí giải. |
1,0 |
|
|
Viết |
Câu 1 |
Từ ngữ liệu phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những việc tử tế. |
2,0 |
|
* Yêu cầu về hình thức: Viết đúng một văn bản nghị luận ngắn, khoảng 200 từ. Trình bày mạch lạc rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của những việc tử tế. |
0,25 0,25 |
||
|
* Yêu cầu về nội dung: Vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai vấn đề, rút ra bài học nhận thức và hành động. Thí sinh có thể viết theo nhiều cách nhưng cần tập trung làm nổi bật ý nghĩa của những việc tử tế . Có thể theo hướng: a. Mở đoạn: Giới thiệu được vấn đề nghị luận ( ý nghĩa của những việc tử tế ) b. Thân đoạn: Nêu rõ ý nghĩa của những việc tử tế 1. Giải thích vấn đề. - Việc tử tế: tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác. 2. Phân tích vấn đề * Ý nghĩa của việc sống tử tế: Vậy tại sao chúng ta phải sống tử tế? Sự thật là không ai có thể bắt buộc bạn phải sống tử tế cả. Tuy nhiên sự tử tế lại đem lại cho chúng ta rất nhiều điều tốt đẹp: - Làm việc tử tế là thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi người. Là tấm gương tốt để mọi người noi theo. Giúp con người cũng như xã hội ngày càng phát triển đẹp đẽ, vững mạnh và văn minh hơn. - Làm việc tử tế là những hành động biểu hiện của một người có nhân cách đạo đức tốt và lối sống đẹp. Hãy sống với tinh thần “cho đi”, sống vì cộng đồng, luôn giúp đỡ những người xung quanh ta vượt qua khó khăn, giúp họ có niềm tin hơn với cuộc sống. Đó là biểu hiện của lối sống đẹp. - Làm việc tử tế cũng giúp bản thân sống một cuộc đời hạnh phúc, thanh thản. Khi bạn có thể giúp một cụ già sang đường bạn sẽ cảm thấy vui vẻ hơn. Khi bạn nhặt được đồ của người khác và trả lại cho họ bạn cũng thấy cuộc sống đang dần trở nên tốt đẹp hơn. Nếu sự tử tế xuất phát từ chính trong suy nghĩ của bạn và khiến bạn thực hiện hành động tốt thì chắc hẳn bạn sẽ thấy thanh thản và thoải mái trong tâm hồn. - Làm việc tử tế sẽ thiết lập được nhiều mối quan hệ lành mạnh. Thật vậy, khi bạn đối xử tốt với người khác mà không cần mong chờ sự trả ơn, mọi điều tốt đẹp dường như sẽ đến với bạn theo nhiều cách. * Bằng chứng: - Ở nhà, tại nơi thân thuộc nhất này bạn hãy làm những điều tốt đẹp cho người thân yêu của mình. Như một vài hành động: + Nói yêu bố mẹ, anh chị em của mình và nói rằng họ quan trọng với bạn như thế nào. + Hãy tập dậy sớm giúp đỡ mẹ vào mỗi buổi sáng, giúp gia đình làm việc nhà trong tâm trạng vui vẻ. + Vui vẻ giúp đỡ hàng xóm khi họ cần nếu có thể. - Tại nơi làm việc của mình bạn cũng đừng quên làm những điều tử tế tốt đẹp để môi trường làm việc trở nên lành mạnh, vui vẻ hơn. + Hãy nhớ nói "xin chào" và mỉm cười thật tươi với bạn bè + Đề nghị hỗ trợ bạn bè nếu họ cần và bạn có thể giúp. + Lắng nghe và chia sẻ với bạn bè của bạn nếu họ đang cảm thấy buồn. + Gửi lời khen và chúc mừng bạn bè trước những thành công của họ - Với những người xa lạ thì bạn có thể đối xử tử tế với họ thông qua những việc làm đơn giản như: + Giúp đỡ, nhường chỗ cho người già, trẻ em, người khuyết tật khi đi xe công cộng + Nhặt rác nằm xung quanh đường phố + Mỉm cười với người khác + Bỏ qua những lỗi lầm không may của người khác nếu có thể + Giúp đỡ người gặp khó khăn trong khả năng của bản thân 3. Đưa ra ý kiến trái chiều và phản biện: - Trong xã hội vẫn có không ít người có tính ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không cần suy nghĩ cho người khác, lại có những người vô cảm mặc kệ nỗi đau của đồng loại,...Tuy nhiên đâu đó có một số người sống “quá” tử tế, lương thiện với tất cả mọi người mà không phân biệt được xấu - tốt, đúng- sai dẫn đến bị lợi dụng lòng tốt. Đôi lúc lại gây hại cho bản thân. 4. Liên hệ bản thân + Bài học nhận thức và hành động c. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề +Thông điệp * Khuyến khích bài viết sáng tạo; có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện những suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận |
1,5 |
||
|
Câu 2 |
Phân tích bài thơ “Khát vọng” của Bùi Minh Tuấn |
4,0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ. |
0,25 |
||
|
1. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm, nêu ý kiến đánh giá chung về tác phẩm - Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn quê gốc ở vùng đất cách mạng huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.Tên tuổi của ông đã trở nên gần gũi, thân quen với người yêu nhạc. Có những bản nhạc đã ghi sâu vào lòng người như “Bài ca không quên” “Đất nước”, “Dấu chân phía trước”… Nhạc của ông không kỳ bí, không cao siêu, khó hiểu mà rất gần gũi, dễ hát. Ông thường dùng thơ để phổ nhạc, nên lời nhạc ngắn gọn nhưng súc tích, len lỏi sâu vào tâm hồn người nghe. Cuộc sống là nguồn cảm hứng vô tận trong ông, tình yêu quê hương, đất nước là đề tài quen thuộc với ông. - Được sáng tác từ mùa xuân năm 1985, phổ nhạc từ ý bài thơ “ Nhờ Đảng, tôi biết được” của Đặng Viết Lợi, ca khúc “Khát vọng” vẫn luôn giữ được sự tươi mới, hừng hực khí thế và đầy tính thời sự. Ca khúc đã đi vào lòng người nghe mấy chục năm qua khiến lòng ta xốn xang, xao xuyến. 2. Thân bài: Nêu và phân tích nội dung, chủ đề * Nêu nội dung, chủ đề: Ca khúc“ Khát vọng” của Bùi Minh Tuấn thể hiện khát vọng hướng tới những tình điều cao đẹp, được cống hiến cho cuộc đời chung. - “ Khát vọng” của Bùi Minh Tuấn là lời ước nguyện chân thành và tha thiết, là những khát khao và lý tưởng cống hiến không mệt mỏi để làm đẹp cho cuộc sống. Cũng là lời nhắc nhở, thúc giục thế hệ trẻ hôm nay phải chọn cho mình lối sống mang đến giá trị trên cơ sở giữ gìn những nét bản sắc của quê hương, dân tộc. * Phân tích nội dung, chủ đề: + Chủ đề tác phẩm được mở ra bằng những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng. Mở đầu trang thơ là bốn lần điệp ngữ “hãy sống như…” cộng với kết cấu lặp lại nhấn mạnh lời mong muốn thiết tha của nhạc sĩ dành cho mọi người: Điều thứ nhất hãy sống như chính cuộc đời mà ta đang sống và phải biết trân trọng lịch sử, cội nguồn, truyền thống của cha ông đã đi trước. Đó là lối sống dựa trên đạo lý “uống nước nhớ nguồn” từ bao đời nay của cha ông ta. Điều thứ hai hãy sống giống như những đồi núi vững chãi, thách thức trước khó khăn, gian khổ để vươn đến những tầm cao mới và khẳng định được giá trị của mình. Điều thứ ba hãy sống như biển trào để cảm nhận được những nhịp đập của con sóng và bờ biển rộng bao la, để thấy được bến bờ bao la, vô tận của cuộc đời. Cuối cùng hãy sống với những ước vọng cao đẹp để thấy cuộc đời mênh mông, rộng lớn nhưng có giá trị vô cùng. Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội ……………………………… Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông. -> Đó đều là những khát vọng sống cao đẹp mà nhạc sĩ muốn thế hệ trẻ hướng tới, các điệp ngữ “hãy sống như”… xuất hiện kết hợp với nhịp điệu nhanh, dồn dập, nhấn mạnh khát vọng sống cao đẹp của nhạc sĩ và niềm mong muốn đến cháy bỏng của ông dành cho thế hệ trẻ hôm nay. + Chủ đề tác phẩm được thể hiện ở tám câu thơ còn lại tiếp tục mạch cảm xúc về lẽ sống cao đẹp: Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la Và sao không là phù sa rót mỡ màu cho hoa ……………………………………………. Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư + Lời thơ tha thiết, dìu dặt rồi vút cao cùng những câu hỏi tu từ tự vấn lòng và tự vấn người: sao không là gió, là mây để thấy bầu trời bao la; sao không là phù sa để rót mật ngọt cho đời, gieo màu mỡ cho cây cối, hoa lá; sao không là bài ca để ngân nga tình yêu đôi lứa; sao không là mặt trời để gieo hạt nắng vô tư, tự nguyện sưởi ấm cho cuộc đời, xua tan giá lạnh mùa đông; sao không là hạt giống để ươm mầm thành cây và cuối cùng là sao không là đàn chim để gọi bình minh thức dậy…Liên tiếp các điệp ngữ “sao không|”, “và sao” xuất hiện nhấn mạnh những mong mỏi của nhạc sĩ với cuộc đời. Đó đều là những khát vọng và lý tưởng sống cao đẹp, thể hiện mong ước tự nguyện cống hiến cho cuộc đời, là lẽ sống đẹp của tuổi trẻ và con người hôm nay như một lời động viên, thôi thúc con người hãy sống và theo đuổi những mơ ước, những khát vọng của chính bản thân mình. Bài hát nhắc đến những mục đích sống của con người, tưởng chừng như to tát nhưng thực ra, đó đều là những điều bình dị mà ai ai cũng có thể làm được. Đó là sống yêu thương nguồn cội, sống luôn thẳng đầu nhìn về tương lai, để thấy và hòa mình vào với thiên nhiên, với những ước mơ cháy bỏng, và quan trọng nhất là được sống cuộc đời của chính mình, để dù sau này, dù khi trở về với cát bụi cũng không phải hối tiếc bất cứ điều gì. -> Giọng điệu thiết tha, ngân nga cảm xúc, nhịp dồn dập, cảm xúc chân thành của lời ca khiến những mong ước ấy trở nên thật tha thiết, có sức lay động mạnh tâm hồn người đọc, người nghe. + Chủ đề của tác phẩm mang lại cho người đọc cảm giác khát khao, hy vọng và động lực để sống như đời sống, đời núi vươn tới những mục tiêu cao hơn và yêu thương nguồn cội của mình. Thi phẩm truyền tải được thông điệp tích cực và sâu sắc về lối sống có trách nhiệm và ước mơ, giúp người đọc cảm nhận được giá trị của cuộc sống và tình yêu thương. Những vần thơ đầy ý nghĩa trong bài thơ “Khát vọng” đã nói hộ tiếng lòng của rất nhiều người về những khát vọng đẹp đẽ thể hiện được lý tưởng sống của con người hôm nay. Đó là lời nhắc nhở hãy sống làm sao để mang đến giá trị ý nghĩa cho cuộc đời, đừng sống hoài, sống phí , hãy sống đẹp để cống hiến, làm đẹp cho chính bản thân mình , cho cộng đồng, xã hội từ đó khẳng định được giá trị của mình trên cuộc đời này. - Bài thơ đem đến cho mọi người cảm xúc phong phú, cảm phục tự hào về tình yêu cuộc đời tha thiết mà tác giả gửi gắm. Đó là khát vọng hóa thân để cống hiến và dựng xây cuộc đời. b. Phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật - Bài thơ với những ca từ dễ hiểu, lời ca ngọt ngào, êm ái, sử dụng những từ ngữ chất chứa nhiều tâm tư tình cảm, là lời của những trái tim yêu thương cuộc đời, sống tận hiến và luôn hướng tới tương lai trong tâm thế vui vẻ, hạnh phúc nhất| - Bài thơ sử dụng khá nhiều điệp từ, điệp ngữ nhất là kết cấu lặp lại hãy sống như… sao không… vì sao… tạo sự liên kết nhịp nhàng giữa các dòng thơ, tạo âm hưởng giục giã, nhấn mạnh những khát khao và mong muốn chân thành của nhà thơ. Những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi như “mặt trời gieo hạt nắng, gọi bình minh thức giấc”… phép liệt kê tầng bậc các hình ảnh khiến bài thơ giàu sức gợi, đồng thời tao âm hưởng du dương, nhẹ nhàng và bay bổng cho bài hát, nhấn mạnh ý tưởng và biểu đạt cảm xúc. - Với nhịp 6/8 thong thả, giai điệu trầm ấm, âm vực thấp ở đoạn đầu thể hiện nỗi trăn trở từ lâu đang chất chứa trong lòng. Sang đoạn sau nhịp điệu nhanh, rộn ràng, tha thiết…giai điệu chợt vút lên như muốn bày tỏ khát vọng, ý nguyện thiết tha mong muốn được cống hiến cho cuộc đời chung. - Khẳng định lại giá trị của tác phẩm, nêu cảm xúc của cá nhân hoặc bức thông điệp mà tác giả muốn gửi tới mọi người. 3. Kết bài: Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm |
0,25 1.75 0.75 |
||
|
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ. |
0,5 |
||
|
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... |
0,25 |
…………HẾT……………
|
ĐỀ 11 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
(1) Ai cũng có thể làm người tử tế. Rất nhiều câu chuyện đã cho ta thấy điều đó: Một anh chàng xe ôm công nghệ khi thấy cô sinh viên quên mang tiền, đã “lì xì” cuốc xe ôm cho cô kịp giờ học. Việc ấy rất nhỏ, thường tình và khi cô gái đưa chuyện lên mạng được nhiều người bình luận, chia sẻ tích cực. Hay như nhiều người già cả, neo đơn tự nguyện xin ra khỏi diện “hộ nghèo” để nhường sự hỗ trợ cho người khác. Bị người đi xe máy đâm vào làm hỏng ô tô đắt tiền, anh Huỳnh Bảo Toàn ở TP Hồ Chí Minh không những không bắt đền mà còn hỗ trợ người đi xe máy tiền sửa chữa và rồi hôm sau còn tặng chiếc xe máy mới, chỉ vì “người ta nghèo khổ hơn, giúp không được sao còn bắt đền?”.
(2) Suy nghĩ, hành động vì người khác, cho lợi ích của người khác trong khi sẵn sàng hứng chịu thiệt thòi, nguy hiểm về mình thật sự đáng quý, đáng trân trọng biết bao. Vô vàn những câu chuyện nhỏ bé như thế chúng ta vẫn chứng kiến hoặc nghe được hằng ngày. Tất cả những người làm việc tử tế đó đều là người bình thường, như chúng ta. Thậm chí, rất nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập ít hơn, địa vị xã hội thấp hơn chúng ta... Và, bạn hãy thử nghĩ xem: Việc tử tế gần đây nhất mà bạn đã làm? Từ bao giờ, có phải quá lâu rồi không, hay là, bạn chưa bao giờ làm?
(3) Chiết tự từ chữ Hán, “tử” là nhỏ, “tế” là những điều bình thường. Gốc của tử tế là sự tốt bụng. (…) Vậy nhưng, áp lực từ cuộc sống, những thất bại trong cuộc đời đôi khi làm ta cảm thấy mình bị thiệt thòi, bị đối xử bất công, khiến ta tự dựng lên bức thành lũy đầy mặc cảm trong tâm hồn - là một phản vệ bản năng - làm ta run sợ, cảnh giác và thờ ơ trước khó khăn, đau khổ của người khác. Có lúc nào đó, ta đã quay mặt đi, không làm một điều rất nhỏ mà ta biết có người rất cần điều đó, trong khi ta hoàn toàn có thể... Dần dần đến một ngày, lòng ta trơ lì, nông cạn, thậm chí không còn trắc ẩn để nhận thấy được nỗi khổ cực của người khác. Ta quên mất mình hoặc thậm chí không nghĩ rằng mình có thể làm được điều tử tế.
(4) Thật ra, sự tử tế, lòng thiện lương tiềm ẩn trong ta, chờ ta cởi mở tấm lòng và thực hiện. Các nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định, niềm hạnh phúc nhận được khi người ta làm việc tốt, việc thiện tạo nên cảm giác tự tin, ý thức bản ngã và nhất là mang lại sức mạnh tinh thần to lớn. Vậy là, khi ta sống tử tế với người khác, cũng chính là tử tế với cuộc đời mình.
(Trích Ai cũng có thể làm người tử tế, báo Quân đội nhân dân, 21/03/2021)
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Theo đoạn trích, người tử tế là người như thế nào?
Câu 3. (0,5 điểm) Em hãy chỉ ra và nêu tác dụng của phần trích dẫn trong đoạn (1)?
Câu 7. (0,5 điểm) Xác định cách trình bày vấn đề trong đoạn (2) của văn bản.
Câu 8. (0,5 điểm) Tác dụng của cách trình bày vấn đề trong đoạn (2) là gì?
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, tại sao tác giả lại viết: Ai cũng có thể làm người tử tế?
Câu 5. (1,0 điểm) Cuộc sống hàng ngày của chúng ta có rất nhiều những hành động tử tế được diễn ra hàng ngày. Kể ra ít nhất một việc tử tế mà em đã thực hiện (hoặc đã được chứng kiến)? Chia sẻ cảm xúc của em sau khi thực hiện (hoặc chứng kiến) những việc tử tế đó?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của em về ý kiến: khi ta sống tử tế với người khác, cũng chính là tử tế với cuộc đời mình.
Viết bài văn nghị luận phân tích tác phẩm “Khát vọng” của tác giả Phạm Minh Tuấn.
KHÁT VỌNG
Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội
Hãy sống như đồi núi vươn tới những tầm cao
Hãy sống như biển trào, như biển trào để thấy bờ bến rộng
Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông
Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la
Và sao không là phù sa rót mỡ màu cho hoa
Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông
Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung
Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư.
* Ghi chú:
Phạm Minh Tuấn quê gốc ở vùng đất cách mạng Xuân Trường, Nam Định. Tên tuổi của ông đã trở nên gần gũi, thân quen với người yêu nhạc. Nhạc của ông không kỳ bí, không cao siêu, khó hiểu mà rất gần gũi, dễ hát. Ông thường dùng thơ để phổ nhạc, nên lời nhạc ngắn gọn nhưng súc tích, len lỏi sâu vào tâm hồn người nghe. Cuộc sống là nguồn cảm hứng vô tận trong ông, tình yêu quê hương, đất nước là đề tài quen thuộc với ông.
Bài thơ được sáng tác từ mùa xuân năm 1985, phổ nhạc từ ý bài thơ “Nhờ Đảng, tôi biết được” của Đặng Viết Lợi. Bài thơ “Khát vọng” vẫn luôn giữ được sự tươi mới, hừng hực khí thế và đầy tính thời sự. Bài thơ đã đi vào lòng người nghe mấy chục năm qua khiến lòng ta xốn xang, xao xuyến.
................HẾT...............
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Văn bản nghị luận xã hội |
0,5 |
|
2 |
Theo đoạn trích, người tử tế là người: “suy nghĩ, hành động vì người khác, cho lợi ích của người khác trong khi sẵn sàng hứng chịu thiệt thòi, nguy hiểm về mình.” |
0,5 |
|
|
3 |
- Phần trích dẫn trong đoạn (1) là: “người ta nghèo khổ hơn, giúp không được sao còn bắt đền?” - Tác dụng của phần trích dẫn: Dẫn lại chính xác lời nói của nhân vật (anh Huỳnh Bảo Toàn ở TP Hồ Chí Minh) |
1,0 |
|
|
4 |
HS lí giải được vấn đề một cách hợp lí: - Ai cũng có khả năng trở thành người tử tế: vì sự tử tế là một phẩm chất tự nhiên, xuất phát từ lòng nhân ái và ý thức về trách nhiệm xã hội. Tử tế không yêu cầu bất kỳ kỹ năng đặc biệt nào hay kiến thức cao siêu. Đơn giản chỉ là những hành động nhỏ như lắng nghe, chia sẻ, hay thể hiện sự quan tâm đến người khác. Bất cứ ai, ở bất kỳ độ tuổi, hoàn cảnh hay trình độ nào, đều có thể thực hiện những hành động tử tế. Nó nằm trong tầm tay của mỗi người và có thể được phát triển qua thời gian và qua những hành động nhỏ hàng ngày. |
1,0 |
|
|
5 |
- HS kể ra được ít nhất một việc tử tế mà mình đã từng thực hiện (hoặc được chứng kiến); chia sẻ được những cảm xúc, suy nghĩ tích cực của bản thân sau khi thực hiện (hoặc chứng kiến) việc tử tế ấy * Gợi ý: - Việc tử tế: + Giúp đỡ người gặp nạn; + Giúp bạn vượt qua khó khăn trong học tập và trong cuộc sống; + Dọn rác thải ở khu dân cư… - Cảm xúc, suy nghĩ: Cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, tự hào về bản thân; thấy cuộc sống có ý nghĩa…(Nếu là mình thực hiện) + Cảm thấy vui, hạnh phúc; thấy yêu cuộc sống vì trong xã hội nhiều người tốt, còn nhiều điều ý nghĩa, giá trị… (Nếu là được chứng kiến) |
1,0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
6,0 |
|
|
1 (2,0 điểm) |
* Hình thức: HS viết được đoạn văn đảm bảo về thể thức, dung lượng (khoảng 200 chữ), không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Lời văn rõ ràng, trong sáng, mạch lạc. * Nội dung: Trình bày được suy nghĩ về ý kiến một đúng đắn, hợp lí. HS có thể có nhiều cách diễn đạt, mang dấu ấn cá nhân. Có thể theo gợi ý sau: - Mở đoạn: Giới thiệu và khẳng định vấn đề khi ta sống tử tế với người khác, cũng chính là tử tế với cuộc đời mình là ý kiến đúng đắn. - Thân đoạn: Phân tích, giải thích: Khi chúng ta sống tử tế với người khác, cũng chính là chúng ta đang tạo ra một môi trường sống tích cực, lành mạnh và đầy ý nghĩa cho chính bản thân mình: + Khi đối xử tốt với người khác, ta có thể tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp. Người khác sẽ đáp lại sự tử tế của ta bằng sự tử tế của họ. Mọi người sẽ yêu quý nhau hơn. + Sống tử tế giúp bạn cảm thấy tự hào về bản thân và góp phần tạo nên sự tự tin và sự hài lòng với cuộc sống. + Khi giúp đỡ người khác và sống tử tế, ta cũng cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc hơn; cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn - Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề: Sống tử tế với người khác không chỉ là một hành động nhân văn mà còn là một cách để chăm sóc chính mình, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa hơn. - Lưu ý: Học sinh có thể có những ý sáng tạo. Nếu các ý đó hợp lý vẫn khuyến khích cho điểm. |
0,5 0,25 1,0 0,25 |
|
II |
|
|
4,0 |
|
2 (4,0 điểm) |
1. Đảm bảo cấu trúc và hình thức của bài văn phân tích tác phẩm văn học. Đầy đủ bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài; |
0,25 |
|
|
2. Xác định đúng vấn đề: Nghị luận văn học - Phân tích một tác phẩm văn học |
0,25 |
||
|
3. Triển khai vấn đề: HS có thể viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học theo nhiều cách, văn phong mạch lạc; lối viết sáng tạo, mang đậm dấu ấn, cảm nhận cá nhân; nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau: I. Mở bài: + Giới thiệu tác phẩm Khát vọng của tác giả Phạm Minh Tuấn. + Nêu khái quát đặc sắc về chủ đề khát vọng cống hiến, ước mơ cao đẹp của con người. II. Thân bài: * Luận điểm 1: Chủ đề của tác phẩm - Tác phẩm thể hiện khát vọng cống hiến, ước mơ cao đẹp của con người. - Phân tích lí lẽ bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề: + Lí lẽ 1: Khát vọng sống trân trọng lịch sử, nguồn cội, truyền thống cha ông để vươn cao, vươn xa hơn Dẫn chứng: Thứ nhất, hãy sống đúng với cuộc đời mình, trân trọng lịch sử, nguồn cội và truyền thống của cha ông. Thứ hai, hãy sống vững chãi như những ngọn núi, vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới những tầm cao mới, khẳng định giá trị bản thân. Thứ ba, hãy sống như biển cả mênh mông, để cảm nhận được sự rộng lớn, vô hạn của tri thức con người. Cuối cùng, hãy sống với những ước vọng cao đẹp để thấy cuộc đời rộng lớn, nhưng đầy giá trị. =>Đây đều là những khát vọng sống cao đẹp mà nhà thơ mong muốn thế hệ trẻ hướng tới + Lí lẽ 2: Khát vọng sống cống hiến cho đời, lẽ sống đẹp của tuổi trẻ, tình yêu con người, yêu cuộc sống. Dẫn chứng: Tại sao không sống như gió, như mây để cảm nhận sự bao la của bầu trời? /Tại sao không sống như phù sa để gieo mật ngọt, làm màu mỡ cho đời? /Tại sao không là bài ca để lan tỏa tình yêu thương? /Tại sao không như mặt trời, gieo nắng vô tư, sưởi ấm và xua tan giá lạnh? =>Đây là những khát vọng sống, lý tưởng cống hiến cho đời, là lẽ sống đẹp của tuổi trẻ và của con người hôm nay + Lí lẽ 3: Khát vọng về lẽ sống mạnh mẽ, hiên ngang, lạc quan, tiên phong. Dẫn chứng: Tại sao không là bão, là giông để thấy được sự mạnh mẽ hiên ngang,/sao không là ánh lửa đêm đông để đem lại sự lạc quan, niểm tin yêu cho cuộc sống/ sao không là hạt giống xanh để gieo lên sự hy vong, tin yêu / sao không là đàn chim gọi bình minh, là mặt trời gieo hạt nắng …để tiên phong đem những điều có ích đến cho cuộc sống… => Khát vọng sống mạnh mẽ, dám thử thách, trải nghiệm để đem những mong muốn cao đẹp đến với cuộc đời. * Luận điểm 2: Đặc sắc về nghệ thuật - Lý lẽ 1: Thể thơ tự do, vần, nhịp thơ, bố cục linh hoạt Bằng chứng: Số chữ trong mỗi dòng thơ không giống nhau,vần chân (rộng-mông, la- hoa,…), mỗi khổ thơ gồm 4 dòng, thể hiện rõ những khát vọng, cách ngắt nhịp linh hoạt tạo nên sự liên kết nhịp nhàng giữa các câu thơ, nhịp điệu thơ nhanh, dồn dập càng làm nổi bật khát vọng sống mạnh mẽ và niềm khao khát của tác giả dành cho thế hệ trẻ hôm nay… - Lí lẽ 2: Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ: điệp ngữ, ẩn dụ, so sánh, liệt kê,.. Bằng chứng Bài thơ sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ và kết cấu lặp lại như “hãy sống như…”, “sao không…”, “vì sao…” tạo nên sự liên kết nhịp nhàng giữa các câu thơ, đồng thời nhấn mạnh những khát khao và mong muốn chân thành của nhà thơ So sánh (như đồi núi, như biển trào, như ước vọng,..) Liệt kê (là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông). Ẩn dụ giàu sức gợi (như mặt trời gieo hạt nắng, gọi bình minh thức giấc) khiến bài thơ trở nên sâu lắng hơn. - Lí lẽ 3: Mạch cảm xúc được thể hiện trong 3 khổ thơ là những khát vọng cao đẹp, dâng hiến cho cuộc đời. Bằng chứng: tình cảm rất đời thường, giản dị nhưng cũng rất đỗi cao đẹp… Lưu ý: Học sinh có những cảm nhận riêng, hợp lý với chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm. Nêu được 3/5 lý lẽ, bằng chứng có thể cho điểm tối đa. III. Kết bài: - Khẳng định ý kiến về chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm - Nêu suy nghĩ, cảm xúc (bài học) rút ra từ tác phẩm. |
0,25 1,25 1,25 0,25 |
||
|
4. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt, không mắc lỗi diễn đạt (dùng từ, đặt câu). |
0,25 |
||
|
5. Sáng tạo. - Bố cục mạch lạc, lập luận chặt chẽ, sáng tạo. - Biết kết hợp các yếu tố tự sự, biểu cảm phù hợp tạo sức thuyết phục và hấp dẫn của bài viết. |
0,25 |
................HẾT...............
|
ĐỀ 12 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau rồi thực hiện các yêu cầu bên dưới:
GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ ông đã ngoài bốn mươi tuổi, đã trải qua thời Lê – Trịnh, thời Tây Sơn đến thời Nguyễn. Những năm thiếu thời sống ở Thăng Long, ngót mười năm lưu lạc sống chung với nhân dân, và mấy năm làm quan dưới triều đình mới, ông đã chứng kiến những cảnh thối nát của xã hội phong kiến suy tàn thời Lê -Trịnh, đến sự vùng dậy mãnh liệt của thời Tây Sơn, v.v… Những biến cố ấy khắc sâu vào tâm trí của ông và được phản ánh vào văn chương một cách sâu sắc.
Trong Truyện Kiều, mới thoáng qua bề ngoài ta thấy chế độ phong kiến yên tĩnh, vững vàng “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng thực chất thì mục ruỗng từ bên trong. Bọn quan lại phong kiến toàn là lũ sâu mọt, là những thế lực vô cùng hắc ám: Một tên quan xử kiện vụ Vương Ông, thằng bán tơ vu oan cho gia đình họ Vương, nhưng quan chẳng cần điều tra, nghiên cứu gì, chỉ cốt khảo cho ra tiền: “Có ba trăm lạng việc này mới xong”, đẩy gia đình họ Vương vào cảnh tan nát, phá tan mối tình đẹp đẽ của Thúy Kiều và Kim Trọng.
Đến như “Quan Tổng đốc trọng thần” họ Hồ, đại diện cho triều đình cũng là con người bỉ ổi, mất tư cách: dụ Từ Hải hàng rồi lừa giết một cách hèn nhát, dở trò dâm ô ngay với người vợ kẻ mình giết, rồi đem gán cho một tên thổ quan, để đến nỗi Kiều phải gieo mình xuống sông Tiền Đường.
Trong lúc đó, bọn đại quí tộc như “họ Hoạn danh gia” tha hồ làm mưa làm gió. Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước. Hoạn Thư còn lập mưu bắt cóc Kiều đem về cho mụ mẹ ngược đãi và bày ra trò gặp gỡ éo le chua xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Hoạn Thư “con quan Lại bộ”, tuy thông minh sắc sảo có thừa nhưng vô cùng nham hiểm độc ác:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.”
Bên cạnh cường quyền, bọn phong kiến quan liêu ấy còn có thứ quyền hung hãn hơn là đồng tiền. Cả một lũ quan lưu manh “trong tay sẵn có đồng tiền” nên chúng tha hồ hoành hành làm hại những người lương thiện. Đồng tiền mà trước đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo tác dụng phá hoại đạo đức phong kiến:
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử, Hết cơm hết rượu hết ông tôi.”
Đến thời Nguyễn Du, đồng tiền càng tác oai tác quái hơn. Cũng vì có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật. “Nghĩ rằng cũng mạch thư hương” như Sở Khanh, vì tiền mà chịu làm “mặt mo” để thi hành độc kế của Tú Bà… Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen”. Nó dày xéo lên công lý, nó mua được lương tâm của con người. Nó đánh giá tài đức, phẩm cách con người như đánh giá một món hàng bán ngoài chợ. Và Nguyễn Du đã vạch mặt tác hại của đồng tiền đối với xã hội và cuộc sống con người:
“Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
Qua đó, ta thấy được xã hội trong Truyện Kiều là một xã hội phong kiến thối nát. Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó. Truyện Kiều quả thật là một “Bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến xấu xa, tàn bạo”.
(Trích: Những giá trị và hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều – GS.TS.Lê Văn Quán,Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113),2012; tr.3-11)
Câu 1.( 0,5 điểm): Đoạn trích trên được viết theo thể loại nào?
Câu 2. ( 0,5 điểm) : Chỉ ra hệ thống luận điểm trong đoạn trích?
Câu 3. (1 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu văn sau :Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó
Câu 4. ( 1điểm) Qua văn bản trên, tác giả bày tỏ quan điểm gì?
Câu 5 ( 1điểm Từ văn bản trên, anh/ chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1(2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc đoạn thơ sau:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác gà trưa gáy não nùng;
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng.
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ Me tôi thuở thiếu thời,
Lúc Người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng Me tôi chửa xóa mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa.
(Nắng mới – Trích Tập thơ Tiếng thu -1939, Lưu Trọng Lư)
Câu 2 ( 4 điểm).Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề : Hiện nay học sinh chịu nhiều áp lực trong học tâp.
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
|
|
1 |
Văn bản trên được viết theo thể loại : Văn nghị luận |
|
2 |
Văn bản có 2 luận điểm: – Luận điểm 1: Bối cảnh hiện thực thời Nguyễn Du sống. – Luận điểm 2: Sự tác động của bối cảnh hiện thực đối với “Truyện Kiều”. |
|
|
3 |
- Biện pháp tu từ: Liệt kê các nhân vật như "Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh" - Tác dụng: Làm nổi bật sự đa dạng và phổ biến của các nhân vật xấu xa, tàn bạo trong xã hội mà Nguyễn Du muốn phê phán. Nó cũng giúp tăng cường ấn tượng về mức độ thâm sâu của sự xấu xa trong xã hội đó, khiến người đọc cảm thấy ghê tởm và đồng cảm với những nạn nhân của sự bất công. |
|
|
4 |
Quan điểm: – Đánh giá cao giá trị hiện thực trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; – Phê phán chế độ phong kiến thời kì suy tàn. * Lưu ý: - HS trả lời được các ý trên cho điểm tối đa. - HS nêu được các ý khác mà phù hợp vẫn cho điểm tối đa |
|
|
5 |
Rút ra bài học về cách ứng xử với cái xấu, cái ác trong cuộc sống hiện nay: – Không hùa theo, không tiếp tay cho cái xấu, cái ác; – Cần mạnh mẽ lên tiếng và có những hành động để ngăn chặn, loại bỏ cái xấu, cái ác; – Cần kêu gọi mọi người cùng chung tay để đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác. * Lưu ý: - HS trả lời được các ý trên cho điểm tối đa. - HS nêu được các ý khác mà phù hợp vẫn cho điểm tối đa |
|
II. Viết |
Câu 1 |
2,0 |
|
1. Yêu cầu hình thức, kĩ năng - Đúng đoạn văn phát biểu cảm nghĩa, dung lượng đảm bảo. - Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu |
0, 25 |
|
|
2. Yêu cầu nội dung, kiến thức * Mở đoạn: Giới thiệu tác giả và đoạn thơ; nêu ấn tượng, cảm xúc chung về đoạn thơ. |
0,25 |
|
|
* Thân đoạn: Nêu cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. + Nội dung - Đoạn thơ trải dài theo mạch cảm xúc, kết cấu đan xen giữa quá khứ và hiện tại như một hồi ức về người mẹ thân yêu của nhà thơ. - Qua hồi ức của nhà thơ, hình ảnh của người mẹ chỉ còn là chút kỷ niệm nhạt nhòa đọng lại trong tâm hồn non nớt, thơ ngây của đứa trẻ lên mười: + Đó là khi mẹ thường mang áo ra phơi để áo thơm mùi nắng sau những ngày đông rét mướt. + Hình ảnh người mẹ chưa hiện lên trực tiếp mà chỉ thấp thoáng, lung linh sau màu áo đỏ, sau lưng giậu. Đó có lẽ cũng là hình ảnh đẹp đẽ nhất, trìu mến thương yêu nhất mà nhà thơ còn lưu giữ, khắc sâu trong tâm trí. - Hình ảnh nét cười đen nhánh sau tay áo gợi hình ảnh người mẹ vừa lấp lánh tỏa sáng, vừa e ấp, kín đáo trong nụ cười tươi tắn, hiền hậu, mang nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa. * Nghệ thuật: - Thể thơ bảy chữ. - Từ ngữ giản dị, mang màu sắc của làng quê bắc bộ. - Ngắt nhịp linh hoạt, nhịp nhàng, phù hợp với tâm trạng của chủ thể trữ tình. - Cách gieo vần độc đáo: vần chân liền và vần chân cách tạo nhạc tính cho bài thơ. -…… |
1,5 |
|
|
Kết đoạn: Khái quát cảm xúc về đoạn thơ. |
0,25 |
|
|
Câu 2 |
4,0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc của bài văn - Bài làm đảm bảo bố cục: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Áp lực trong học tập. * Mở bài: -Dẫn dắt và trích dẫn ý kiến của đề bài * Thân bài: - Giải thích vấn đề Áp lực học tập là tình trạng căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi về tinh thần và thể chất do khối lượng kiến thức quá lớn, kỳ vọng cao từ gia đình và xã hội, cũng như sự cạnh tranh gay gắt trong môi trường học đường - Thực trạng Theo một khảo sát gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hơn 70% học sinh Việt Nam cảm thấy áp lực học tập ở mức độ trung bình đến nặng. Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng ở các thành phố lớn và các trường chuyên, lớp chọn. Nhiều học sinh phải đối mặt với lịch học dày đặc, bài tập về nhà quá nhiều, và kỳ vọng quá cao từ phía phụ huynh. Nguyên nhân:
Hậu quả: Nếu không được giải quyết kịp thời, áp lực học tập có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng:
3. Giải pháp giải quyết vấn đề a. Giải pháp từ phía học sinh:
b. Giải pháp từ phía gia đình:
c. Giải pháp từ phía nhà trường:
* Kết bài: Khẳng định lại ý kiến và gửi thông điệp tới mọi người. |
0,5 0,25 0, 25 0, 25 0, 25 1. 25 0,5 |
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,25 |
|
|
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
|
ĐỀ 13 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. (4,0 điểm).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Có một câu nói là: Con đường dài nhất là con đường từ cải đầu đến bàn tay. Ý tưởng nhiều vô kể. Nhiều người có những ý tưởng rất tốt. Nhưng có rất ít người biến được ý tưởng thành hiện thực. Một người bạn của tôi từng nói: “Khi ai đó tâm sự với tôi về ý tưởng này khác, tôi chỉ bảo: Nghe tuyệt lắm, hãy làm đi. Tôi không bảo khó, bảo sẽ thất bại, hay bàn lùi. Cử để họ thực hiện. Hành động chứng minh tất cả.”. Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn có câu: “Trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.". Nếu không đi thì đường ở đâu mà có. Cho nên, câu khẩu hiệu của Nike là: "Just do it.”. Hãy làm đi. Làm bất cứ điều gì. Vì tuổi trẻ chỉ có một lần. Thời gian trôi qua là không quay lại. Thay vì chần chừ, đẳn đo, sợ hãi, tại sao lại không thử bước ra ngoài, và làm điều có ích. Đi học, đọc sách, tiếp thu kiến thức là một chuyện, phải hành động, phải thực hành mới khiến kĩ năng của ta khá lên. Việc thiếu sót năng lực hành động có thể hạn chế người trẻ hoà nhập vào thế giới. Mà để phát triển khả năng hành động, không cần phải làm gì lớn lao, mở nhà trọ hay mở công ti. Chỉ cần bắt đầu từng bước nhỏ một. Hãy làm gì đó. Đừng ngồi yên.
(Theo Rosie Nguyễn, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,
2018, tr. 115)
Câu 1. Đối tượng mà người viết muốn hướng tới trong văn bản là ai?
Câu 2. Vấn đề nghị luận được đề cập trong văn bản trên là gì?
Câu 3. Những lí lẽ và dẫn chứng mà tác giả đưa ra trong văn bản có phù hợp với vấn đề nghị luận không? Vì sao?
Câu 4. Hãy chỉ ra và nêu ý nghĩa của hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường trong các trường hợp sau:
- Nhiều người có được ý tưởng rất tốt. Nhưng có rất ít người biển được ý tưởng thành hiện thực.
- Hãy làm gì đó. Đừng ngồi yên.
Câu 5. Em có suy nghĩ gì về quan điểm của người viết trong câu văn dưới đây? “Việc thiếu sót năng lực hành động có thể hạn chế người trẻ hoà nhập vào thế giới.”.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nghĩ của em về bài thơ “Hạnh phúc là đây” của Phi Yến
HẠNH PHÚC LÀ ĐÂY
Gia đình hạnh phúc chỉ là đây
Bọn trẻ còn cha mẹ đủ đầy
Bọn trẻ no lòng say giấc ngủ
Vui đời mạnh khoẻ ấm vòng tay.
Dành con tất cả lời âu yếm
Gửi bé bao điều mộng đắp xây
Chỉ có tình yêu hoài vọng mãi
Gia đình hạnh phúc chỉ là đây. .
(Theo Phi Yến - Nguồn: https://thohay.vn)
Câu 2. Viết bài văn nghị luận về vấn đề cần từ bỏ thói quen ghen tị (so sánh, đố kị) với người khác.
ĐÁP ÁN
|
Câu |
Nội dung trả lời |
Điểm |
|
|
1 |
Đối tượng mà người viết muốn hướng tới trong văn bản này là các bạn trẻ, tuổi trẻ, thế hệ thanh niên |
0,5 |
|
|
2 |
Vấn đề nghị luận được đề cập trong văn bản ; Tuổi trẻ là phải hành động |
0,5 |
|
|
3 |
Những lí lẽ và dẫn chứng được trình bày trong văn bản phù hợp với vấn đề nghị luận vì chúng đều hướng tới mục đích thuyết phục người đọc về việc cần phải hành động không nên “ngồi yên”. |
1,0 |
|
|
4 |
Hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường: Biến một vế câu thành một câu; “Nhiều người có được ý tưởng rất tốt. Nhưng có rất ít người biến được ý tưởng thành hiện thực.”
|
1,0 |
|
|
5 |
|
1,0 |
|
|
|
PHẦN II. VIẾT |
||
|
1 |
a. Mở đoạn * Giới thiệu tên bài thơ, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ. - Hạnh phúc gia đình là điều mà bất cứ ai trong mỗi chúng ta cũng đều mơ ước. Bởi đó vừa là tổ ấm, vừa là điểm tựa, lại vừa là bến đỗ bình yên cho mỗi con người. Tuy nhiên, mỗi người có quan niệm về hạnh phúc gia đình rất khác nhau. Và Phi Yến đã thể hiện cảm xúc của mình về hạnh phúc gia đình thật giản dị, mộc mạc bằng bài thơ bảy chữ rất ngắn gọn nhưng chân thành và đầy ý nghĩa. *Chia sẻ chi tiết cảm nghĩ mà em ấn tượng về nội dung và nghệ thuật của bài thơ. - Nội dung: + Khổ thơ 1: Mở đầu khổ thơ đã đem đến cho người đọc những ấn tượng khó quên bằng cảm xúc chân thành về sự cụ thể hoá về hạnh phúc gia đình. “Hạnh phúc gia đình” vốn là một khái niệm trừu tượng nhưng đã được nhà thơ cụ thể hoá: “Bọn trẻ còn cha mẹ đủ đầy/ Bọn trẻ no lòng say giấc ngủ/ Vui đời mạnh khoẻ ấm vòng tay”. Như một lời khẳng định về hạnh phúc gia đình của người cha, người mẹ là những điều vô cùng giản dị: “Bọn trẻ” là chỉ tất cả những đứa con (cháu) trong gia đình. Và với những người làm cha, làm mẹ quan niệm về hạnh phúc gia đình là dành cho con những điều tốt đẹp nhất. Theo đó, hạnh phúc gia đình với họ là những đứa con được sống trong cuộc sống gia đình còn đầy đủ cả cha và mẹ. Những đứa con không chỉ có cuộc sống đầy đủ về vật chất “no lòng”, được khoẻ mạnh mà còn được ấm áp trong đời sống tinh thần là được ôm ấp trong vòng tay yêu thương, che chở của cha mẹ và được vui vẻ mỗi ngày. Những điều tưởng chừng như rất giản dị, mộc mạc nhưng không phải tất cả mọi gia đình đều có thể có được. Bởi bên cạnh những gia đình hạnh phúc, con cái được sống trong tình yêu thương đủ đầy của cha mẹ còn có biết bao những đứa trẻ phải sống trong sự thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, thiếu vắng sự chăm sóc của cha hoặc của mẹ, thậm chí cả hai. + Khổ thơ thứ 2: Tiếp nối ý thơ về gia đình hạnh phúc, người đọc lại rung cảm bởi nhà thơ cụ thể hoá về gia đình hạnh phúc ở một phương điện khác: Dành con tất cả lời âu yếm/ Gửi bé bao điều mộng đắp xây/ Chỉ có tình yêu hoài vọng mãi/ Gia đình hạnh phúc chỉ là đây. Đó chính là cha mẹ luôn dành cho con cái những lời yêu thương, ngọt ngào, và những ước muốn tốt đẹp dành cho con. Đó là tình yêu của cha mẹ mãi dành trọn cho con cái. => Như vậy, hạnh phúc gia đình là một khái niệm trừu tượng nhưng đã được nhà thơ cụ thể hoá bằng những điều hết sức giản dị, mộc mạc: Đó chính là tình thương yêu của cha mẹ dành cho con cái để con cái được hưởng cuộc sống ấm no, đủ đầy về vật chất, ấm áp về tinh thần... Bài thơ tưởng chừng như đó là những điều đơn giản nhưng khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở về hạnh phúc gia đình, quan trọng nhất là dành cho con trẻ những điều yêu thương, tốt đẹp nhất. - Nghệ thuật: + Thể thơ bảy chữ gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt (khổ 1 gieo vần chân, liên; khô 2 gieo vần chân, cách) làm cho bài thơ không bị gò bó, diễn tả mạch cảm xúc tự nhiên. + Giọng điệu ấm áp, chân tình, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, hình ảnh thơ gần gũi,... giúp người đọc dễ cảm nhận về hạnh phúc gia đình là những điều giản dị, gần gũi, chân thành chứ không phải là những điều cao xa, trừu tượng. c. Kết đoạn - Khẳng định lại giá trị của bài thơ. Cảm xúc của tác giả hoặc bức thông điệp, lời nhắn gửi với người đọc. |
||
|
2 |
a. Mở bài: * Giới thiệu và nêu vấn đề nghị luận - Giới thiệu: Trong xã hội chúng ta đang sống, sự chênh lệch về sở hữu và khác biệt giữa mọi người ngày càng mở rộng. Phản ứng trong cách nhìn và thái độ của mỗi người trước điều đó có thể ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và mối quan hệ xã hội. - Nêu vấn đề: Thói quen so sánh, ghen tị với người khác rất cần được chúng ta cùng xem xét, bàn luận. b. Thân bài: * Khái niệm của việc so sánh, ghen tị với người khác là gì? Ghen tị (đố kỵ) là một cảm xúc xảy ra khi một người thiếu đặc điểm tốt đẹp, thành tích, vật sở hữu của người khác và mong muốn điều đó hoặc mong muốn người khác không có được điều đó. Luận điểm 1. Phân tích các khía cạnh của vấn đề - Biểu hiện của người hay so sánh, ghen tị với người khác. Bạn sẽ có cảm giác tức tối khi người khác hơn mình hay ganh ghét với những người giỏi hơn mình. Khi bạn có lòng so sánh, ghen tị với người khác, chính bạn có thể đặt điều nói xấu, bôi nhọ thanh danh của họ. + Trong gia đình, anh chị em ganh đua cạnh tranh nhau rất phổ biến. Ghen tị gia đình có thể ảnh hưởng đến tất cả các lứa tuổi và các thành viên khác nhau của bất cứ gia đình nào. Ghen tỵ, tỵ nạnh này có thể phát sinh từ sự thiếu quan tâm từ một thành viên cụ thể trong gia đình hoặc sự thiếu công bằng, sự thiên vị trong cách đối xử giữa những thành viên trong gia đình như: ghẻ lạnh, lạnh nhạt, ưu ái, cưng chiều có phân biệt một cách quá mức + Trong công việc, ghen tỵ tại nơi làm việc không phải là hiếm. Mọi người có thể trải nghiệm ghen tị của một người khác trong thực tế rằng một trong những người cảm thấy như họ đang mất đi một cái gì đó hoặc một lợi thế, ưu thế cho người khác hoặc ai đó khác. Đây là loại ghen tỵ thường thấy giữa các đồng nghiệp ở các vị trí công việc tương tự. Nếu một nhân viên nhận được phản hồi tích cực từ các ông chủ trong khi các nhân viên khác cảm thấy như họ xứng đáng đó, thông tin phản hồi tích cực ghen tị có thể phát sinh, đặc biệt là khi có sự nâng lương, tuyên dương, khen thưởng, đề bạt hoặc thăng chức. Ghen tị giữa các đồng nghiệp cũng có thể phát sinh nếu các nhân viên đang làm việc cho tăng lương hoặc cố gắng để vượt qua mỗi khác cho các vị trí công việc tương tự để đạt thành tích cao hơn hay chỉ với mục đích là lập công lao với cấp trên để chứng tỏ mình và nhận được sự chú ý từ cấp trên. Một lần nữa, sự quan tâm nhận được đối với một nhân viên và không phải là khác có thể gây ra những cảm xúc mãnh liệt của ganh đua để phát triển. - Phân loại ghen tị: Ghen tị ác ý được coi là một cảm xúc khó chịu khiến người ghen tị muốn hạ bệ những người được coi là tốt hơn mình hoặc có những gì mà bản thân không có dẫn đến tạo ra phản ứng tiêu cực. Ghen tị thiện ý có thể có tác động tích cực, liên quan đến sự công nhận của người khác, nhưng khiến người đó mong muốn và khao khát cũng được trở nên như vậy. Nó có thể cung cấp động lực thi đua, cải thiện, suy nghĩ tích cực về người kia với sự ngưỡng mộ họ. Ghen tị thiện ý nếu được xử lý đúng cách, có thể ảnh hưởng tích cực đến tương lai của một người bằng cách thúc đẩy họ trở thành một người tốt hơn và thành công hơn. - Nguyên nhân của việc so sánh, ghen tị với người khác: ganh tỵ, đố kỵ đối với nhiều người có thể liên quan đến: + Nỗi lo sợ mất mát + Nghi ngờ hoặc tức giận về một sự phản bội trong tâm thức hay nhận thức + Tự hạ thấp lòng tự trọng và nỗi buồn mất mát + Sự thiếu chắc chắn, thiếu tự tin và sự cô đơn + Sơ mất đi một người quan trọng khác hoặc một cái gì quan trọng khác + Tâm lý không tin tưởng + Cảm giác mặc cảm tự ti + Sự bất bình đẳng trong hoàn cảnh - Ý chí hướng tới người ghen tị thường đi kèm với cảm giác tội lỗi về những cảm xúc + Mong muốn có động lực để cải thiện hoặc phát triển + Mong muốn có phẩm chất hay sự hấp dẫn của đối thủ - Tác hại: + Phá hoại các mối quan hệ của chính bạn cũng như của người khác. + Cuộc sống không thoải mái sẽ khiến cho bạn luôn nghĩ cách hãm hại người khác. và cũng làm hại cả bản thân. + Làm nảy sinh nhiều trạng thái tâm lý tiêu cực, khiến cho bản thân bạn luôn căng thẳng, bức bối, không thoải mái. - Bài học bạn cần rút ra là: + Việc ghen ghét và so sánh mình với người khác là tỉnh xấu của con người cần phải loại trừ. Vì thế bản thân bạn rất cần có lòng cao thượng khoan dung rộng rãi. * Bạn cũng cần hướng tới một tính thần cạnh tranh lành mạnh, cố gắng hết sức để vượt qua khó khăn Luận điểm 2. Giải pháp khắc phục thói so sánh, ghen tị với người khác
- Làm những điều bạn yêu thích nhiều hơn: Nếu bạn dành nhiều thời gian để ước muốn mình giống bạn bè của mình hơn thì đó có thể là vì bạn đã không làm nhiều điều khiến bạn tự hào ở bản thân. Lúc này, bạn có thể làm những việc mình thích, thử sức những công việc khó để phát triển các kỹ năng hữu ích. Càng làm nhiều để cải thiện bản thân, bạn càng hạnh phúc khi được là chính mình; - Theo đuổi ước mơ: Nếu bạn ghen tỵ với người nào đó vì họ đã có can đảm theo đuổi ước mơ của họ hoặc ghen tỵ khi người khác được thành tích cao, bạn nên học tập, làm việc chăm chỉ hơn hoặc nghĩ đến việc thay đổi định hướng để có thể làm những gì bạn thực sự muốn; - Đặt mục tiêu cho chính mình và theo đuổi mục tiêu: Nếu thành công với mục tiêu đặt ra, bạn sẽ tự hào về khả năng của mình và sẽ cố gắng thiết lập các mục tiêu khác cho chính mình. c. Kết bài: - Khẳng định lại vấn đề so sánh, đố kị với người khác là vấn đề phức tạp, khó kiểm soát trong thực tế đời sống và chi phối đến từng cá nhân và cộng đồng rất cần được xem xét, tuyên truyền giáo dục - Rút ra bài học cho bên thông là một thi học sinh, bạn nên hiện đồng thời quen ghen tị (so sánh, đố kị) với người khác, biết kiến chế những cảm xúc tiêu cực của bản thân trước sự thành công, sự sở hữu vu tội của người khác, cố gắng phấn đấu vươn lên để đạt được những mục tiêu của mình và tuyên truyền giúp đỡ mọi người cùng làm theo |
||

|
ĐỀ 14 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:
Con người, ai mà không từng phạm sai lầm? Khi đã sai lầm thì phải sửa chữa. Nhưng trước khi sửa sai, cần phải biết can đảm “cúi đầu” thừa nhận lỗi lầm của bản thân.
Tuy nhiên, có nhiều người lại không đủ can đảm để làm điều đó, và họ cứ mãi bị rớt lại ở những nơi họ bị ngã xuống, chẳng thể nào vực dậy để đi tiếp. “Cúi đầu” không phải là khuất nhục, “cúi đầu” càng không phải là thấp hèn, mà chính là một sự dũng cảm, là thể hiện rằng bản thân đã biết sai và sẽ sửa.
… Người xưa có câu: “Biết cúi đầu mới là trưởng thành, biết hạ mình mới là cao thủ.”
Khiêm tốn, cúi đầu không phải là chỉ biết cúi xuống cam chịu mà là biết cách ứng xử. Khi trẻ, ta luôn có ý thức khẳng định mình, tràn đầy ý chí và khát khao. Đó là điều rất đáng quý, nhưng mà cũng dễ có những nhược điểm: tự phụ, tự mãn, hiếu thắng, thiếu nhường nhịn, không khiêm tốn… Vì quá tự tôn nên ta không chấp nhận học tập thành công của người khác.
Học cách cúi đầu vượt qua những “cánh cửa” thấp bé trên con đường nhân sinh. Biết “cúi đầu” cũng là một loại năng lực. Đó không phải là tự ti, không phải là nhu nhược, mà là khi năng lực của ta tích lũy đã đủ thâm sâu và sắc sảo.
Các vĩ nhân đều là những người khiêm tốn. Isaac Newton coi mình chỉ như một đứa trẻ dạo chơi trên bãi biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lý bao la. Chân lý của ông chính là: “Sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ”. Ông chưa bao giờ dám nhận mình là một người khổng lồ!
(Trích Cúi đầu là bông lúa, ngẩng đầu là cỏ dại, Hoàng Phương Lan,
Tạp chí Đời sống & Phát triển, ngày 27/5/2020)
Câu 1 (0,5 điểm). Trong đoạn trích, tác giả cho biết nhà bác học Newton, người đã đem đến những phát minh vĩ đại luôn coi mình như thế nào?
Câu 2 (0,5 điểm). Em hãy cho biết nội dung của đoạn trích.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn văn sau: Các vĩ nhân đều là những người khiêm tốn. Isaac Newton coi mình chỉ như một đứa trẻ dạo chơi trên bãi biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lý bao la. Chân lý của ông chính là: “Sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ”. Ông chưa bao giờ dám nhận mình là một người khổng lồ!
Câu 4 (1,0 điểm). Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Cúi đầu” không phải là khuất nhục, “cúi đầu” càng không phải là thấp hèn, mà chính là một sự dũng cảm, là thể hiện rằng bản thân đã biết sai và sẽ sửa.
Câu 5 (1,0 điểm). Những bài học cuộc sống sâu sắc em đón nhận qua đoạn trích đã cho.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1(2 điểm):Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Cách ứng xử của thế hệ trẻ trước lời khuyên của thế hệ đi trước.
Câu 2: (4 điểm)
Viết bài văn phân tích đoạn trích sau:
Đêm trong đến không ngờ
Sen cũng thơm quá đỗi
Cánh đồng như giấc mơ
Ướp mùi hương lúa mới
Bầy chim cũng thao thức
Niềm vui rung trong cành
Bài ca dâng trong ngực
Dế hát lời cỏ xanh
…
Đêm nay trăng đẹp quá!
Thắp nắng cho cánh đồng
Nên đêm không còn nữa
Chỉ còn ngày mênh mông…
(Trích Trăng đồng quê của Nguyễn Lãm Thắng)
--------------------------------------------------------------------------------------
HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Tác giả đã cho biết: Isaac Newton coi mình chỉ như một đứa trẻ dạo chơi trên bãi biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lý bao la. |
0,5 |
|
2 |
- Nội dung đoạn trích: + Bàn về biểu hiện và ý nghĩa của đức tính khiêm tốn trong đời sống con người. + Nhắc nhớ chúng ta luôn khiêm tốn (nhận lỗi khi mắc sai lầm, khiêm tốn để học tập và tích luỹ tri thức) Lưu ý: - HS trình bày hay có cách diễn đạt khác nhưng đảm bảo hiểu đúng ý nghĩa, GV tính điểm tối đa. |
0,5 |
|
|
3 |
Bằng chứng trong đoạn trích: Isaac Newton coi mình chỉ như một đứa trẻ dạo chơi trên bãi biển may mắn nhặt được hòn sỏi đẹp và trước mắt là bể chân lý bao la. Chân lý của ông chính là: “Sở dĩ tôi nhìn xa là vì tôi ngồi trên vai người khổng lồ”. Ông chưa bao giờ dám nhận mình là một người khổng lồ! +Giúp cho lập luận chặt chẽ, logic, giàu sức thuyết phục, tăng độ tin cậy trong bài viết -Làm sáng tỏ luận điểm: Các vĩ nhân đều là những người khiêm tốn. Từ đó góp phần làm nổi bật ý nghĩa của sự khiêm tốn trong cuộc sống … |
1,0 |
|
|
4 |
* Biện pháp tu từ liệt kê: không phải là khuất nhục, “cúi đầu” càng không phải là thấp hèn,… là một sự dũng cảm, là thể hiện rằng bản thân đã biết sai và sẽ sửa. * Hiệu quả: - Làm cho lời văn sinh động, gợi hình gợi cảm, tăng sức thuyết phục, gây ấn tượng với người đọc, người nghe. - Diễn đạt đầy đủ, cụ thể và nhấn mạnh ý nghĩa của khiêm tốn/ khiếm tốn nhận lỗi là thể hiện sự dũng cảm, ý thức sửa sai để hoàn thiện mình. - Thể hiện thái độ đề cao, trân trọng đức tính khiêm tốn, nhắc nhở mỗi chúng ta luôn khiêm tốn trong đời sống. |
1,0 |
|
|
5 |
HS trình bày những bài học cuộc sống rút ra qua đoạn trích, có thể theo một số gợi ý như sau: - Hiểu được ý nghĩa quan trọng, sự cần thiết của đức tính khiêm tốn trong đời sống mỗi người. - Luôn khiêm tốn để học hỏi, mở rộng kiến thức, hoàn thiện bản thân. - Khi mắc lỗi hay làm sai dũng cảm nhận lỗi, lắng nghe với tinh thần cầu thị. - Khiêm tốn giúp chúng ta được mọi người yêu mến, tin tưởng và nể phục. - Cần học tập những tấm gương khiêm tốn trong đời sống để hoàn thiện bản thân mình. - Nhắc nhở những ai không khiêm tốn, kiêu ngạo, đề cao bản thân mình, có thái độ xem thường người khác. -… - Học sinh có cách diễn đạt riêng hoặc đưa ra những bài học khác nhau, giáo viên linh động chấm điểm dựa trên sự hợp lý, thuyết phục của câu hỏi. |
1,0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
6,0 |
|
1 |
a.Hình thức: - Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận -Trình bày sạch đẹp, diễn đạt lưu loát, giàu cảm xúc, sáng tạo … |
2,0 0,25 0,25 |
|
|
b.Nội dung: Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận về một vấn đề trong đời sống: Cách ứng xử của thế hệ trẻ trước lời khuyên của thế hệ đi trước. HS có thể triển khai bài viết theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo các ý chính như sau: Giải thích vấn đề: lời khuyên của thế hệ đi trước đó là những bài học, lời nhắc nhở, chỉ bảo, hướng dẫn của những người đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống như ông bà, cha mẹ, thầy cô. Thực trạng vấn đề: nhiều bạn học sinh đã biết lắng nghe, chọn lọc những lời khuyên của thế hệ đi trước làm hành trang cho mình, từ đó đạt được những kết quả tốt đẹp. - Tuy nhiên không ít các bạn trẻ lại có cách ứng xử chưa đúng đắn như: + Có thái độ xem thường, cho rằng đó là những ý kiến của người già, lạc hậu không còn hợp thời + Có người thờ ơ, nghe cho có, hay sẵn sàng bỏ ngoài tai, không để ý tới người đang dành cho mình những lời khuyên. - Tất cả những việc làm trên tưởng chừng đã rất nhỏ nhưng lại coi lại có những ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới chỉnh thái độ, nhân cách của mỗi chúng ta. Ý nghĩa vấn đề -lời khuyên của thế hệ đi trước được đúc kết từ chính những trải nghiệm của bản thân, biết lắng nghe một cách chân thành, chúng ta sẽ có được những bài học thật ý nghĩa -Thể hiện sự quan tâm,tình yêu thương, mong muốn, kì vọng với với thế hệ trẻ -Việc ứng xử đúng đắn trước lời khuyên của thế hệ đi trước còn mang đến cho chúng ta những phẩm chất và tình cảm tốt đẹp như biết lắng nghe, biết quan tâm chia sẻ với mọi người… Giải pháp: Biết lựa chọn những thông tin cần thiết, phù hợp với bản thân mình. - Biết vận dụng những lời khuyên đó một cách sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh thực tế và năng lực của bản thân. - Tránh thái độ thờ ơ, xem thường nhưng cũng không thực hiện theo một cách máy móc thiếu sáng tạo, điều đó có thể gây nên những thất bại. - Cần học tập, nâng cao kiến thức, kinh nghiệm từ nhiều nguồn khác nhau để có được nền tảng vững vàng bước vào đời sống… Kết đoạn: - Việc lắng nghe lời khuyên của thế hệ đi trước là điều cần thiết, có ý nghĩa thực tế trong đời sống. - Bản thân em cần có cách ứng xử phù hợp… |
1,5 |
||
|
2 |
A. Về hình thức, kĩ năng - Đúng cấu trúc bài văn nghị luận văn học, trình bày sạch sẽ, rõ ràng. - Diễn đạt mạch lạc; thái độ, tình cảm chân thành khi cảm nhận, đánh giá về vẻ đẹp của khổ thơ. |
0,25 |
|
|
|
B. Về nội dung: HS trình bày được những ý cơ bản theo bố cục của bài văn cảm nhận về đoạn trích thơ 1.Mở bài: Giới thiệu tác giả Nguyễn lãm Thắng, bài thơ “Trăng đồng quê”, cảm nhận chung về đoạn trích thơ (có thể giới thiệu bằng nhiều cách khác nhau…) +Nguyễn Lãm Thắng là tác giả gần gũi với thiếu nhi qua giọng thơ trong trẻo, hồn nhiên và sâu lắng. Nhiều tác phẩm của anh ghi dấu ấn sâu đậm với bạn đọc và một trong số đó là bài thơ Trăng đồng quê. + Đoạn trích trên đã cho mang đến cho chúng ta những cảm nhận tinh tế về vẻ đẹp đêm trăng nơi làng quê. .. |
0,5 |
|
|
|
2.Thân bài : Lần lượt trình bày cảm nhận những nét đặc sắc về nghệ thuật, nội dung của các đoạn thơ : Yêu cầu: luận điểm rõ ràng, lí lẽ chặt chẽ, bám sát từ ngữ, câu thơ khai thác chính xác các yếu tố nghệ thuật trong mỗi khổ thơ và nội dung biểu đạt qua các yếu tố nghệ thuật. HS có thể lựa chọn và cảm nhận kĩ những nội dung đặc sắc Gợi ý : a. Phân tích nội dung đặc sắc của tác phẩm *Vẻ đẹp đêm trăng trong sáng nơi làng quê. - Câu thơ thứ nhất thể hiện sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên và thích thú của tác giả trước vẻ đẹp của đêm trăng quê. Không còn nhà cao che khuất tầm mắt, không còn ánh điện cửa gương làm ta xao lãng, ánh trăng quê sáng hơn dưới vòm trời lồng lộng, trên cánh đồng bao la… - Bức tranh thiên nhiên cánh đồng làng dưới trăng không chỉ lấp lánh ánh sáng mà còn đẫm hương thơm: + Hương sen thanh tao, ngan ngát từ trong đầm. + Hương lúa mới ngọt ngào, man mác… + Không gian trở nên trong trẻo, thanh khiết khiến tác giả thấy mình như lạc vào giấc mơ huyền ảo, như thực như mơ… *Hình ảnh những loài vật thân thương tấu lên khúc nhạc thanh bình. - Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hoá, khiến những loài vật trở nên sống động, gần gũi, có hồn như những người bạn nhỏ. - Lũ chim về tổ quấn quýt bên nhau, nhưng nhạc sĩ dế cất cao lời hát, nấp mình trong đám cỏ xanh… - Khổ thơ là khúc nhạc đồng quê, bản hoà ca của thiên nhiên gợi về bao kỉ niệm. *Cảm nhận tinh tế của nhà thơ. - Câu mở đầu diễn tả cảm xúc say mê, ngây ngất của nhà thơ trước vẻ đẹp của đêm trăng không thốt lên lời. Câu thơ là lời cảm thán thể hiện trái tim đang rung ngân, xao xuyến… - Tác giả mang đến một liên tưởng bất ngờ, tưởng chừng vô lý nhưng lại rất hay và rất thơ. Ánh trăng vàng lấp lánh, cảnh vật bừng sáng trong ánh vàng huyền diệu được ví von với những ánh nắng của đêm. - Trăng soi sáng vạn vật, soi vào tâm hồn của nhà thơ, bằng con mắt háo hức, say mê, nhà thơ thấy đêm cũng như ngày, không có cảm giác lạnh lẽo tối tăm mà tươi sáng ấm áp vô cùng. Đó không chỉ là sự bừng sáng của thiên nhiên mà là sự bừng sáng của tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên quê hương khi chỉ thấy ngày mênh mông… b. Phân tích những đặc sắc về hình thức nghệ thuật. Thơ ca là nghệ thuật ngôn từ, bài thơ hay không chỉ ở nội dung mà còn ở những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc: - Thể thơ năm chữ quen thuộc, giàu nhạc điệu, vần nhịp linh hoạt, uyển chuyển… - Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc… - Hình ảnh thơ thân thuộc, gần gũi vừa bay bổng, mang nhiều liên tưởng thú vị. -Các biện pháp tu từ như nhân hoá, ẩn dụ góp một phần không nhỏ trong sự thành công của bài thơ. |
||
|
|
3.Kết bài: Khẳng định ý nghĩa giá trị của đoạn trích thơ Liên hệ … +Đoạn trích thể hiện thành công một bức tranh thiên nhiên đêm trăng nơi làng quê bằng ngôn từ tinh tế, trong trẻo… +Tác giả cho ta thêm yêu thiên nhiên, yêu đời…. |
|
|
|
|
C. Sáng tạo: - Bố cục mạch lạc, lập luận chặt chẽ, thuyết phục. |
0,25 |
|
ĐỀ 15 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm):
Đọc văn bản sau :
“Tôi vẫn thấy rằng ước mơ giống như những ngọn hải đăng, những mũi tên chỉ đường để bạn chắc chắn về phương hướng, để bạn tiến tới tương lai. Hành trình theo đuổi ước mơ là một hành trình rộng và dài nó giúp bạn đón nhận những âm vang từ cuộc sống, giúp bạn trải nghiệm và khám phá chính bản thân mình. Rong ruổi theo những hoài bão là lúc ta có thêm động lực, niềm tin vào cuộc sống vốn xô bồ và tấp nập. Nó không chỉ là hi vọng của mỗi người mà còn là minh chứng cho một điều rằng: Bạn đang sống. Khi kiếm tìm và chinh phục những giá trị cao cả, đó là lúc bạn nhận ra cuộc đời thật sự có ý nghĩa, ý nghĩa trong từng phút, từng giây. Dường như, nó đang thôi thúc bước chân bạn để bạn nhận thức được rằng mình đang sống, sống hạnh phúc và vui vẻ với những mục tiêu. Theo đuổi những khát khao đôi khi khiến bạn mệt mỏi, chán chường, đôi lúc sẽ thất bại. Sau mỗi lần vấp ngã chính là những bài học kinh nghiệm sâu sắc, là nền tảng để bước tiếp. Và “dù không thể hái được vì sao sáng nhất nhưng ít ra bạn cũng đứng giữa muôn vàn tinh tú để thắp sáng ước mơ”. Bởi bạn đang ước mơ chính là bạn đang hiện hữu, hiện hữu với vô vàn cái đẹp trong cuộc sống.
Giữa dòng đời phiêu bạt, có biết bao nhiêu mảnh đời vẫn âm thầm thắp sáng ước mơ, những ước mơ không biên giới, những vì sao tinh tú,...chúng nuôi dưỡng và di dưỡng tâm hồn. Hãy đưa ước vọng của bạn về với quỹ đạo “điều không thể hôm nay sẽ hóa thành hiện thực của ngày mai”. Hôm nay là không thể nhưng ngày mai thành có thể. Hôm nay là lí tưởng nhưng ngày mai là hiện thực. Một tỉ phú Bill Gates với khao khát làm giàu chính đáng của người trẻ tuổi, với tri thức trong ngành công nghệ phần mềm, tập đoàn Microsoft của ông đã trở thành công ty phần mềm có giá trị cao nhất trên thị trường toàn cầu. Hạnh phúc thay cho những ai dám ước mơ và sẵn sàng trả giá để biến ước mơ thành hiện thực. Hay chính Reinhold Messner – nhà leo núi huyền thoại, được gọi là “Người thép của thế giới”, ông là người đầu tiên trên thế giới leo hết mười bốn ngọn núi trong dãy Himalaya cao hơn 8000 mét, trong đó, đỉnh cao nhất Everest ông đã leo một mình không cần bình dưỡng khí. Kỷ lục được thiết lập không phải để giới hạn mà là để phá vỡ. Mọi thứ dường như khó tin nhưng chính những con người như Reinhold Messner đã cho chúng ta hiểu rằng: ước mơ, tâm tưởng dù có xa vời, vĩ đại đến bao nhiêu, chỉ cần bạn đủ ý chí, bản lĩnh để hành động, tiến lên thì chúng ta có thể đi đến bất cứ đâu...”
(Trích: “Ước mơ – đoá hoa trà trong sương tuyết” – Facebook: Hàn Sự Văn Chương)
Trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 5
Câu 1. Hãy cho biết văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2. Trong văn bản, hành trình theo đuổi ước mơ sẽ giúp chúng ta như thế nào?
Câu 3. Hãy nhận xét tác dụng của các dẫn chứng Bill Gates và Reinhold Messner trong văn bản?
Câu 4. Trình bày theo cách hiểu của em về câu nói: “dù không thể hái được vì sao sáng nhất nhưng ít ra bạn cũng đứng giữa muôn vàn tinh tú để thắp sáng ước mơ.”?
Câu 5. Suy nghĩ về thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em sau khi đọc văn bản trên?
Phần II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Tuổi trẻ cần vươn tới những điều cao đẹp.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và nghệ thuật của văn bản sau:
ĐỒNG ĐỘI TÔI TRÊN ĐẢO THUYỀN CHÀI
Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời
Đến một cái gai cũng không sống được
Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút
Đêm trong lều như trôi trong mây...
...Đảo tự giấu mình trong màu nước lam xanh
Cái giọt máu thiêng dưới ngầu ngầu bọt sóng
Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống
Bóng chúng tôi trùm khắp đảo Thuyền Chài..
Đảo Thuyền Chài, 5-1978
(Trần Đăng Khoa, “Bên cửa sổ máy bay”, NXB Tác phẩm mới,
……………………………Hết …………………………….
Chú thích :
- Đảo Thuyền Chài : là một rạn san hô vòng thuộc Quần đảo Trường Sa , ở đó có ba bãi cát nhỏ, khi thủy triều xuống thì cao hơn mặt nước khoảng 0,5 m, khi thủy triều lên thì ngập khoảng 1,0 m
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
||
|
I |
|
PHẦN ĐỌC |
4,0 |
||
|
|
1 |
Văn bản trên thuộc thể loại: Văn nghị luận |
0,5 |
||
|
2 |
- Hành trình theo đuổi ước mơ giúp: + bạn đón nhận những âm vang từ cuộc sống, giúp bạn trải nghiệm và khám phá chính bản thân mình. + có thêm động lực, niềm tin, hi vọng vào cuộc sống vốn xô bồ và tấp nập. Minh chứng cho một điều rằng: Bạn đang sống. |
0,5 |
|||
|
3 |
Nhận xét tác dụng của các dẫn chứng Bill Gates và Reinhold Messner trong văn bản: + tăng sức thuyết phục, tạo độ tin cậy, thu hút hấp dẫn người đọc, người nghe, tạo sự liên kết, mạch lạc, chặt chẽ cho văn bản. + nhấn mạnh về kết quả của những người dám ước mơ và thực hiện ước mơ của mình. + đưa ra lời khuyên, nhắn nhủ mọi người hãy biết sống có ước mơ và dũng cảm, dám thực hiện ước mơ của mình. |
1,0 |
|||
|
4 |
- Câu: dù không thể hái được vì sao sáng nhất nhưng ít ra bạn cũng đứng giữa muôn vàn tinh tú để thắp sáng ước mơ có thể hiểu: + trong cuộc sống hay mọi việc chúng ta có thể chúng ta sẽ vấp ngã, thất bại và chưa thể đạt được kết quả tốt nhất, hài lòng nhất. + nhưng khi biết ước mơ và dám thực hiện ước mơ chúng ta sẽ có những điều kiện tốt nhất để trải nghiệm, để trưởng thành, để phát triển và biến ước mơ của mình thành hiện thực. |
1,0 |
|||
|
5 |
- HS lựa chọn được thông điệp có ý nghĩa nhất đối với mình và đưa ra suy nghĩ cá nhân phù hợp và thuyết phục. |
1,0 |
|||
|
II |
|
PHẦN VIẾT |
6.0 |
||
|
|
1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Tuổi trẻ cần vươn tới những điều cao đẹp. |
2,0 |
||
Thí sinh có thể trình bày đoạn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song song. |
0,25 |
||||
Tuổi trẻ cần vươn tới những điều cao đẹp. |
0,25 |
||||
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Tuổi trẻ cần vươn tới những điều cao đẹp bởi tuổi trẻ có nhiều thế mạnh, đặc biệt là sức trẻ; tuổi trẻ khao khát khẳng định, tỏa sáng. + Vươn tới những điều cao đẹp giúp tuổi trẻ sống có mục đích, lý tưởng; phát huy năng lực nội tại để vươn lên khẳng định bản thân; lan tỏa những giá trị tích cực tới cộng đồng; góp phần hình thành xã hội văn minh. - Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. |
0.5 |
||||
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. |
0.5 |
||||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0.25 |
||||
|
e.Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||||
|
|
2 |
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và nghệ thuật của văn bản sau: |
4,0 |
|
|
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề. |
0,25 |
|
||
|
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của văn bản. Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Học sinh xác định chưa đúng vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm. |
0,5 |
|
||
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết. - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lý theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung ngắn gọn của văn bản. * Nội dung và nghệ thuật của văn bản. Luận điểm 1: Nêu và phân tích nội dung chủ đề văn bản + Nêu chủ đề: Bài thơ khắc họa sự hy sinh, tình yêu Tổ quốc sâu sắc của những người lính đảo, làm cho chúng ta cảm thấy tự hào và trân trọng hơn những giá trị mà họ đã dành cho đất nước. + Phân tích nội dung chủ đề văn bản ++ Qua các hình ảnh như lều bạt, cái gai không sống được, và sự ẩn mình của đảo trong màu nước lam xanh, văn bản nhấn mạnh sự khắc nghiệt của hoàn cảnh và lòng kiên cường của những người lính trên đảo Thuyền Chài đang chiến đấu vì Tổ quốc. ++ Tình yêu Tổ quốc: Các hình ảnh về đảo, máu thiêng, và bóng trùm khắp đảo đều nhấn mạnh sự đấu tranh và sự hiện diện không ngừng của những người đang bảo vệ Tổ quốc, dù trong hoàn cảnh đầy khó khăn và bất lực. Tình yêu đất nước còn được thể hiện qua tiếng gọi thân thương “Tổ quốc ơi! Nước non dẫu đang lặng im tiếng súng, nhưng kẻ thùvẫn luôn luôn dòm ngó, rình rập biển, đảo thân thương, vì thế các anh phải luôntỉnh táo, cảnh giác: “Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống”. Với người lính đảo, họ luôn đặt ý thức trách nhiệm gìn giữ bảo vệ Tổ quốc lên hàng đầu. Vẻ đẹp ấy được cảm nhận với tâm hồn nghệ sĩ gắn bó và giàu yêu thương, cảm phục. Luận điểm 2: Phân tích đặc sắc nghệ thuật + Thể thơ tự do linh hoạt trong vần nhịp, phóng túng trong biểu đạt cảm xúc. + Hình tượng thiên nhiên được miêu tả độc đáo qua hệ thống ngôn từ tự nhiên, giàu hình ảnh, cảm xúc. + Các biện pháp tu từ: So sánh, ẩn dụ, dùng từ láy.. +Vẻ đẹp người lính đảo được vẽ nên bằng những từ ngữ giàu hình ảnh ( hệ thống từ láy : chung chiêng, ngun ngút), biện pháp tu từ ( so sánh : đêm trong lều như trôi trong mây ; ẩn dụ : Cái giọt máu thiêng .....) -> Xây dựng hình tượng người lính vừa mang nét chung của người bộ đội cụ Hồ, vừa mang nét riêng của những người lính đảo. - Đánh giá chung: - Đánh giá về giá trị tư tưởng, đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: bài thơ đã khơi dậy trong ta ý thức trách nhiệm gìn giữ bảo vệ Tổ quốc. Hướng dẫn chấm: - Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 1,0 điểm. - Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 0,75 điểm – 0,5 điểm. - Phân tích chung chung, sơ sài: 0,25 điểm |
1.0 |
|
||
|
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau Triển khai được ít nhất 2/3 yêu cầu của đáp án. Lựa chọn được các tao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. Lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu hình ảnh. |
1,5 |
|
||
|
đ. Diễn đạt đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản |
0,25 |
|
|||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
|
|||
|
Tổng điểm |
|
10.0 |
|
||
|
ĐỀ 16 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu ở bên dưới
Đố kị nghĩa là bực tức, khó chịu trước những may mắn và thành công của người khác. Trong khi người thành công luôn nhìn thấy và học hỏi những đức tính tốt đẹp của người khác thì kẻ thất bại lại không làm được điều đó. Họ không muốn nhắc đến thành công của người khác, đồng thời luôn tìm cách chê bai, hạ thấp họ. Họ để mặc cho lòng tỵ hiềm, thói ganh tỵ, cảm giác tự ti gặm nhấm tâm trí ngày qua ngày.
Đố kị không những khiến con người cảm thấy mệt mỏi mà còn hạn chế sự phát triển của mỗi người. Thói đố kị khiến chúng ta lãng phí thời gian và không thể tận dụng hết năng lực để đạt được điều mình mong muốn. Ganh tị với sự thành công của người khác sẽ khiến chúng ta đánh mất cơ hội thành công của chính mình.
Tạo hóa tạo ra con người trong sự khác biệt và bình đẳng. Bạn cần phải ý thức được rằng, bạn là duy nhất và không bao giờ có người nào hoàn toàn giống bạn, cả về diện mạo lẫn tính cách. Vì thế, thay vì ganh tị với thành công và may mắn của người khác, bạn hãy tập trung toàn bộ tâm trí vào những ước mơ, dự định, đồng thời cố gắng hoàn thành chúng một cách triệt để. Hãy tự hào về sự khác biệt của bản thân bạn và vui mừng trước sự may mắn, thành công của những người xung quanh. Niềm vui ấy sẽ chắp cánh cho hạnh phúc của bạn và sớm muộn gì, bạn cũng sẽ đạt được thành công như họ.
(George Matthew Adams, “Không gì là không thể”, Thu Hằng dịch, Tr,117, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2019).
Câu 1. (0,5). Văn bản trên được viết theo thể loại nào?
Câu 2. (0,5). Xác định nội dung chính của đoạn trích.
Câu 3. (1,0). Phân tích hiệu quả biểu đạt của một biện pháp nghệ thuật nổi bật được sử dụng trong câu văn sau: “Trong khi người thành công luôn nhìn thấy và học hỏi những đức tính tốt đẹp của người khác thì kẻ thất bại lại không làm được điều đó.”
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, vì sao người có tính đố kị thường không muốn nhắc đến thành công của người khác"?
Câu 5. (1,0 điểm) Hãy chia sẻ với mọi người về những bức thông điệp có ý nghĩa mà em nhận được từ đoạn trích trên.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị.
Câu 2. (4,0 điểm). Đọc và phân tích truyện ngắn sau:
BỐ TÔI
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ nơi núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về”. Mẹ tôi hỏi: “Thư đâu?”. Ông trao thư cho bà. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc rằng không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm”? Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi đều biết cả”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng với những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá, ngay cả những lá đầu tiên nét chữ còn non nớt.
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Nguyễn Ngọc Thuần, in trong “Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn tiếng Việt – NXB Giáo dục Việt Nam, 2012.)
HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I. ĐỌC -HIỂU (4,0 điểm) |
1 |
Thể loại: Nghị luận |
0,5 |
|
2 |
- Nội dung đoạn trích: Bàn luận về tác hại của thói đố kị |
0,5 |
|
|
3 |
- Biện pháp tu từ: Biện pháp nghệ thuật tương phản: “người thành công luôn nhìn thấy và học hỏi những đức tính tốt đẹp – kẻ thất bại lại không làm được điều đó” - Tác dụng: + Nhấn mạnh sự trái ngược giữa người thành công – người không đố kị với người thất bại- người đố kị để làm rõ sự ích kỉ, nhỏ nhen của người có tính đố kị và sự tích cực của người thành công. + Tạo nên sự cân xứng, hài hoà cho câu văn, làm nổi bật ý cần diễn đạt, từ đó nhắc nhở mỗi người tránh xa thói đố kị, có thái độ sống tích cực. |
0,5 0,25 0,25 |
|
|
4 |
Người có tính đố kị thường không muốn nhắc đến thành công của người khác. Vì: + Người đố kị thường không muốn nhắc tới thành công của người khác bởi lẽ trong họ luôn tồn tại sự ganh tị và khi nhắc đến thành công của người khác họ thường mang cảm giác tự ti. Cảm giác ấy sẽ gặm nhấm tâm trí họ và khiến họ cảm thấy khó chịu. + Họ sợ người khác sẽ đề cao người thành thành công mà xem thường họ hoặc không muốn người khác hơn mình, được khen ngợi trước mặt mình. + Họ không đủ dũng khí để chấp nhận thành công của người khác, chia sẻ và vui mừng niềm vui của họ hoặc không đủ dũng khí để đối mặt với bản thân,… Học sinh chỉ cần đưa được 2 lí do hợp lí là được điểm tối đa. |
0,5 0,5 |
|
|
5 |
Học sinh có thể trình bày những bức thông điệp (ít nhất là 02 bức thông điệp) theo ý kiến cá nhân nhưng phải phù hợp. Mỗi bức thông điệp được 0,5 điểm. Ví dụ học sinh có thể chọn: - Đố kị là thói xấu cần tránh xa vì sẽ gây hại cho cá nhân và cho cộng động. - Trước thành công của người khác cần chia sẻ và có niềm vui thật chân thành bởi đó là cách ứng xử của con người có văn hoá. - Hãy trân trọng những điểm khác biệt của mình vì ai cũng có những điểm riêng. Vì vậy, cần phải biết phát triển điểm khác biệt thành điểm mạnh của mình. (Hoặc học sinh có thể nêu các bức thông điệp khác có ý nghĩa với bản thân nhưng phải lí giải được: vì sao bức thông điệp đó lại có ý nghĩa) |
1,0 |
|
|
PHẦN II. VIẾT |
|||
|
Câu 1 (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị. |
|||
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn: Có đủ mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị. |
0,25 |
||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành một đoạn văn. Có thể theo hướng sau: * Mở đoạn: giới thiệu vấn đề cần nghị luận - vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị. * Thân đoạn - Giải thích: Đố kị là sự ghen ghét, không công nhận, thậm chí có suy nghĩ, hành động bài trừ đối với những thành tựu của người khác. => Lối sống không có sự đố kị là sống đẹp, có lối sống lành mạnh, phong phú, sống theo đạo lí con người, luôn hạnh phúc. * Biểu hiện của lối sống không có sự đố kị: - Sống văn minh - Sống khoan dung, yêu thương và quan tâm mọi người xung quanh - Sống đúng với lương tâm của mình, không đi ngược đạo lí làm người - Sống lạc quan, yêu đời * Ý nghĩa của lối sống không có sự đố kị: - Được mọi người yêu quý - Làm cho chúng ta cảm thấy yêu đời và thoải mái hơn - Giúp cuộc sống và xã hội tươi đẹp hơn * Bài học nhận thức và hành động - Lòng đố kị là tính xấu của con người cần phải loại trừ con người cần có lòng cao thượng khoan dung rộng rãi. - Cạnh tranh lành mạnh, cố gắng hết sức để vượt qua khó khăn. * Kết đoạn: nêu cảm nghĩ của em về tư tưởng đạo lí , vẻ đẹp của lối sống không có sự đố kị - Khẳng định vai trò và ý nghĩa của sống đẹp - Em sẽ làm thế nào để có lối sống đẹp |
1,0 |
||
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời văn sinh động, sáng tạo. |
0,25 |
||
|
Câu 2. (4,0 điểm). Phân tích truyện ngắn “Bố tôi”. |
|
||
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc một bài văn: Có đầy đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài giới thiệu được vấn đề; thân bài triển khai được vấn đề; kết bài khái quát được vấn đề. |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề: Viết bài văn phân tích truyện ngắn Bố tôi của Nguyễn Ngọc Thuần. |
0,25 |
|
|
|
c. Học sinh có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau: * Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến chung của người viết. - Trong cuộc đời mỗi người, tình cảm gia đình luôn là điểm tựa tinh thần thiêng liêng nâng bước chân con người suốt chặng đường dài, là hành trang quý giá neo đậu trong tâm hồn mỗi người. - Truyện ngắn Bố tôi của Nguyễn Ngọc Thuần đã xây dựng thành công hình ảnh người bố – một người đàn ông miền núi chất phác, hiền hậu, hết lòng yêu thương con, trân trọng tình cảm gia đình. Truyện ngắn gọn nhưng đã để lại cho người đọc những ấn tượng khó quên. * Thân bài: Tập trung nêu nội dung, chủ đề và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện ngắn. - Khái quát về tác phẩm: + Xuất xứ của truyện: Truyện Bố tôi in trong Tuyển tập truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi – Nxb Giáo dục Việt Nam. + Thể loại của truyện: truyện ngắn hiện đại. - Nêu nội dung, chủ đề: Truyện kể về người bố của nhân vật “tôi”. Ông ở vùng đồi núi hiểm trở, người con học ở dưới đồng bằng xa nhà. Ông dành cho con những tình yêu thương sâu sắc và luôn dõi theo con từng ngày. Mỗi khi nhận được thư của con gửi về, ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc và luôn trân trọng những bức thư ấy vì theo ông nghĩ con viết thư về được là vẫn mạnh khỏe. Ngày con bước chân vào giảng đường đại học cũng là lúc người bố ra đi mãi mãi, đó là ngày khai trường đầu tiên mà nhân vật “tôi” không có bố đi cùng. Nhưng nhân vật “tôi” tin rằng bố sẽ theo mình suốt hành trình cuộc đời phía trước. Truyện ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người bố dành cho gia đình, con cái và tấm lòng biết ơn sâu nặng của người con dành cho người bố kính yêu. Đồng thời, truyện cũng gửi gắm lời nhắc nhở những người con phải biết thương yêu, kính trọng và biết ơn và sống hiếu thảo với bố mẹ của mình. - Làm rõ nội dung, chủ đề: Chủ đề của truyện được mở ra bằng tình huống rất gần gũi, đời thường nhưng lại xúc động bởi sự xa cách của hai bố con trong niềm thương nhớ khôn nguôi: “Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi”. Cách vào đề ngăn gọn mà hấp dẫn, lôi cuốn người đọc dõi theo hành trình của hai bố con trong cuộc đời. + Chủ đề của truyện thể hiện ở hình ảnh người bố hiện ra thật giản dị, đời thường nhưng gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc:
=> Người bố luôn dành cho con tình thương yêu sâu nặng, luôn dõi theo từng bước đi của con thể hiện qua sự nâng níu, trân trọng và gìn giữ những lá thư của con như một vật báu. + Một khía cạnh khác thể hiện chủ đề của truyện là tình yêu thương, sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người con dành cho bố:
=> Đó là một người con hiếu thảo, thấu hiểu tấm lòng của cha mẹ và luôn sống xứng đáng với tình cảm thiêng liêng ấy. + Chủ đề của truyện còn gửi gắm những bài học được gọi lên từ câu chuyện: Tình cảm cha con là thiêng liêng và quý giá vì đây là tình cảm làm cơ sở cội nguồn cho tình yêu quê hương, đất nước. Chúng ta cần yêu thương, trân trọng, kính yêu bố mẹ của mình vì tình cảm bố mẹ dành cho chúng ta là vô cùng lớn lao, cao cả. - Phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện. + Kết hợp khéo léo các phương thức kế, tả, biểu cảm khiến câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn. Cốt truyện ngắn gọn, tình huống truyện đơn giản, nhân vật người bố được đặt trong những tình huống rất đời thường để bộc lộ tính cách, phẩm chất. + Mạch truyện đi theo trình tự thời gian, có đan xen cả hồi tưởng và đọng kết bằng những suy ngẫm sâu sắc trong hiện tại của nhân vật “tôi” khiến câu chuyện vừa xúc động vừa có chiều sâu. + Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật được xây dựng chủ yếu thể hiện qua ngoại hình, hành động, lời nói; ngôn ngữ của nhân vật. + Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, bình dị, lôi cuốn. => Truyện Bố tôi chỉ là tình huống và những sự việc hết sức đời thường nhưng đã đem đến cho người đọc sự xúc động về tình phụ tử thiêng liêng, cao quý. Đọc xong truyện, ai cũng cảm thấy như mình còn có lỗi với bố mình về một điều gì đó và tự thầm hứa với bản thân phải biết thương yêu, trân trọng và sống hiếu thảo với bố mình. Và em cũng vậy! * Kết bài: - Khẳng định lại giá trị của truyện. - Bài học được rút ra với bản thân hoặc lời nhắn gửi, bức thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. |
0,5 2,0 0,5 |
|
|
|
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề. |
0,25 |
|
|
|
e. Chính tả, dùng từ đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. |
0,25 |
|
|
ĐỀ 17 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN 1. ĐỌC HIỂU (4,0 ĐIỂM)
Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
THU VỊNH - Nguyễn Khuyến
[…] Thu vịnh là nghĩa làm sao? Cứ xét nhóm từ này như một kết cấu độc lập thì có thể hiểu theo hai cách: Một là: vịnh mùa thu; hai là: làm thơ mùa thu. Xưa nay, nhiều người thường hiểu theo cách thứ nhất. Xét ra không đúng. Ấy là khi đặt nó vào hệ thống ba bài thơ thu: Thu điếu là câu cá mùa thu. Thu ẩm là uống rượu mùa thu, vậy thì Thu vịnh phải là làm thơ mùa thu. Ba việc làm khác nhau, ba tâm trạng khác nhau nhưng đều cùng dưới trời thu cả. Thu vịnh có tả cảnh mùa thu nhưng không phải vịnh mùa thu.
Câu 1- 2. Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nền trời thu Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Mấy tầng cao tức là rất cao, tưởng như có nhiều lớp nhiều tầng. Trời thu không mây, xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.
Cần trúc chỉ cây tre mảnh khảnh uốn cong như cần câu hoặc cây măng chưa ra lá, ngọn còn in hình cần câu; Tre hay măng gì cũng được, miễn là có cái dáng thanh thanh, cong cong có duyên. Nền trời thu mà quy lại chỉ có màu xanh ngắt thì hàng tre cũng thu lại dáng cần trúc là phải, vậy mới hài hòa. Lơ phơ: không phải phất phơ mà đong đưa khẽ khẽ nhưng rõ nhất là thưa thớt mảnh khảnh, và như có gì bên trong. Gió hắt hiu: gió không mạnh nhưng không ra buồn, không như đìu hiu, và cũng như có gì bên trong.
Tất cả đều như có một mối cảm thông thầm, lặng sâu kín rất êm rất nhẹ, chừng như vi tế, rất khó nắm bắt. Xanh ngắt những mấy tầng cao thì mới càng ngắt xanh mấy tầng cao mà vẫn một màu xanh ngắt thì cái cao mới càng thăm thẳm. Cần trúc có gió hắt hiu thì mới lơ phơ, có cần trúc lơ phơ thì mới biết có gió hắt hiu. Cấu trúc có chút gió để đong đưa khe khẽ nhưng đong đưa cũng chỉ khe khẽ gần như đứng yên. Trên nền trời thu xanh thẳm lại im lìm mấy cần trúc mảnh khảnh, lơ phơ. Cái động của cần trúc càng tăng cái lặng thinh sâu thẳm của màu trời. Màu trời sâu thẳm, lặng thinh lại như dồn tất cả cái sâu lắng vào bên trong của một mình cần trúc, để cho nó vừa đủ đong đưa mà cũng vừa đủ đứng yên. Đó là nói cái động và cái tĩnh. Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ? Vậy hai câu đề thủy mạc hai nét cảnh thu, đơn sơ thanh thoát, nhưng là cảnh thu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả: cảnh thu làm thơ. Trong đó, mọi chi tiết, màu sắc, đường nét, cử động đều hài hòa, giao cảm với nhau thành một nỗi niềm gì đó, sâu lắng, vi tế lặn vào bên trong, nhưng lại có sức ngân man mác. Nói trời thu nhưng đã là hồn thu […]
(Lê Trí Viễn – in trong Những bài giảng văn chọn lọc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1998)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Câu 3. (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của việc kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan trong đoạn văn in đậm ở văn bản.
Câu 4 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ trong đoạn văn sau:
Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ?
Câu 5 (1,0 điểm). Trong văn bản, em thích bằng chứng, lí lẽ nào? Vì sao?
II. PHẦN 2. ĐỌC HIỂU (6,0 ĐIỂM)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến)
Nước biếc trông như từng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Câu 2 (4,0 điểm).
Viết bài văn nghị luận bàn về giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
(Hướng dẫn chấm có 04 trang)
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh, tránh chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, tính chất cụ thể của đề thi và đặc điểm của kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT; trên cơ sở bám sát biểu điểm và từng bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, độc đáo, giàu cảm xúc.
Trong trường hợp thí sinh tổ chức bài làm theo cách riêng nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đáp án thì vẫn cho điểm như Đáp án - Hướng dẫn chấm. Điểm từng câu không làm tròn. Điểm bài thi bằng tổng điểm các câu, không làm tròn.
B. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Xác định thể loại của văn bản: văn bản nghị luận văn học |
0,5 |
|
2 |
- Văn bản bàn về cảnh thu, hồn thu và tình thu trong hai câu đề bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến. |
0,5 |
|
|
3 |
- Cách trình bày vấn đề khách quan:Trích dẫn hai câu đề của bài thơ Thu vịnh, nêu ý nghĩa của các cụm từ trích dẫn từ câu thơ “xanh ngắt”, “mấy tầng cao”, “cần trúc”, “lơ phơ”, “gió hắt hiu”- Cách trình bày vấn đề chủ quan: những cụm từ, câu văn thể hiện tình cảm, thái độ của người viết:+, Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.+, Nền trời thu mà quy lại chỉ có màu xanh ngắt thì hàng tre cũng thu lại dáng cần trúc là phải, vậy mới hài hòa. +, và như có gì bên trong. +, và cũng như có gì bên trong. - Nhận xét: Cách kết hợp này làm tăng sức thuyết phục của văn bản, vừa đảm bảo tính khách quan, chính xác, chân thực của các bằng chứng (thông qua cách trình bày vấn đề khách quan), vừa thể hiện tình cảm, đánh giá của người viết trong văn bản (thông qua cách trình bày vấn đề chủ quan). |
0,25 0,5 0.25 |
|
|
4 |
- Biện pháp đặt câu hỏi tu từ: thì làm sao mà mông mênh? làm sao tỏ hết được cái lơ phơ? - Tác dụng: + Bày tỏ cảm xúc của người viết. Khơi gợi suy nghĩ cho người đọc. + Tạo âm điệu tha thiết, ấn tượng. |
1,0 |
|
|
5 |
HS chọn một lí lẽ và một bằng chứng mà mình ấn tượng nhất trong văn bản và phân tích lí lẽ, bằng chứng đó. Chẳng hạn: - Chọn lí lẽ: Cần trúc có gió hắt hiu thì mới lơ phơ, có cần trúc lơ phơ thì mới biết có gió hắt hiu. Cấu trúc có chút gió để đong đưa khe khẽ nhưng đong đưa cũng chỉ khe khẽ gần như đứng yên. Lí lẽ này là một phát hiện thú vị của người viết, nhận ra mối giao cảm giữa cần trúc và gió. Cảnh vật vì thế có hồn. - Chọn bằng chứng: Các bằng chứng dẫn ra từ các câu thơ của bài thơ “cần trúc”, “lơ thơ”, “gió hắt hiu” vì các bằng chứng cho thấy tài năng sử dụng ngôn ngữ, sự tinh tế cảm nhận cảnh vật của nhà thơ Nguyễn Khuyến. |
1,0 |
|
|
II |
|
LÀM VĂN |
6,0 |
|
1 |
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến): Nước biếc trông như từng khói phủ Song thưa để mặc bóng trong vào |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn: Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Xác định đúng nội dung đoạn văn: trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của đoạn văn: * Xác định được các ý phù hợp để tập trung làm rõ nội dung đoạn văn, sau đây là một số gợi ý: - Yêu cầu nội dung: Mở đoạn: +, nêu tên tác phẩm, tác giả, cảm nghĩ chung +, Dùng ngôi thứ nhất/ Viết hoa/ Lùi đầu dòng Thân đoạn: +, Trình bày cảm nghĩ về một/ một vài nét độc đáo của hai câu thực: nước biếc, tầng khói phủ, bóng trăng vào,… +, Làm rõ tác dụng các đặc sắc nghệ thuật: dùng từ: “Trông như”, “để mặc”… Kết đoạn: +, Khẳng định lại cảm nghĩ, ý nghĩa câu thơ đối với bản thân +, Dùng dấu câu phù hợp để kết thúc đoạn văn - Yêu cầu hình thức: +, Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và đặt câu +, Sử dụng hiệu quả các phép liên kết để tạo sự mạch lạc cho bài viết. * Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn._ |
0,5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định. - Trình bày rõ cảm nghĩ và hệ thống các ý. - Sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nghĩ về bài thơ. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về bài thơ; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên. |
4,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên. |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý của bài viết - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: * Giải thích vấn đề nghị luận: - Kết nối và giao cảm với thiên nhiên là gì? Là yêu quý, gần gũi, hòa hợp, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. *Thể hiện quan điểm của người viết về vấn đề nghị luận, có thể theo một số gợi ý sau: - Phân tích các khía cạnh của vấn đề: +, Việc thiếu kết nối, thiếu giao cảm với thiên nhiên đang trở thành một vấn đề ngày càng phổ biến ở nhiều học sinh hiện nay. Đó không còn chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là vấn đề của xã hội. +, Nguyên nhân xuất phát từ những áp lực trong học tập, xã hội; thói quen trong sinh hoạt: Ít vận động, dành nhiều thời gian “ôm” điện thoại để “sống ảo” thay vì mở lòng, tương tác, giao cảm với thiên nhiên… +, Việc thiếu kết nối, giao cảm với thiên nhiên khiến một bộ phận học sinh chịu tác động tiêu cực về sức khỏe thể chất cũng như tâm thần, tăng nguy cơ trầm cảm... - Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện. - Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục: +, Dành thời gian để sống và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. +, Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ thiên nhiên như: giữ vệ sinh môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng, trồng cây xanh, yêu quý động vật. +, Gia đình và nhà trường cần tạo cơ hội để học sinh có điều kiện gần gũi với thiên nhiên. Xây dựng Mái nhà xanh- Trường học xanh- Lớp học xanh. +, Có nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa, vai trò của lối sống gần gũi, chan hòa với thiên …; kêu gọi chung tay bảo vệ và phát triển thiên nhiên. +, Cần phê phán các cá nhân, các tổ chức có hành vi xấu: phá rừng, thải nước ô nhiễm, săn bắt động vật,… Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
------------------- Hết -------------------
|
ĐỀ 18 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Khi đã trưởng thành và nhìn lại quãng đường đã qua, tôi đã nhận ra chính nhờ đã trải qua những cô đơn, buồn tủi, nghèo khổ đó mà tôi dễ dàng cảm thông với người khác, có khả năng sống độc lập và có bản lĩnh đương đầu với gian khổ. Từ khi còn rất trẻ, tôi đã tham gia các dự án cộng đồng, vì muốn giúp đỡ những đứa trẻ có cùng cảnh ngộ như mình, vì muốn tạo ra điều có ích cho người khác. Tôi cũng nhận ra, mỗi chúng ta khi sinh ra đã được vũ trụ tặng cho những món quà vô giá ẩn trong bức màn bí ẩn của cuộc sống. Những nghịch cảnh mà ta phải đối mặt, những trải nghiệm mà ta có trong cuộc sống này chính là cách để ta khám phá ra món quà kì diệu đó của vũ trụ, phát huy hết sức mạnh và tiềm năng bên trong của mình. Và khi nhận ra cuộc sống chẳng qua chỉ là một hành trình học hỏi và khám phá, tôi đã biết cách sống hạnh phúc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
(Trích Không có đỉnh quả cao, Giáo sư Phan Văn Trưởng và nhiều tác giả, NXB Trẻ, 2022, tr.19,20)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: (0,5 điểm). Hãy xác định luận đề của đoạn trích trên?
Câu 2: (0,5 điểm). Đoạn trích đã thể hiện ý kiến chủ quan nào của người viết? Câu 3: (1,0 điểm). Chỉ ra và cho biết tác dụng của phép liên kết được sử dụng trong các câu văn sau:
Từ khi còn rất trẻ, tôi đã tham gia các dự án cộng đồng, vì muốn giúp đỡ những đứa trẻ có cùng cảnh ngộ như mình, vì muốn tạo ra điều có ích cho người khác. Tôi cũng nhận ra, mỗi chúng ta khi sinh ra đã được vũ trụ tặng cho những món quà vô giá ẩn trong bức màn bí ẩn của cuộc sống.
Câu 4 (1,0 điểm). Trình bày cách hiểu của em về“những nghịch cảnh mà ta phải đối mặt" trong cuộc sống?
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với quan điểm: khi nhận ra cuộc sống chẳng qua chỉ là một hành trình học hỏi và khám phá, tôi đã biết cách sống hạnh phúc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
II. PHẦN LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm) Từ phần trích trên, kết hợp với hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn (không quá 200 chữ) về ý nghĩa của sự tự lập.
Câu 2: (4,0 điểm): Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Ông ngoại” của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
ÔNG NGOẠI
(Tóm tắt đoạn đầu: Gia đình cậu mợ của Dung đi định cư nước ngoài. Mẹ Dung quyết định cho Dung sang ở với ông ngoại để tiện bề trông nom ông. Dung dù không muốn nhưng vẫn nghe lời mẹ).
Sang bên ấy được hai hôm, Dung chạy về mẹ, than thở lướt sướt:“Ở với ông ngoại buồn muốn chết, đi học về, mở karaoke lại sợ ồn, nói chưa được mấy câu thì hết chuyện. Chẳng lẽ con lại nói chuyện tình yêu với ông ngoại à? Bọn bạn không dám lại nhà chơi. Ông khó lắm. Con mở nhạc cũng ngại, con nấu cơm khét ông mắng cả buổi. Suốt ngày ông cứ lo tỉa tót cho mấy chậu kiểng, mấy con cá vàng. Con hỏi: “Ngoại chăm sóc hoài không chán sao?”, Ngoại nói “Cây cũng có linh hồn. Con không tin, ghé tai vào nghe thử, có cây nào than buồn, có cây nào thèm nghe Michael Jackson đâu”.
Mẹ cười:
- Con vì ông một chút, ông cũng vì con thôi, thử xem.
Thế nghĩa là có hai thế giới ở trong ngôi nhà. Thế giới của ông là mấy ông bạn già, là mấy chồng nhựt báo, là cái radio đâu hồi còn đánh nhau, là trầm tư suy ngẫm, là mảnh sân hoa trái. Thế giới của Dung là tiếng nhạc gào thét xập xình, là sắc màu xanh đỏ, là quả đất như nằm gọn trong bàn tay. Sáng nó dậy thật sớm để nấu cơm, sau đó đi học, chiều lại học, buổi tối nó vù xe đến bạn chơi hoặc về nhà nghe mấy đứa em cãi nhau ỏm tôi. Hai thế giói vừa giành giựt vừa hòa tan nhau.
Hôm bữa Dung nói với ông:
- Sao ông Chín bên nhà rủ ngoại đi tham gia câu lạc bộ gì đó, ngoại không đi? Ông nhìn Dung thật lâu:”Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn”. Dung chột dạ, có bao giờ đi chơi mà mình nghĩ tới ông không.
Có những sự thay đổi Dung không thể ngờ được. Bây giờ mỗi đêm Dung trở mình nghe ông ngoại ho khúc khắc. Nghe cây mai nhỏ nứt mình, nảy chồi. Dung nghiện hương trầm tối tối ông thắp lên bàn thờ bà ngoại. Lắm khi lũ em Dung sang, chúng nó phá phách quậy tung cả lên, Dung mắng, chúng nó trề môi “Chị hai khó như một bà già”, Dung giật mình. Có lẽ quen với cái tĩnh lặng trong sân mà mỗi chiều Dung giúp ông tưới cây, cái khoảng không xanh lạc lõng trong khói bụi, đâu đó, trên tàng me già, dăm chú chim hót líu lo Dung quen dáng ông ngoại với mái tóc bạc, với đôi mắt hõm, cái cằm vuông, quen mỗi tháng một lần cọc cạch lên phường nhận lương hưu. Có một điều Dung ngày càng nhận ra tiếng ho của ông ngày càng khô và rời rạc như lời kêu cứu.
Ngày 18 tháng 12, Dung mở tờ lịch mới, hôm nay là sinh nhật của nó. Hôm qua, mẹ cho Dung một món tiền kha khá, bọn bạn reo lên inh ỏi:”Party nghe Dung, làm xôm tụ, tụi này kéo lại”. Dung nói với ông, ông gật đầu:
Ừ thì sinh nhật mà, con có mua bánh kem chưa? Ông biết làm đấy. Dung tròn mắt:
- Thật ư?
Ông khẽ cốc đầu nó.
- Đừng có khinh ngoại.
Nói rồi hai ông cháu lăn vào khuấy bột, trộn sữa. Tay ông nhẹ nhàng, nắn nót mười tám nụ hồng trên mặt bánh, Dung thòm thèm mãi. Buổi sinh nhật thật rôm rả, bọn Dung khiêu vũ với nhau ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp. Lúc ông nắm tay nó, nhạc dạo bài Tango “Xa vắng”. Dung ngạc nhiên và buồn cười đến nỗi giẫm lên cả chân ông. Bọn bạn reo ầm lên, chúng khen bánh kem ngon, khen ông nhảy giỏi, Dung hãnh diện lắm.
(Trích Ông ngoại, tập truyện ngắn cùng tên, NXB Trẻ, 2001)
* Nguyễn Ngọc Tư: nhà văn nữ sinh năm 1976, hiện sống và làm việc ở Cà Mau.
HƯỚNG DẪN CHẤM
PHẦN I (4,0 điểm)
|
CÂU |
NỘI DUNG |
ĐIỂM |
|
1 |
- Luận đề: Thái độ tích cực để vượt qua nghịch cảnh sống lạc quan vui vẻ. |
0,5 |
|
2 |
- cuộc sống là một hành trình học hỏi và khám phá, tôi đã biết cách sống hạnh phúc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. |
0,5 |
|
3 |
- Phép liên kết: Phép lặp – tôi - Tác dụng: Liên kết duy trì chủ đề “tôi” |
1,0 |
|
4 |
Học sinh trình bày theo ý hiểu của bản thân mình, có lý giải phù hợp. Gợi ý: Nghịch cảnh được nhắc đến trong bài ý chỉ những khó khăn, trắc trở, những hoàn cảnh éo le, trớ trêu mà con người sẽ gặp phải trong cuộc sống. |
1,0 |
|
5 |
- Em đồng tình với quan điểm: khi nhận ra cuộc sống chẳng qua chỉ là một hành trình học hỏi và khám phá, tôi đã biết cách sống hạnh phúc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. - Vì: Cuộc sống vốn dĩ có rất nhiều điều thú vị để chúng ta học hỏi và khám phá. Đó là một hành trình dài và gian khổ. Tuy nhiên, ta biết dung hoà, biết vui, biết đủ, biết cách vượt qua khó khăn thì sẽ hạnh phúc. |
1,0 |
PHẦN II ( 6,0 điểm)
|
CÂU |
Kiến thức kĩ năng cần đạt |
Điểm |
|
1 |
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn Có đủ phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn; có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. Đoạn văn không xuống dòng, dung lượng khoảng 200 chữ. |
0,25 |
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Ý nghĩa của sự tự lập |
0,25 |
|
|
c. Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý sau đây: 1. Giải thích vấn đề: - Tự lập là việc con người tự mình thực hiện các công việc mà không dựa dẫm hay ỷ lại vào người khác. 2. Phân tích vấn đề: - Thực tế cuộc sống có nhiều người biết tự lập, chủ động - Việc biết tự lập sẽ giúp ta chủ động hơn trong cuộc sống, tự lập kế hoạch, định hướng cho bản thân mình. Chủ động vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Rèn luyện tốt hơn khả năng tư duy sáng tạo. Khẳng định bản thân, nhận ra giá trị bản thân. - Phê phán những người có thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào người khác. - Đôi khi trong cuộc sống để có thể vượt qua những khó khăn con người cũng cần đến sự giúp đỡ của những người xung quanh. Tự lập không phải cự tuyệt mọi sự giúp đỡ. 3. Đưa ra ý kiến trái chiều và phản biện: Một số người cho rằng tự lập chưa hẳn đã là tốt bởi nhiều người muốn tự lập đã phải đánh đổi bằng nhiều thứ thậm chí cả sự vất vả, hy sinh. Có người quá tự lập dẫn đến xa rời người thân, bạn bè và những người xung quanh. Điều này chưa đúng đắn bởi lẽ tự lập là để chúng ta sống chủ động, tích cực chứ không thể vì sợ vất vả, hy sinh mà không cố gắng sống tự lập. Và tự lập được cuộc sống chúng ta sẽ nâng cao giá trị của mình. 4. Liên hệ bản thân + Bài học * Khuyến khích bài viết sáng tạo; có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện những suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận |
1,5 |
|
|
2 |
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Có đủ phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề; Thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài đánh giá được vấn đề. |
0,25 |
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích, chứng minh làm rõ chủ đề, nội dung, nghệ thuật của văn bản |
0,25 |
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận Vận dụng tốt các thao tác lập luận; luận điểm rõ ràng, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng trong lập luận. Thí sinh cần triển khai được các vấn đề sau: |
|
|
|
* Giới thiệu khái quát về tác giả - tác phẩm - Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở Cà Mau. - Giọng văn Nguyễn Ngọc Tư giàu chất Nam Bộ, lối kể nhẹ nhàng. - Sáng tác của cô chủ yếu viết về những câu chuyện bình dị của con người vùng sông nước Nam Bộ - quê hương tác giả, mượn văn hóa Nam Bộ để bao bọc khát vọng đem tình người ấm áp hòa giải mọi ranh giới, mọi khoảng cách. - Xuất xứ: "Ông ngoại " trích từ tập truyện ngắn cùng tên, NXB Trẻ, 2001. |
0,5 |
|
|
* Nêu và phân tích chủ đề của truyện ngắn “Ông ngoại”- Nguyễn Ngọc Tư: - Nêu nội dung, chủ đề: + Câu chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa cô bé Dung và ông ngoại. Ban đầu, Dung không hài lòng khi phải ở với ông ngoại vì cảm thấy buồn chán và khác biệt với cuộc sống hiện đại của mình. Tuy nhiên, dần dần qua những khoảnh khắc gắn bó với ông, Dung nhận ra sự thay đổi trong tâm hồn mình. Dung bắt đầu cảm nhận được hai thế giới song song tồn tại trong căn nhà của họ: thế giới trầm lặng, yên bình của ông ngoại và thế giới sôi động, ồn ào của Dung. Qua việc trải qua những khoảnh khắc gần gũi với ông, Dùng hiểu rằng tình cảm gia đình và sự quan tâm chăm sóc từ ông không thể phủ nhận. Cuối cùng, vào ngày sinh nhật của Dung, ông ngoại đã tự tay làm bánh kem để tổ chức tiệc sinh nhật cho cháu. Đây là dịp để hai người có những khoảnh khắc vui vẻ và gắn bỏ hơn. Mặc dù ban đầu có sự hiểu lầm và xa cách giữa hai thế hệ, nhưng thông qua việc hiểu biết và chia sẻ, mối quan hệ giữa Dung và ông ngoại đã trở nên ấm áp và đáng quý + Tác phẩm hướng tới đề cao những giá trị nhân văn truyền thống: Tình cảm gia đình, tinh thần trách nhiệm, biết sẻ chia, hi sinh. - Phân tích nội dung, chủ đề: + Chủ đề của truyện được mở ra bằng tình huống rất gần gũi, đời thường nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đó là vì hoàn cảnh đứa cháu gái phải sang ở cùng ông ngoại. Hai thế hệ, khoảng cách về lứa tuổi, cách nhìn, quan điểm sống đã tạo nên nét riêng của truyện. + Chủ đề của truyện thể hiện ở hình ảnh người ông hiện ra thật giản dị, đời thường nhưng xúc động. + Chủ đề của truyện còn thể hiện ở nhân vật ông ngoại tinh tế, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của cháu + Một khía cạnh khác thể hiện chủ đề của truyện là tình yêu thương, sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người cháu dành cho ông. + Chủ đề của truyện còn gửi gắm những bài học được gợi lên từ câu chuyện: Hãy trân trọng yêu thương gia đình và dành cho gia đình những gì tốt đẹp nhất. Hãy biết hi sinh, chia sẻ, quan tâm, gắn kết các thành viên trong gia đình. * Phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện + Cách kể chuyện: cốt truyện đơn giản xoay quanh cuộc sống đời thường, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. + Cách khắc họa nhân vật qua lời nói, hành động,... + Ngôn ngữ giản dị, mang đậm hơi thở của đời sống... -> Làm cho câu chuyện giàu tính nhân văn khi đề cập đến sự nối kết thế hệ tác phẩm hướng tới đề cao những giá trị nhân văn truyền thống: Tình cảm gia đình, tinh thần trách nhiệm, biết sẻ chia, hi sinh. -> Đánh giá về tài năng, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư. * Khẳng định lại giá trị của truyện. - Câu chuyện mang lại nhiều thông điệp đáng để ta suy nghĩ: + Biết yêu thương, trân trọng người thân trong gia đình: bởi gia đình là nơi ta được sinh ra, lớn lên và được yêu thương, che chở... + Biết hi sinh, chia sẻ, quan tâm, gắn kết các thành viên trong gia đình. Hi sinh là sẵn sàng bỏ qua lợi ích cá nhân để vì lợi ích chung của gia đình. Đây là một đức tính cao đẹp thể hiện tình yêu thương, trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình... |
1,5 0,75 0,25 |
|
|
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu Viết đúng chính tả, dùng đúng từ, viết đúng câu. |
0,25 |
|
|
e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, suy nghĩ, kiến giải mới mẻ, rút ra được bài học liên hệ bản thân. |
0,25 |
|
ĐỀ 19 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
“Cuộc sống vốn là một thế giới đa dạng, phong phú, đầy màu sắc và mỗi người là một cá thể độc lập với những quan điểm sống khác nhau. Vậy khó có thể bắt người khác giống mình về sở thích, thói quen, tính cách… Điều quan trọng là mỗi người phải biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Muốn có được suy nghĩ và hành xử đúng đắn, chúng ta cần biết chấp nhận sự khác biệt, hướng đến một cách sống bao dung, rộng lượng. Điều đó giúp bạn có được cuộc sống chan hòa với mọi người và có thêm nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống. Chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, điều đó có nghĩa là bạn đang tiến dần đến sự chín chắn, trưởng thành. Nếu bạn biết tôn trọng sự khác biệt của người khác, tôn trọng quyền tự do cá nhân của mỗi người, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn. Tôn trọng sự khác biệt không phải là bạn đã tự đánh mất mình, mà đó là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. Tôn trọng sự khác biệt, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”
(Theo: http://baoninhthuan.com.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Hãy nêu luận đề của văn bản
Câu 2 (1,0 điểm). Theo đoạn trích, ý nghĩa của việc chấp nhận sự khác biệt là gì?
Câu 3 (0,5 điểm). Em hiểu thế nào về câu nói: “Cuộc sống vốn là thế giới đa dạng, phong phú, đầy màu sắc và mỗi người là một cá thể đọc lập với những quan điểm sống khác nhau?”
Câu 4. (1,0 điểm) Nêu nhận xét của em về cách lập luận của tác giả ở những câu văn sau:
“Nếu bạn biết tôn trọng sự khác biệt của người khác, tôn trọng quyền tự do cá nhân của mỗi người, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn. Tôn trọng sự khác biệt không phải là bạn đã tự đánh mất mình, mà đó là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. Tôn trọng sự khác biệt, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với ý kiến: “Chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, điều đó có nghĩa là bạn đang tiến dần đến sự chín chắn, trường thành” không? Hãy lí giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Dựa vào phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tôn trọng sự khác biệt
Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn phân tích bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương
Ngưỡng cửa
Nơi này ai cũng quen
Ngay từ thời tấm bé
Khi tay bà, tay mẹ
Còn dắt vòng đi men
Nơi bố mẹ ngày đêm
Lúc nào qua cũng vội
Nơi bạn bè chạy tới
Thường lúc nào cũng vui
Nơi này đã đưa tôi
Buổi đầu tiên đến lớp
Nay con đường xa tắp
Vẫn đang chờ tôi đi.
Chú thích: Vũ Quần Phương (sinh năm 1940) tên thật là Vũ Ngọc Chúc, quê cha ở Nham Định nhưng ông hầu như sinh sống và gắn bó cả đời với mảnh đất Hà Nội quê mẹ. Ông là một bác sĩ nhưng yêu thích văn chương, ông sáng tác thơ và viết phê bình văn học. Thơ ông giản dị, sâu sắc mà hóm hỉnh, khoa học, suy tư mà ăn ắp trữ tình
----------------------------------------Hết--------------------------------------
HƯỚNG DẪN CHẤM
|
PHẦN |
CÂU |
NỘI DUNG |
ĐIỂM |
|
I |
ĐỌC HIỂU |
4,0 điểm |
|
|
|
1 |
Luận đề của văn bản: Cần biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người khác |
0,5 |
|
|
2 |
Theo đoạn trích, ý nghĩa của việc chấp nhận sự khác biệt là: “giúp bạn có được cuộc sống chan hòa với mọi người và có thêm nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống”, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống sẽ mỉm cười với bạn”, “hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”… |
1,0 |
|
|
3 |
Cuộc sống là một thế giới rộng lớn, bao la với vô vàn sắc màu - Mỗi người trong thế giới đó luôn là một cá thể tồn tại độc lập với tính cách, sở thích, lối sống, quan điểm… riêng biệt - Sự khác biệt ở mỗi người là nền tảng tạo nên cuộc sống đa dạng, phong phú |
0,5 |
|
|
4 |
- Cách lập luận của tác giả: Đưa ra luận điểm rõ ràng: Nếu biết tôn trọng sự khác biệt của người khác thì bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình. Đi đến kết luận: Tôn trọng sự khác biệt là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. - Nhận xét: cách lập luận của tác giả rất logic, chặt chẽ và thuyết phục, giúp người đọc hiểu rõ được ý nghĩa của việc tôn trọng sự khác biệt của người khác |
1,0 |
|
|
5 |
- Thí sinh có thể bày tỏ quan điểm bản thân theo hướng: đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần - Lí giải hợp lí, thuyết phục - Gợi ý: + Đồng tình với ý kiến + Lí giải: Vì: Cuộc sống luôn phát triển theo các quy luật khách quan, biết chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, không ngừng thay đổi, làm mới bản thân để thích nghi cũng là cách để trưởng thành, đạt đến đích thành công…. |
1,0 |
|
II |
VIẾT |
6,0 điểm |
|
|
|
1 |
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tôn trọng sự khác biệt |
2,0 điểm |
|
|
|
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tôn trọng sự khác biệt |
0,25 |
|
|
|
- Có thể đi theo hướng: * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tôn trọng sự khác biệt Cuộc sống giống như một tấm tranh phong cảnh đa dạng, với mỗi con người là một nét vẽ riêng, không thể thay thế. Đa dạng trong cách sống, sự độc đáo trong tính cách, sở thích, ước mơ của mỗi người đều đóng góp vào sự phong phú của cuộc sống. Bởi vậy, chúng ta hãy học cách chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt này * Thân đoạn: Bày tỏ suy nghĩ. Có thể như sau: + Giải thích: Sự khác biệt là những nét riêng biệt, độc đáo để phân biệt sự vật này với sự vật khác hoặc cá thể này với cá thể khác + Bình luận: Sự khác biệt làm cho cuộc sống trở nên phong phú, đa dạng, đầy màu sắc và ý nghĩa hơn, giúp con người có thêm nhiều trải nghiệm, nhiều mối quan hệ, không ngừng hòa nhập và gắn kết. Tôn trọng sự khác biệt của người khác cũng chính là tôn trọng chính mình, sẽ được nhận lại sự tôn trọng, yêu quý của mọi người xung quanh, có thể tạo nên những thành quả, bước ngoặt và cả những kì tích. Cần lưu ý “khác biệt” chữ không phải “dị biệt” + Dẫn chứng chứng minh: Con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh + Bài học: Nhận thức đúng đắn về sự khác biệt, biết tạo ra sự khác biệt đúng lúc, đúng thời điểm để cuộc sống có thêm nhiều ý nghĩa và thành công * Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề: Mỗi chúng ta chỉ có một cơ hội để sống hết mình nên hãy luôn tự hào vì bản sắc mà ta sở hữu, nâng niu chính mình và yêu thương những người xung quanh “Khi bạn trao đi sự tôn trọng, bạn sẽ nhận lại được nó” (Erik Estrada) |
1,0 |
|
|
|
c. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chính tả, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
|
d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ |
0,25 |
|
|
2 |
Viết bài văn phân tích bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương |
4,0 điểm |
|
|
|
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương |
0,25 |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận Mở bài: - Giới thiệu tác giả: Vũ Quần Phương, tác phẩm: “Ngưỡng cửa” - Nêu nhận xét khái quát về bài thơ Nói về dấu ấn cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật, Lê Đạt từng quan niệm: Mỗi công dân có một dạng vân tay/ Mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ. Quả đúng là trong địa hạt thi ca, giữa muôn vàn tên tuổi, nhà thơ muốn thành công nhất định phải có lối đi riêng, Vũ Quần Phương đã làm được điều ấy. Bài thơ “Ngưỡng cửa” đã bồi đắp cho ta những tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành. |
3,0 0,5 |
|
|
|
Thân bài * Khái quát chung: - Giới thiệu tác giả: Vũ Quần Phương (sinh năm 1940) tên thật là Vũ Ngọc Chúc, quê cha ở Nham Định nhưng ông hầu như sinh sống và gắn bó cả đời với mảnh đất Hà Nội quê mẹ. Ông là một bác sĩ nhưng yêu thích văn chương, ông sáng tác thơ và viết phê bình văn học. Thơ ông giản dị, sâu sắc mà hóm hỉnh, khoa học, suy tư mà ăn ắp trữ tình - Giới thiệu tác phẩm: Đề tài tình cảm gia đình, nhan đề bài thơ: Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới. Vì thế, cùng viết về đề tài tình cảm gia đình nhưng bài thơ “Ngưỡng cửa” của Vũ Quần Phương đã đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ, thú vị từ nhan đề. |
0,25 |
|
|
|
* Phân tích bài thơ - Phân tích nội dung chủ đề bài thơ: Bài thơ “Ngưỡng của” của Vũ Quần Phương đã bồi đắp cho ta những tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành. - Nơi ta bắt đầu những bước đi chập chững đầu tiên, nơi ta bắt đầu đón nhận yêu thương là vòng tay của ông bà, cha mẹ, nhưng còn một nơi vô cùng gần gũi của tất cả mọi người đó là ngưỡng cửa. - Ba khổ thơ với đầy những chất chứa, mỗi khổ thơ đều là những ý tứ khác nhau. Ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đã khắc hoạ hình ảnh ngưỡng cửa đầu đời, bước đi đầu tiên có bàn tay của bà, bàn tay của mẹ dắt đi trong sự yêu thương và trìu mến, nơi rất quen thuộc đối với gia đình, chứng kiến tất cả những kỉ niệm đầu đời của em. Điều đó thật thiêng liêng và hạnh phúc đối với mỗi con người. Nơi này ai cũng quen - Khổ thơ thứ hai hiện lên nỗi vất vả của bố mẹ, vất vả làm việc, ngược xuôi làm việc ngày đêm không quản khó khăn, vội vã cho những ngày làm việc, đi qua ngưỡng cửa ấy, nơi nào nó cũng chứng kiến hoạt động của các thành viên trong gia đình, bố mẹ vất vả nuôi con khôn lớn, những đêm con ốm mẹ vất vả chăm lo. Tất cả là sự hy sinh không quản ngại không chỉ như vậy, ngưỡng cửa còn in dấu tuổi thơ tươi đẹp với những người bạn, niềm vui hồn nhiên của tuổi thơ. Nơi bố mẹ ngày đêm - Đến khổ thơ cuối cùng, chỉ những lời thơ ngắn ngủi kể về kỉ niệm ngày đầu tiên đến trường, đó là bước đà cho những ước mơ, cho hành trang sắp tới đến với tương lai vô cùng đẹp đẽ của nhân vật, con đường tương lai đó vẫn còn dài, còn xa và sẽ hướng tới nó bằng tất cả những điều yêu thương nhất. Nơi này đã đưa tôi - Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: Thể thơ ngũ ngôn dễ nhớ, dễ thuộc với những vần thơ bình dị, hồn nhiên nhưng chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc dành cho những thiếu nhi về gia đình và cuộc đời. Thơ ông tinh tế, nhạy cảm với những thay đổi của cuộc sống, luôn có cách nói bằng tứ thơ, ngôn từ bình dị, nhưng ý tưởng thâm thúy, sâu xa. Đặc biệt nghệ thuật tu từ điệp ngữ “nơi này” đã thể hiện tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành của tác giả |
1,0 0,5 |
|
|
|
* Đánh giá: Khái quát thành công về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. Liên hệ mở rộng + Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài (Xuân Diệu). Bài thơ “Ngưỡng cửa” của Vũ Quần Phương là một bài thơ như vậy. Thể thơ ngũ ngôn, ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi, giản dị mà giàu sắc gợi, các biện pháp tu từ đã góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của bài thơ |
0,25 |
|
|
|
Kết bài * Khẳng định giá trị của bài thơ. Rút ra thông điệp ý nghĩa cho bản thân Thời gian hủy hoại các lâu đài nhưng làm giàu những vần thơ. Với những giá trị về nội dung và nghệ thuật đặc sắc, bài thơ “Ngưỡng cửa” xứng đáng là món quà vô giá nhà thơ Vũ Quần Phương bàn giao cho người đọc. Từ đó, bồi đăp cho chúng ta thái độ, tình cảm trân trọng, giữ gìn và ý thức phát huy những gì mà thế hệ cha ông để lại |
0,5 |
|
|
|
c. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chính tả, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
|
d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ |
0,25 |
|
ĐỀ 20 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Ý chí, nghị lực tạo cho ta bản lĩnh và lòng dũng cảm. Người có ý chí và nghị lực là người luôn đương đầu với mọi khó khăn thử thách, là người dám nghĩ, dám làm, dám sống. Chàng trai Nguyễn Sơn Lâm, chỉ cao chưa đầy một mét, đi phải chống nạng nhưng lại giỏi ba thứ tiếng, từng thi Việt Nam Idol 2010, năm 2011, anh là người đã chinh phục đỉnh Phanxipăng và trở thành người khuyết tật Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi này mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác.
Ngoài ra, ý chí nghị lực giúp chúng ta khắc phục những khó khăn và thử thách, rèn cho ta niềm tin và thúc đẩy chúng ta luôn hướng về phía trước, vững tin vào tương lai. Đúng như người phương tây từng nói: “Hãy hướng về ánh sáng, mọi bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn”, Nick Vujicic từng nói: “Không có mục tiêu nào quá lớn, không có ước mơ nào quá xa vời”, liệt sĩ bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng nói: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”… Tất cả đều chứa đựng trong đó những thông điệp lớn lao về ý chí và nghị lực”.
(Trích Những tấm gương nghị lực sống mãnh liệt giúp bạn có thêm sức mạnh để vươn lên voh.com.vn, ngày 27/9/2019)
Câu 1(0,5 điểm). Chỉ ra luận đề của đoạn trích trên?
Câu 2(0,5 điểm). Theo đoạn trích, ý chí nghị lực tạo cho ta điều gì?
Câu 3(1,0 điểm). Phân tích vai trò của dẫn chứng được sử dụng trong đoạn văn thứ nhất .
Câu 4(1,0 điểm). Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau:“Người có ý chí và nghị lực là người luôn đương đầu với mọi khó khăn thử thách, là người dám nghĩ, dám làm, dám sống.”
Câu 5(1,0 điểm). Qua đoạn trích trên, em rút ra được những thông điệp gì?
II. Làm văn
Câu 1. Từ nội dung ở phần Đọc - hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ý chí, nghị lực trong cuộc sống.
Câu 2. Phân tích đoạn thơ sau:
|
... “Quê hương mỗi người đều có Vừa khi mở mắt chào đời Quê hương là dòng sữa mẹ Thơm thơm giọt xuống bên nôi Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người.” (Quê hương, Đỗ Trung Quân, NXB Văn học, 1991) |
* Tác giả: Đỗ Trung Quân (sinh 19 tháng 1 năm 1955) là một nhà thơ Việt Nam. Năm 1976, ông tham gia phong trào thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng... Phong cách thơ: Nhẹ nhàng, trong trẻo và sâu sắc.
* Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ viết năm 1986 với tên gọi Bài học đầu tiên cho con. Đầu thập niên 1990 bài thơ được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng và nhiều người biết đến.
* Vị trí của đoạn trích: Đoạn trích thuộc 2 khổ cuối của bài thơ.
==========Hết=========
GỢI Ý
|
Câu |
Nội dung |
|
|
I. Đọc – hiểu |
|
1 |
Luận đề của đoạn trích : Bàn về giá trị của nghị lực, ý chí. |
|
2 |
Theo đoạn trích: Ý chí, nghị lực tạo cho ta bản lĩnh và lòng dũng cảm. |
|
3 |
-Dẫn chứng trong đoạn văn thứ nhất: Chàng trai Nguyễn Sơn Lâm, chỉ cao chưa đầy một mét, đi phải chống nạng nhưng lại giỏi ba thứ tiếng, từng thi Việt Nam Idol 2010, năm 2011, anh là người đã chinh phục đỉnh Phanxipăng và trở thành người khuyết tật Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi này mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. -Vai trò: + Giúp cho lập luận chặt chẽ, lôgic, giàu sức thuyết phục, tăng độ tin cậy. + Tập trung làm sáng tỏ luận điểm : Ý chí, nghị lực tạo cho ta bản lĩnh và lòng dũng cảm. Từ đó làm nổi bật luận đề: Giá trị của ý chí, nghị lực trong cuộc sống. |
|
4 |
* Biện pháp tu từ liệt kê: “là người luôn đương đầu với mọi khó khăn thử thách, là người dám nghĩ, dám làm, dám sống”. * Hiệu quả biểu đạt: - Biện pháp tu từ liệt kê giúp cho sự diễn đạt thêm sinh động, hấp dẫn, tạo nhịp điệu cho câu văn, gây ấn tượng, tăng thuyết phục với người đọc. - Biện pháp tu từ diễn tả đầy đủ, cụ thể, chi tiết những biểu hiện của người sống có ý chí, nghị lực. Qua đó đề cao vai trò của ý chí, nghị lực trong cuộc sống. - Biện pháp tu từ thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca của tác giả với những người sống có ý chí, nghị lực, đồng thời mong muốn mọi người hãy rèn luyện để có ý chí, nghị lực. |
|
5 |
* Một số gợi ý: + Nhận thức được ý chí, nghị lực có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống. + Cần ngợi ca, đề cao, trân trọng những người có ý chí, nghị lực, tinh thần lạc quan trong cuộc sống. + Cần lên án, phê phán những người sống mà không có ý chí nghị lực, không có niềm tin về cuộc sống. + Mỗi người cần phải có ý chí, nghị lực, sự lạc quan, yêu đời, cố gắng bền bỉ vươn lên để vượt quan mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống. + Rèn luyện bản thân thành người có ý chí và nghị lực để vượt qua mọi chông gai và thử thách trên chặng đường dài. |
|
|
II. Làm văn |
|
1 |
1. Mở đoạn: Vai trò của ý chí, nghị lực trong cuộc sống 2. Thân đoạn: - Giải thích: Ý chí, nghị lực là bản lĩnh, sự dũng cảm và lòng quyết tâm cố gắng vượt qua thử thách dù khó khăn, gian khổ đến đâu để đạt được mục tiêu đề ra. - Vai trò của ý chí, nghị lực trong cuộc sống: + Ý chí, nghị lực giúp con người đối chọi với khó khăn, vượt qua thử thách của cuộc sống một cách dễ dàng hơn + Giúp con người có niềm tin vào bản thân, tinh thần lạc quan để theo đuổi đến cùng mục đích, lí tưởng sống; cho ta lòng dũng cảm, niềm tin hướng về phía trước, vươn tới tương lai. + Người có ý chí nghị lực sẽ luôn được mọi người ngưỡng mộ, cảm phục, đồng thời tạo được lòng tin ở người khác.Xã hội cũng vì thế mà trở nên tốt đẹp hơn. ( HS lấy dẫn chứng thuyết phục: thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí……) - Phản đề: Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn một số người có lối sống ỷ lại, dựa dẫm, không có ý chí nghị lực, gặp khó khăn là buông xuôi, nản chí, phó mặc cho số phận.. - Bài học nhận thức và hành động: + Bản thân nhận thức được về vai trò của ý chí, nghị lực trong cuộc sống; + Rèn luyện thái độ sống tích cực, giữ lấy sự lạc quan, niềm hi vọng và bản lĩnh của mình để hướng về phía trước; biết nỗ lực, cố gắng vượt qua những khó khăn để vươn tới thành công. 3.Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Nghị lực, ý chí là một chìa khóa vô cùng quan trọng của mỗi con người. Nó sẽ quyết định thành công sẽ đến với bạn hay không. |
|
2 |
1. Đảm bảo cấu trúc bài văn phân tích một tác phẩm thơ (đoạn thơ) Mở bài: Giới thiệu được tác giả, tác phẩm, nêu được vấn đề nghị luận. Thân bài: Triển khai các luận điểm Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận 2. Xác định đúng vấn đề: Làm rõ những nét nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật của đoạn thơ. 3. Triển khai vấn đề: Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng đảm bảo các yêu cầu sau: a. Mở bài - Giới thiệu tác giả Đỗ Trung Quân và bài thơ “Quê hương” - Giới thiệu vấn đề nghị luận và trích dẫn đoạn thơ. b.Thân bài b.1 Khái quát chung - Đỗ Trung Quân (sinh 19 tháng 1 năm 1955) là một nhà thơ Việt Nam. Năm 1976, ông tham gia phong trào thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng... Phong cách thơ: Nhẹ nhàng, trong trẻo và sâu sắc. - Bài thơ viết năm 1986 với tên gọi Bài học đầu cho con. Đầu thập niên 1990 bài thơ được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng và nhiều người biết đến. - Đoạn thơ là những lời dặn dò chân thành, thiết tha của người cha, người mẹ đối với con, là lời khẳng định quê hương rất đỗi thân thương, bình dị, quê hương là cội nguồn, nơi nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mỗi người, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên, gần gũi của con người thôn quê, qua đó nhắc nhở mỗi người về ý thức trách nhiệm, hướng về quê hương, cội nguồn. b.2 Luận điểm 1: Nêu và phân tích nội dung chủ đề của đoạn thơ: Ý nghĩa của quê hương trong cuộc đời của mỗi con người và lời nhắc nhở của nhà thơ. * Ý nghĩa quan trọng của quê hương trong cuộc đời của mỗi con người (khổ thơ đầu) - Câu thơ mở đầu như một lời khẳng định với mỗi con người ai sinh ra và lớn lên đều có một quê hương cho riêng mình. - Cụm từ “Vừa khi mở mắt…” nhiều người ngỡ ngàng khi nhận ra, quê hương sao gần quá. Từ thuở tuổi ấu thơ nằm nôi, hình ảnh quê hương xuất hiện trong câu chuyên bà kể, trong lời hát mẹ ru, trong trái cây dịu mát... - Cách tác giả đưa ra định nghĩa về quê hương: so sánh “quê hương - dòng sữa mẹ” => Hình ảnh giản dị, gần gũi, ấm áp, chân thực, thân thuộc. Từ đó khẳng định quê hương là khởi nguồn của sự sống, là nơi nuôi dưỡng con khôn lớn, trưởng thành. - Thái độ trân trọng, tình cảm mến yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương. * Lời nhắc nhở của tác giả (Khổ thơ sau) - Nhà thơ so sánh quê hương như một người mẹ, dang rộng vòng tay ấm áp để đón lấy đàn con thơ trở về. Kể cả khi không có nhà, quê hương vẫn bảo vệ con khỏi bão tố, mưa sa ngoài kia. Quê hương là duy nhất cũng như mỗi người chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời. Từ “chỉ một” càng khẳng định điều đó. - “Nhớ”: một biểu hiện của tình cảm lưu giữ rõ nét đến từng chi tiết con người, cảnh vật quê hương. “Nhớ quê” là không chỉ nỗi nhớ một vùng đất, một lãnh thổ mà còn nhớ về cội nguồn, lịch sử, văn hóa, thuần phong mĩ tục, về con người đang đổ mồ hôi, nước mắt cho quê hương, đất nước,... - Cụm từ “không lớn nổi” kết hợp với kiểu câu điều kiện - kết quả “ Nếu .. sẽ” -> con người có thể lớn lên về thể chất nhưng sẽ không thể lớn lên về tâm hồn, không thể trưởng thành nếu không nhớ về cội nguồn, gốc rễ, và chắc chắn sẽ là người không có đạo đức, không có nhân cách tốt. - Điệp ngữ “Quê hương” được lặp lại rất nhiều lần, khẳng định đối với mỗi người, quê hương là cả ký ức, linh hồn, thương nhớ, thậm chí là không thể rời xa. Sự gắn bó của quê hương thật kỳ diệu, cũng chính nơi đó có tình thương, có bạn bè, người thân, thầy cô. => Từ “chỉ một” muốn khẳng định/nhấn mạnh tầm quan trọng của quê hương trong việc hình thành nhân cách một con người b.3. Luận điểm 1: Đặc sắc nghệ thuật +Thể thơ sáu chữ; ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng phù hợp với lối tâm tình, thủ thỉ, gửi gắm con về tầm quan trọng của quê hương trong đời sống đặc biệt trong việc hình thành nhân cách một con người +Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, hình ảnh thơ trong sáng, gần gũi, miêu tả quê hương bình dị và thiêng liêng. + Sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ tthuật: so sánh, điệp ngữ… * Khái quát chung - Khái quát, đánh giá về vấn đề nghị luận. - Bài học nhận thức, suy ngẫm cho bản thân từ đoạn thơ, bài thơ.. c. Kết bài Khẳng định lại vấn đề nghị luận và sức sống của tác phẩm 4. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt… 5. Sáng tạo - Thí sinh có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, so sánh, liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài - Thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc; văn viết giàu cảm xúc. |
|
ĐỀ 21 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
(1) Để trưởng thành, tất cả chúng ta đều phải trải qua hai cuộc đấu tranh: một cuộc đấu tranh bên ngoài và một cuộc đấu tranh ngay trong tâm trí mỗi người. Nhưng cuộc đấu tranh quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất chính là cuộc đấu tranh diễn ra ngay trong tâm hồn mỗi người. Đó là cuộc đấu tranh chống lại những thói quen không lành mạnh, những cơn nóng giận sắp bùng phát, những lời gian dối chực trào, những phán xét thiếu cơ sở và cả những căn bệnh hiểm nghèo…. Những cuộc đấu tranh như thế diễn ra liên tục và thật sự rất gian khó, nhưng lại là điều kiện giúp bạn nhận ra cảnh giới cao nhất của mình.
(2) Hãy luôn cẩn trọng và can đảm. Hãy tiếp thu ý kiến những người xung quanh nhưng đừng để họ chi phối quá nhiều đến cuộc đời bạn. Hãy giải quyết những bất đồng trong khả năng của mình nhưng đừng quên đấu tranh đến cùng để hoàn thành mục tiêu đề ra. Đừng để bóng đen của nỗi lo sợ bao trùm đến cuộc sống của bạn.
(3) Bạn phải hiếu rằng, dù có thất bại thảm hại đến mấy chăng nữa thì bạn cũng đã học hỏi được điều gì đó bổ ích cho mình. Vì vậy, hãy tin tưởng vào con đường mình đang đi và vững vàng trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả.
(4) Với sự hi sinh, lòng kiên trì, quyết tâm nỗ lực không mệt mỏi và tính tự chủ của mình, nhất định bạn sẽ thành công. Bạn chính là người làm chủ số phận của mình…”
(Trích Đánh thức khát vọng, nhiều tác giả, First News tổng hợp NXB Hồng Đức, 2017, tr.67,78)
Câu 1: Anh/ chị hãy chỉ ra những bằng chứng để làm sáng tỏ lí lẽ về “cuộc đấu tranh diễn ra ngay trong tâm hồn mỗi người”? ở đoạn (1) là gì?
Câu 2: Từ những luận điểm, lí lẽ, bằng chứng, tác giả nhằm khẳng định vấn đề gì?
Câu 3: Xác định và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong những câu văn: Hãy luôn cẩn trọng và can đảm. Hãy tiếp thu ý kiến những người xung quanh nhưng đừng để họ chi phối quá nhiều đến cuộc đời bạn. Hãy giải quyết những bất đồng trong khả năng của mình nhưng đừng quên đấu tranh đến cùng để hoàn thành mục tiêu đề ra.
Câu 4: Anh/ chị hiểu như thế nào về ý kiến: “Dù có thất bại thảm hại đến mấy chăng nữa thì bạn cũng đã học hỏi được một điều gì đó bổ ích cho mình”.
Câu 5: Thông điệp có ý nghĩa nhất qua đoạn trích? Lí giải?
II. PHẦN LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về vấn đề: "Là học sinh, em nghĩ làm thế nào để xác định đúng mục tiêu trong học tập và cuộc sống?”
Câu 2. (4.0 điểm)
Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Bố tôi” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần
BỐ TÔI
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ một vùng núi cao xa xôi, luôn dõi theo tôi.
Cuối mỗi tuần, bao giờ ông cũng mặc chiếc áo phẳng phiu nhất, đi chân đất xuống núi, rẽ vào bưu điện để nhận lá thư tôi gửi. Lặng lẽ vụng về, ông mở lá thư, xem từng con chữ, chạm tay vào nó, ép nó vào khuôn mặt đầy râu. Rồi cũng lặng lẽ như lúc mở ra, ông gấp nó lại, nhét vào bao thư, mỉm cười rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi:“Con vừa gửi thư về.”. Mẹ tôi hỏi:“Thư đâu?”. Ông trao thư cho bà. Bà cẩn thận mở nó ra, khen:“Con mình viết chữ đẹp quá! Chữ thật tròn, những cái móc rất bén. Chỉ tiếc là không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm?”. Như mọi lần, bố tôi luôn bảo: “Chuyện bố con tôi chẳng lẽ để cho người ta đọc vanh vách lên? Nó là con tôi, nó viết gì tôi biết cả.”. Rồi ông lấy lại lá thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm vào mặt rồi cất đi, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt. [...]
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học - ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả cuộc đời.
(Theo Nguyễn Ngọc Thuần in trong “Tuyển tập truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi” - Nxb Giáo dục Việt Nam.)
Chú thích: Nguyễn Ngọc Thuần (1972) quê ở Tân Thiện - Hàm Tân, Bình Thuận, là một nhà văn trẻ đầy triển vọng ở thể loại văn xuôi đương đại, là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam.
…………………………………Hết……………………………………...
|
ĐỀ GIỚI THIỆU |
ĐÁP ÁN ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO 10 THPT. NĂM HỌC 2024-2025 MÔN: NGỮ VĂN. |
|
Phần |
Câu |
NỘI DUNG CẦN ĐẠT |
Điểm |
|
ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) |
1 |
- Cuộc đấu tranh chống lại những thói quen không lành mạnh, những cơn nóng giận sắp bùng phát, những lời gian dối chực trào, những phán xét thiếu cơ sở và cả những căn bệnh hiểm nghèo… |
0.5 |
|
2 |
Mỗi chúng ta (bạn) chính là người làm chủ số phận của mình |
0.5 |
|
|
3 |
- Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc (Hãy…. nhưng…) - Tác dụng: + Nhấn mạnh cần cân bằng giữa việc giải quyết những vấn đề, những tác động từ bên ngoài với các vấn đề trong nội tại mỗi cá nhân. + Tạo âm hưởng, nhịp điệu, tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn. |
1.0 |
|
|
4 |
- Nội dung câu nói: “Dù có thất bại thảm hại đến mấy chăng nữa thì bạn cũng đã học hỏi được một điều gì đó bổ ích cho mình” : Mỗi thất bại là một lần chúng ta rút ra những kinh nghiệm, những bài học xương máu cho bản thân trên con đường dẫn đến thành công. Như vậy, thất bại còn là nguồn động lực để ta không ngừng nỗ lực, cố gắng, trau dồi bản thân trở nên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn. - Nêu suy nghĩ của bản thân: + Đừng ngại vấp ngã, đừng sợ thất bại, đừng chán nản bi quan khi gặp phải thất bại. + Hãy biết cách đứng lên sau mỗi lần vấp ngã bằng chính những kinh nghiệm, bài học đúc kết từ thất bại. |
1.0 |
|
|
5 |
HS có thể chọn một trong số các thông điệp sau, lí giải hợp lí: - Luôn đấu tranh với bản thân để hoàn thiện mình mỗi ngày - Sống cần có lí tưởng, mục tiêu và nỗ lực hành động. - Học hỏi, tiếp thu ý kiến từ những người xung quanh… |
1.0 |
|
|
VIẾT (6.0 điểm) |
1 |
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về vấn đề: "Là học sinh, em nghĩ làm thế nào để xác định đúng mục tiêu trong học tập và cuộc sống?” |
2.0 |
|
* Yêu cầu về hình thức: Viết đúng một văn bản nghị luận ngắn, khoảng 200 từ. Trình bày mạch lạc rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cách để xác đúng mục tiêu trong cuộc sống. * Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý sau đây: 1. Giải thích vấn đề: Xác định mục tiêu trong học tập và cuộc sống là quá trình nhận thức và lựa chọn những gì mình muốn đạt được trong tương lai. 2. Phân tích vấn đề: - Hiện nay, nhiều học sinh vẫn còn mơ hồ về mục tiêu của mình, không có định hướng rõ ràng, dẫn đến việc lãng phí thời gian, công sức, tài năng. Một số em lại đặt ra những mục tiêu quá cao hoặc không phù hợp với khả năng, dẫn đến thất vọng và chán nản. - Việc không xác định được mục tiêu đúng đắn có thể dẫn đến mất phương hướng, thiếu động lực học tập và dễ bị lôi kéo vào những hoạt động không lành mạnh…. 3. Giải pháp giải quyết vấn đề: 3.1. Tự nhìn nhận bản thân, khám phá thế mạnh và đam mê: + Thường xuyên dành thời gian suy ngẫm về bản thân, những điều mình yêu thích, giỏi giang và mong muốn đạt được. + Tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ để trải nghiệm và khám phá bản thân qua các bài trắc nghiệm tính cách, hướng nghiệp. -> Hiểu rõ bản thân là bước đầu tiên để xác định mục tiêu phù hợp. Nhiều tấm gương thành công đã chia sẻ rằng, họ đạt được những thành tựu lớn lao là nhờ dám theo đuổi đam mê và phát huy thế mạnh của bản thân. Steve Jobs, Bill Gates, Mark Zuckerberg,... đều là những minh chứng rõ nét. 3.2. Học hỏi từ những người xung quanh, từ những tấm gương thành công: + Tìm đọc sách, báo, xem phim tài liệu về những người thành công trong lĩnh vực mình quan tâm. + Gặp gỡ, trò chuyện với những người có kinh nghiệm, thành tựu để học hỏi. -> Những tấm gương thành công là nguồn cảm hứng lớn lao, giúp ta mở rộng tầm nhìn, hiểu biết và học hỏi từ những kinh nghiệm quý báu của họ. 3.3. Đặt mục tiêu cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi: 3.4. Lên kế hoạch hành động và kiên trì thực hiện: (Người chấm cần linh hoạt. HS có thể nêu 1-2 giải pháp mà thuyết phục đều cho điểm tối đa) 4. Đưa ra ý kiến trái chiều và phản biện: Một số người cho rằng việc đặt mục tiêu quá sớm có thể hạn chế sự phát triển tự nhiên của học sinh. Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu không có nghĩa là gò ép bản thân vào một khuôn khổ cứng nhắc. Mục tiêu có thể thay đổi và điều chỉnh theo thời gian, miễn là nó phù hợp với sở thích, khả năng, và giá trị của mỗi người. 5. Liên hệ bản thân + Bài học * Khuyến khích bài viết sáng tạo; có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện những suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận |
0.25 0.25 1.0 0.25 0.25 |
||
|
2 |
Viết bài văn phân tích truyện ngắn “Bố tôi” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần |
4.0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài: giới thiệu được vấn đề; thân bài: triển khai được vấn đề; kết bài: khái quát được vấn đề. |
0.25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận |
0.25 |
||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận Vận dụng tốt các thao tác lập luận; luận điểm rõ ràng, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng trong lập luận. Thí sinh cần triển khai được các vấn đề sau: |
|
||
|
* Giới thiệu khái quát về tác giả - tác phẩm - Giới thiệu phong cách sáng tác của tác giả Nguyễn Ngọc Thuần: + Truyện ngắn của ông chạm đến tâm hồn bạn đọc bởi sự trong trẻo, dễ thương. + Khi viết cho người lớn phải là từ những trải nghiệm thực tế của cuộc sống. + Khi viết cho thiếu nhi, ông thường đặt mình vào đứa trẻ, vẽ nên một thế giới đầy trong sáng và niềm tin. + Quan niệm: Văn chương phải đẹp và nhân văn, hướng đến những giá trị Chân - Thiện – Mỹ của đời sống + Xuất xứ của truyện: Truyện Bố tôi in trong Tuyển tập truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi - NXB Giáo dục Việt Nam. |
0. 5 |
||
|
* Nêu và phân tích chủ đề của truyện ngắn “Bố tôi”-Nguyễn Ngọc Thuần: - Nêu nội dung, chủ đề: + Truyện kể về người bố của nhân vật “tôi”. Ông ở vùng đồi núi hiểm trở, người con học ở dưới đồng bằng xa nhà. Ông dành cho con những tình yêu thương sâu sắc và luôn dõi theo con từng ngày. Mỗi khi nhận được thư của con gửi về, ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc và luôn trân trọng những bức thư ấy vì theo ông nghĩ con viết thư về được là vẫn mạnh khỏe. Ngày con bước chân vào giảng đường đại học cũng là lúc người bố ra đi mãi mãi, đó là ngày khai trường đầu tiên mà nhân vật “tôi” không có bố đi cùng. Nhưng nhân vật “tôi” tin rằng bố sẽ theo mình suốt hành trình cuộc đời phía trước. + Truyện ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người bố dành cho gia đình, con cái và tấm lòng biết ơn sâu nặng của người con dành cho người bố kính yêu. Đồng thời, truyện cũng gửi gắm lời nhắc nhở những người con phải biết thương yêu, kính trọng và biết ơn và sống hiếu thảo với bố mẹ của mình - Phân tích nội dung, chủ đề: + Chủ đề của truyện được mở ra bằng tình huống rất gần gũi, đời thường nhưng lại xúc động bởi sự xa cách của hai bố con trong niềm thương nhớ khôn nguôi: “Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi”. Cách vào đề ngắn gọn mà hấp dẫn, lôi cuốn người đọc dõi theo hành trình của hai bố con trong cuộc đời + Chủ đề của truyện thể hiện ở hình ảnh người bố hiện ra thật giản dị, đời thường nhưng gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc + Một người bố luôn quan tâm, dõi theo con + Chủ đề của truyện còn thể hiện ở nhân vật người bố tinh tế, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của con mình + Một khía cạnh khác thể hiện chủ đề của truyện là tình yêu thương, sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người con dành cho bố + Chủ đề của truyện còn gửi gắm những bài học được gợi lên từ câu chuyện: Tình cảm cha con là thiêng liêng và quý giá vì đây là tình cảm làm cơ sở cội nguồn cho tình yêu quê hương, đất nước.Chúng ta cần yêu thương, trân trọng, kính yêu bố mẹ của mình. |
1.5 |
||
|
* Phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện + Kết hợp khéo léo các phương thức kể, tả, biểu cảm khiến câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn. + Cốt truyện ngắn gọn, tình huống truyện đơn giản, nhân vật người bi được đặt trong những tình huống rất đời thường để bộc lộ tính cách phẩm chất. + Mạch truyện đi theo trình tự thời gian, có đan xen cả hồi tưởng và đọng kết bằng những suy ngẫm sâu sắc trong hiện tại của nhân vật “tôi” khiến câu chuyện vừa xúc động vừa có chiều sâu. + Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật được xây dựng chủ yếu thể hiện qua ngoại hình, hành động, lời nói; ngôn ngữ của nhân vật. + Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, bình dị, lôi cuốn. => Tác phẩm đem đến cho người đọc sự xúc động về tình phụ tử thiêng liêng, cao quý. Đọc xong truyện, ai cũng cảm thấy như mình còn có lẽ với bố mình về một điều gì đó và tự thầm hứa với bản thân phải biế thương yêu, trân trọng và sống hiếu thảo với bố mình. |
0.75 |
||
|
* Khẳng định lại giá trị của truyện. - Bài học được rút ra với bản thân hoặc lời nhắn gửi, bức thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. |
0.25 |
||
|
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu Viết đúng chính tả, dùng đúng từ, viết đúng câu. |
0.25 |
||
|
e. Sáng tạo Có cách diễn đạt linh hoạt, mới mẻ, độc đáo và truyền cảm; thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vấn đề nghị luận. |
0.25 |
|
ĐỀ 22 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
(1) “Từ xưa, cha ông ta quan niệm “Để vàng bạc chẳng bằng để sách cho con” chứng tỏ sách quý hơn gia tài, hay chính sách là một gia tài khổng lồ. Sách là công cụ lưu giữ văn minh nhân loại, người đọc sách nâng cao hiểu biết, có cơ hội đưa mình về với lịch sử tìm lại quá khứ hoặc khám phá tương lai. Người đọc sách hoàn toàn có thể chu du đến mọi vùng đất mới mà điều kiện chưa cho phép khám phá thực tế, đồng thời, với sách, con người có thể đi thật sâu vào thế giới tâm hồn người khác để yêu thương, đồng cảm. Chính sách sẽ bồi đắp tâm hồn, “gây cho ta những gì ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có” (lời của Hoài Thanh). Cũng từ sách ta tìm kiếm cho mình cơ hội mới, nâng cao kĩ năng sống. Và không thể phủ nhận, sách giúp chúng ta đặc biệt là học sinh thực hành luyện từ và câu, nâng cao khả năng giao tiếp, hạn chế lỗi diễn đạt và chính tả. Quả thật, như M.Gorki đã nói: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”
(2) Sách tuyệt vời là thế, người Việt Nam ta yêu sách là thế, nhưng tuổi trẻ bây giờ, nhất là lứa tuổi học sinh có còn yêu thích sách không? Ngày nay, công nghệ phát triển mạnh mẽ, chỉ cần một thiết bị điện tử thông minh kết nối Internet, con người tìm kiếm thông tin bằng kênh chữ, kênh hình một cách dễ dàng. Những hấp dẫn đó thu hút giới trẻ, nhất là học sinh, lứa tuổi mà nhận thức chưa chín chắn khiến các em chưa hào hứng với sách, chưa có thói quen đọc sách. Đó là tất yếu. Nhưng giữa muôn vàn thông tin thật giả lẫn lộn trên mạng xã hội, những quyển sách giấy với nội dung được kiểm duyệt vẫn là một lựa chọn tối ưu để bậc cha mẹ, thầy cô hướng học sinh vào đọc sách. Vì vậy, rất cần thiết phải hình thành thói quen đọc sách trong toàn xã hội, nhất là học sinh.
(Theo Lại Thị Linh, Rèn luyện thói quen đọc sách cho học sinh,
Báo Giáo dục và Thời đại, số 97, Thứ hai, ngày 22/4/2024)
Câu 1 (0.5 điểm). Đoạn trích trên bàn luận về vấn đề gì?
Câu 2 (0.5 điểm). Trong đoạn văn (1), người viết đã dùng những lời dẫn trực tiếp nào?
Câu 3 (1.0 điểm). Vì sao tác giả lại cho rằng: “Người đọc sách hoàn toàn có thể chu du đến mọi vùng đất mới mà điều kiện chưa cho phép khám phá thực tế, đồng thời, với sách, con người có thể đi thật sâu vào thế giới tâm hồn người khác để yêu thương, đồng cảm.”
Câu 4 (1.0 điểm). Việc trích dẫn câu nói nổi tiếng của M.Gorki : “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.” trong đoạn (1) có tác dụng gì?
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích, em rút ra được bài học gì đối với bản thân?
Phần II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 6. (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết phải rèn luyện những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày.
Câu 7. (4,0 điểm) Hãy viết bài văn phân tích bài thơ “Áo cũ” của nhà thơ Lưu Quang Vũ
ÁO CŨ
(Lưu Quang Vũ)
Áo cũ rồi, mỗi ngày thêm ngắn
Chỉ đứt sờn màu bạc hai vai
Thương áo cũ như là thương kí ức
Đựng trong hồn cho mắt phải cay cay.
Mẹ vá áo mới biết con chóng lớn
Mẹ không còn nhìn rõ chỉ để xâu kim
Áo con có đường khâu tay mẹ vá
Thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm.
Áo đã ở với con qua mùa qua tháng
Cũ rồi con vẫn quý vẫn thương
Con chẳng nỡ mỗi lần thay áo mới
Áo dài hơn thấy mẹ cũng già hơn.
Hãy biết thương lấy những manh áo cũ
Để càng thương lấy mẹ của ta
Hãy biết thương những gì đã cùng ta sống
Những gì trong năm tháng trôi qua...
(1963, 9H)
* Chú thích:
- Lưu Quang Vũ (1948-1988) quê gốc ở Đà Nẵng, là con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Một số tác phẩm kịch nổi tiếng của ông: Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lời thề thứ 9, Bệnh sĩ, Khoảnh khắc và vô tận, Ông không phải bố tôi, Tôi và chúng ta, Tin ở hoa hồng, Nàng Sita, v.v. Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bay bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Rất nhiều bài thơ của ông được bạn đọc yêu thích như: Và anh tồn tại, Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu.... Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn mang đậm phong cách riêng.
- Bài thơ Áo cũ được Lưu Quang Vũ viết khi vẫn còn là cậu học trò lớp 9. Thông qua bài thơ, tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, trân quý dành cho người mẹ của mình, xót xa khi mẹ ngày càng già đi; đồng thời thể hiện tình cảm trân trọng, nâng niu, cất giữ những kí ức, kỉ niệm trong quá khứ.
……………….……Hết………………………
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: …………………………….; Số báo danh: …………………
Chữ kí của cán bộ coi thi 1: …… …; Chữ kí của cán bộ coi thi 2: ………….
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
|
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) |
|
|
1 |
Trong các đoạn trích trên, người viết bàn luận về vai trò, giá trị của sách và sự cần thiết phải hình thành thói quen đọc sách trong toàn xã hội, nhất là học sinh. |
0,5 |
|
2 |
Trong đoạn (1), người viết đã dùng những lời dẫn trực tiếp sau: - “Để vàng bạc chẳng bằng để sách cho con.” - “gây cho ta những gì ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”. - “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.” |
0,5 |
|
3 |
Học sinh giải thích: -“ Người đọc sách hoàn toàn có thể chu du đến mọi vùng đất mới mà điều kiện chưa cho phép khám phá thực tế”: + Trong thực tế, vì điều kiện không có phép mà có rất nhiều nơi chúng ta không thể đặt chân tới. + Thế giới trong sách là cả xã hội rộng lớn bao la, là sông, là biển, là rừng,….. Đó có thể là những vùng đất xa xôi có thực mà chúng ta không có điều kiện đến đó hoặc cả những thế giới vượt xa ngoài tầm với. - “với sách, con người có thể đi thật sâu vào thế giới tâm hồn người khác để yêu thương, đồng cảm.” + Đọc sách nhất là sách văn học, chúng ta có thể gặp những những nhân vật với số phận khác nhau. Dõi theo số phận nhân vật, chúng ta có thể vui buồn hay cảm động, chia sẻ, tự hào, thích thú hay thất vọng, nhói đau,… + Tất cả những tình cảm ấy, dần dần giúp tâm hồn chúng ta được bồi đắp những cảm xúc tốt đẹp: biết đồng cảm, sẻ chia, biết thương và xót xa trước số phận của những nhân vật, biết căm phẫn trước những bất công, ngang trái của xã hội cũ, biết trân quý những điều bình dị, nhỏ bé trong cuộc sống, biết yêu thương cuộc đời dẫu còn nhiều những chông chênh, biết cảm ơn những tấm lòng vị tha, nhân ái, những vòng tay dẫu gian nan vẫn sẵn sàng nâng đỡ kẻ khốn khó hơn mình,…. |
1,0 |
|
4 |
Việc trích dẫn câu nói nổi tiếng của M.Gorki : “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.” trong đoạn (1) có tác dụng: Tăng tính thuyết phục đối với người đọc, người nghe về vai trò, ý nghĩa to lớn của sách, … |
1,0 |
|
5 |
Học sinh có thể rút ra một trong những bài học sau: - Việc đọc sách có vai trò quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với mỗi người nên cần rèn luyện thói quen đọc sách.. - Khi đọc sách chú ý lựa chọn, ưu tiên sách giấy với nội dung đã được kiểm duyệt. - Mỗi người đều cần rèn luyện, hình thành các thói quen tốt trong đó có thói quen đọc sách mỗi ngày. …… |
1,0 |
|
|
II. LÀM VĂN (7,0 điểm) |
|
|
6 |
Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết phải rèn luyện những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày. |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. - Thí sinh biết cách viết đúng hình thức của một đoạn văn (khoảng 200 chữ), có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, hỗn hợp, móc xích hoặc song song. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: sự cần thiết phải rèn luyện những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày. |
0,25 |
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận. Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ vấn đề sự cần thiết phải rèn luyện những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày. Học sinh có thể theo định hướng: - Xây dựng thói quen tốt có ý nghĩa rất lớn đối với mọi mặt cuộc sống và sự phát triển cá nhân mỗi người: + Thói quen tốt về dinh dưỡng, tập thể dục và giấc ngủ đủ giấc giúp cải thiện sức khỏe vật lý và tinh thần. Điều này giúp chúng ta có năng lượng và tinh thần tốt hơn để đối mặt với các thách thức hàng ngày và tận hưởng cuộc sống. + Xây dựng thói quen tốt giúp chúng ta trở nên tự chủ, tập trung hơn, hiệu quả công việc cao hơn hơn trong cuộc sống. Chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành công việc và đạt được mục tiêu khi có các thói quen hàng ngày + Xây dựng thói quen tốt là một phần quan trọng của việc phát triển bản thân. Nó giúp bạn trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình, hoàn thiện mình để trở lên tốt hơn. + Thói quen tốt giúp tạo ra một cảm giác hạnh phúc và thoải mái. - Xây dựng thói quen tích cực không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn tác động mạnh mẽ tới cộng đồng, xã hội: + Bằng cách thực hiện và duy trì thói quen tốt, mỗi các nhân có thể trở thành một gương mẫu tích cực cho người khác, đồng thời giúp giảm thiểu các vấn đề sức khỏe và tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho mọi người. - Mỗi cá nhân cần hiểu được sự cần thiết phải rèn luyện những thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày; tạo lập cho bản thân những thói quen tốt bắt đầu bằng việc xác định rõ mục tiêu, những thói quen bạn muốn đạt và bắt đầu với những thay đổi nhỏ và dần dần tăng lên đều đặn. Lập kế hoạch rèn luyện, hình thành thói quen. Việc rèn luyện thói quen tốt là một quá trình và cần sự kiên nhẫn. |
0,5 |
|
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. - Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
0,5 |
|
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo đúng chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
|
e. Sáng tạo: Thí sinh thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ (huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về tư tưởng đạo lý; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận, có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh). |
0,25 |
|
7 |
Hãy viết bài văn phân tích bài thơ “Áo cũ” của nhà thơ Lưu Quang Vũ |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài giới thiệu được vấn đề; Thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài khái quát được vấn đề. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Phân tích bài thơ “Áo cũ” của nhà thơ Lưu Quang Vũ |
0,5 |
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lý theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ, tác phẩm “Áo cũ” và đánh giá khái quát về bài thơ. * Triển khai vấn đề nghị luận: Phân tích được bài thơ, có thể theo một số gợi ý sau: C1. Bài thơ thể hiện ý rộng, tình sâu qua việc gợi tả chiếc áo cũ để khắc họa hình ảnh người mẹ và thể hiện tình cảm sâu nặng của con với mẹ. * Chiếc áo cũ gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ và thể hiện tình yêu thương sâu nặng của con đối với mẹ (Phân tích 2 khổ thơ đầu). - HS phân tích một số hình ảnh gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ: áo cũ, chỉ đứt sờn màu bạc hai vai, đường khâu mẹ vá... -> con nhớ đến hình ảnh mẹ tần tảo, chăm chút, yêu thương con. - HS phân tích từ ngữ thể hiện tình yêu thương của con với mẹ: thương áo cũ, thương kí ức, mắt cay cay, thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm... -> con xúc động trước tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc của mẹ. * Từ hình ảnh chiếc áo cũ, người con thể hiện những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời (Phân tích 2 khổ thơ cuối) - HS phân tích hình ảnh chiếc áo gắn bó với người con qua năm tháng: áo ở với con..., vẫn quý vẫn thương, chẳng nỡ thay áo mới, mẹ cũng già hơn... -> theo thời gian, con càng thấu hiểu hơn về mẹ và bày tỏ niềm xót xa khi mẹ già đi. - HS cảm nhận những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời: thương... manh áo cũ, thương lấy mẹ, thương những gì cùng ta sống... -> yêu thương, trân trọng, biết ơn mẹ và trân trọng quá khứ nghĩa tình... => Bài thơ thể hiện những ý rộng, tình sâu qua tình cảm tha thiết, mãnh liệt của con với mẹ và những suy ngẫm sâu sắc về mẹ, về cuộc đời. C2. Bài thơ thể hiện tình cảm sâu sắc của con với mẹ qua lời hay, tiếng đẹp. - Thể thơ: tự do -> thể hiện linh hoạt tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình. - Giọng điệu: khi tha thiết, khi sâu lắng... - Từ ngữ, hình ảnh: giản dị, gợi hình gợi cảm và giàu ý nghĩa. - Biện pháp tu từ: vận dụng tinh tế, linh hoạt các biện pháp tu từ (điệp ngữ, so sánh...) Lưu ý: HS lấy dẫn chứng một số từ ngữ, hình ảnh nổi bật để làm rõ nét đặc sắc nghệ thuật. => Bằng sự quan sát tinh tế, tài năng chọn lọc những lời hay tiếng đẹp, bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. * Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ và rút ra bài học, liên hệ, mở rộng |
1,0 |
|
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất 02 luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân về thực hiện yêu cầu của đề. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. |
1,5 |
|
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo đúng chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
e. Sáng tạo: Thí sinh có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận (biết vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, đánh giá, biết so sánh với các tác phẩm khác; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống; lời văn có giọng điệu, hình ảnh, cảm xúc). |
0,5 |
|
|
|
Tổng điểm |
10,0 |
............................ Hết ..........................
|
ĐỀ 23 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu :
“Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời như một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng lên rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có nhiều người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có thể dễ dàng “mắc bẫy” đến như thế…
Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá: Về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân hay về một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng.
(...) Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời gian làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi...”
(Trích“ Hãy học cách đứng lên sau vấp ngã – Nguồn www.vietgiaitri.com, 04/6/2015)
Câu 1 ( 0,5 điểm): Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên?
Câu 2 ( 0,5 điểm): Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào để khẳng định“Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá”?
Câu 3 (1,0 điểm): Hãy phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ trong hai câu văn sau: “Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”?
Câu 4 (1,0 điểm) Em hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá”?
Câu 5 (1,0 điểm): Em rút ra thông điệp sâu sắc nào từ đoạn trích trên?
Phần II: Làm Văn (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống của mỗi con người?
Câu 2. (4,0 điểm) Viết một bài văn phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ sau:
ÁO CŨ
Áo cũ rồi, mỗi ngày thêm ngắn
Chỉ đứt sờn màu bạc hai vai
Thương áo cũ như là thương kí ức
Đựng trong hồn cho mắt phải cay cay.
Mẹ vá áo mới biết con chóng lớn
Mẹ không còn nhìn rõ chỉ để xâu kim
Áo con có đường khâu tay mẹ vá
Thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm.
Áo đã ở với con qua mùa qua tháng
Cũ rồi con vẫn quý vẫn thương
Con chẳng nỡ mỗi lần thay áo mới
Áo dài hơn thấy mẹ cũng già hơn.
Hãy biết thương lấy những manh áo cũ
Để càng thương lấy mẹ của ta
Hãy biết thương những gì đã cùng ta sống
Những gì trong năm tháng trôi qua...
(Lưu Quang Vũ)
*Chú thích: Lưu Quang Vũ (17/4/1948 - 29/8/1988) là nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng. Bài thơ Áo cũ được viết vào năm 1963, khi tác giả mới 15 tuổi, học lớp 9 và đến năm 2002, Áo cũ mới được in trong tập thơ tình của nhà xuất bản Văn học.
HƯỚNG DẪN CHẤM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
1 |
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời chính xác như đáp án 0,5 điểm - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
0.5 |
|
|
2 |
- Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng sau: “Về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân; một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng”để khẳng định“Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá” Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời được 1 ý : 0,25 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
0,5 |
|
|
3 |
* Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (Đừng để khi) ; điệp cấu trúc ngữ pháp (lặp cấu trúc ngữ pháp); đối lập (tia nắng...đã lên><giọt lê....rơi). * Tác dụng: Tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối. Nhấn mạnh, khuyến khính mọi người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa nhịp với thế giới xung quanh…Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với tâm trạng con người, nhằm khích lệ con người từ bỏ những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui tươi, ý nghĩa.... Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương:1,0 điểm. - HS chỉ nêu tác dụng mà không chỉ rõ biện pháp tu từ: 0,5 điểm - Học sinh trả lời được một tác dụng như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0.25 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
0,5 0,5 |
|
|
4 |
Tác giả lại cho rằng: “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá” vì sau những vấp ngã ,con người sẽ rút ra bài học đáng quý + Bài học về kinh nghiệm +Bài học về ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống + Bài học về giá trị trong cuộc sống. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đủ 3 ý như đáp án hoặc diễn đạt tương đương:1,0 điểm - Học sinh trả lời được 2 ý: 0,75 điểm. - Học sinh trả lời được 1 ý: 0,25 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
4 |
-Học sinh trình bày 1 thông điệp sâu sắc nhất với bản thân và lí giải phù hợp. + Gợi ý 1 số thông điệp: Sống như thế nào để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ; đứng dậy sau khi vấp ngã để có cuộc sống tươi đẹp trong tương lai; có niềm tin vào cuộc sống……… + Lí giải: Học sinh có những lí giải phù hợp với thông điệp đưa ra. Hướng dẫn chấm: - Học sinh nêu được một thông điệp ý nghĩa nhất phù hợp với nội dung ý nghĩa văn bản, có những lý giải phù hợp: 1,0 điểm. - Học sinh nêu được một thông điệp ý nghĩa nhất nhưng chưa lý giải được; hoặc lý giải chưa phù hợp; hoặc có thông điệp và có lý giải nhưng chưa thật thuyết phục: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời lạc đề: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
|
|
|
|
|
II |
|
VIẾT |
6,0 |
|
1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về việc làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống của mỗi con người? |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Hình thức: một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. - Dung lượng: khoảng 200 chữ. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: - Làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách? |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Cuộc sống luôn ẩn chứa nhiều khó khăn thử thách, vì vậy con người cần phải biết cách để vượt qua + Mỗi người cần phải hiểu được ý nghĩa của những khó khăn, thử thách + Phải sống có mục đích, lí tưởng đúng đắn + Phải luôn mạnh mẽ, có ý chí nghị lực, sẵn sàng đối mặt với khó khăn thử thách … + Phải biến khó khăn thành cơ hội, thành động lực vươn lên; coi khó khăn thử thách là điều tất yếu …. + Lên án, phê phán những người thiếu ý chí nghị lực, đầu hàng, nản chí khi gặp khó khăn …. |
0,5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: Làm thế nào để vượt qua khó khăn, thử thách? - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết một bài văn nghị luận phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Áo cũ” của Lưu Quang Vũ |
4,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Áo cũ” của Lưu Quang Vũ: |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận: tác giả Lưu Quang Vũ, bài thơ “Áo cũ” * Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai phân theo nhiều cách khác nhau (phân tích theo 2 luận điểm lớn là chủ đề và đặc sắc nghệ thuật; phân tích lần lượt theo khổ thơ; phân tích lồng ghép nghệ thuật vào nội dung…), có thể có những cảm nhận cá nhân không giống như đáp án, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau: Luận điểm 1: Đặc sắc về chủ đề, nội dung của bài thơ: - Chủ đề bài thơ: Bài thơ "Áo cũ" của Lưu Quang Vũ là một tác phẩm cảm động về tình mẹ con và sự quý trọng những ký ức tuổi thơ. Nhà thơ đã dùng chiếc áo cũ như một biểu tượng đậm nét để thể hiện tình cảm sâu nặng của mình đối với người mẹ. - + Chiếc áo cũ gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ và thể hiện tình yêu thương sâu nặng của con đối với mẹ (Phân tích 2 khổ thơ đầu). . HS phân tích một số hình ảnh gợi kí ức tuổi thơ của con bên mẹ: áo cũ, chỉ đứt sờn màu bạc hai vai, đường khâu mẹ vá... -> con nhớ đến hình ảnh mẹ tần tảo, chăm chút, yêu thương con. . HS phân tích từ ngữ thể hiện tình yêu thương của con với mẹ: thương áo cũ, thương kí ức, mắt cay cay, thương mẹ nhiều con càng yêu áo thêm... -> con xúc động trước tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc của mẹ. + Từ hình ảnh chiếc áo cũ, người con thể hiện những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời (Phân tích 2 khổ thơ cuối) . HS phân tích hình ảnh chiếc áo gắn bó với người con qua năm tháng: áo ở với con..., vẫn quý vẫn thương, chẳng nỡ thay áo mới, mẹ cũng già hơn... -> theo thời gian, con càng thấu hiểu hơn về mẹ và bày tỏ niềm xót xa khi mẹ già đi.HS cảm nhận những suy ngẫm về mẹ và cuộc đời: thương... manh áo cũ, thương lấy mẹ, thương những gì cùng ta sống... -> yêu thương, trân trọng, biết ơn mẹ và trân trọng quá khứ nghĩa tình... => Bài thơ thể hiện tình cảm tha thiết, mãnh liệt của con với mẹ và những suy ngẫm sâu sắc về mẹ, về cuộc đời. Luận điểm 2: Đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ: - Thể thơ: tự do -> thể hiện linh hoạt tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình. - Giọng điệu: khi tha thiết, khi sâu lắng... - Từ ngữ, hình ảnh: giản dị, gợi hình gợi cảm và giàu ý nghĩa. - Biện pháp tu từ: vận dụng tinh tế, linh hoạt các biện pháp tu từ (điệp ngữ, so sánh...) |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất 2 ý trong mỗi luận điểm về chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ để thể hiện được đánh giá, cảm nhận cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, biết phân tích các chi tiết, hình ảnh đặc sắc, những biện pháp nghệ thuật để làm nổi bật nội dung, chủ đề của bài thơ. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
------ Hết ------
|
ĐỀ 24 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
Phần I. Đọc - hiểu (4.0 điểm)
Đỉnh núi cao không dành cho những người hèn nhát và lười vận động, đỉnh tri thức không có chỗ cho kẻ chỉ rong chơi. Nếu không có sự miệt mài, tìm tòi khám phá và dốc lòng cho những đam mê thì làm sao có một Edison vĩ đại và bóng đèn chiếu sáng hôm nay. Đi đến tận cùng đam mê là điều không dễ, vì có lúc tuổi trẻ nóng vội, khao khát nhanh chóng thành công nên vội vàng đốt cháy giai đoạn khiến những dự định trở thành dang dở. Giữ được lửa nhiệt huyết trong tâm hồn và kiên trì trong ý nghĩ đúng là điều rất quan trọng. Nếu cháy bùng lên rồi vụt tắt thì đó chỉ là một ánh sao băng giữa thiên hà vô tận.
Đừng sợ! Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi. Tự do chỉ có được khi nắm được và dự báo được quy luật, ý tưởng tốt đẹp phải được nảy mầm từ những khát khao chính đáng, mọi mơ hồ cùng lắm là ánh trăng suông. Nếu mải miết trên đất liền và lo cuồng phong, bão tố thì làm sao Chiristopher Columbus có cuộc phiêu lưu để tìm ra châu Mĩ bao la?
Đất mãi mãi là đất, rừng mãi mãi là rừng, biển cả bao la vẫn quanh năm sóng vỗ, phố xá vẫn quen từng bước chân về. Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? Các bạn hãy dành nhiều thời gian để nghĩ về điều đó và ra tay vì năm tháng chẳng đợi chờ, tuổi xuân trôi qua nhanh lắm.
(Trích Những lời chia sẻ, Nguyễn Văn Minh, NXB Đại học Sư phạm, 2023, tr.239-240)
Câu 1 (0.5 điểm). Chỉ ra luận đề của đoạn trích. (Nhận biết luận đề)
Câu 2. Để tăng sức thuyết phục cho lập luận, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào? (Nhận biết lí lẽ,dẫn chứng)
Câu 3. Những câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3) có tác dụng gì? (Thông hiểu kiến thức tiếng Việt)
Câu 4. Theo em, thế hệ trẻ cần làm gì để tạo dựng một cuộc sống no ấm đủ đầy cho bản thân và có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng? (Thông hiểu)
Câu 5 (1.0 điểm). Rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em khi đọc đoạn trích. (Liên hệ được ý tưởng, thông điệp trong văn bản…)
Phần II. Viết (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm). Có ý kiến cho rằng: “ Tự học là chìa khóa của thành công”. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Viết đoạn văn 200 chữ trình bầy quan điểm của em. (Viết được đoạn văn bản nghị luận trình bày ý kiến đồng tình hay phản đôi)
Câu 2 (4.0 điểm). Em hãy phân tích bài thơ Hành quân giữa rừng xuân của Lê Anh Xuân. (Viết được một văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm thơ)
HÀNH QUÂN GIỮA RỪNG XUÂN
Rừng xa vọng tiếng chim gù,
Ngân nga tiếng suối, vi vu gió ngàn.
Mùa xuân đẫm lá nguỵ trang,
Đường ra tiền tuyến nở vàng hoa mai.
Ba lô nặng, súng cầm tay,
Đường xa biết mấy dặm dài nhớ thương.
Giờ này mẹ ở quê hương,
Cũng chừng đang dõi theo đường ta đi.
Đêm mưa, ngày nắng sá gì,
Quân thù còn đó, ta đi chưa về.
Chim rừng thánh thót bên khe,
Nhìn lên xanh biếc bốn bề rừng xuân.
(Trích tuyển tập Thơ Lê Anh Xuân, NXB Giáo dục, 1981)
Tri thức ngữ văn về tác giả.
Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại quê hương Đồng Khởi - Bến Tre. Ông cũng là một chiến sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ và đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp to lớn của mình cho dân tộc. Các tác phẩm nổi tiếng: “Nhớ mưa quê hương” (1961), “Trở về quê nội” (1965), “Nguyễn Văn Trỗi” (Trường ca -1968) …
-------HẾT--------
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. ĐỌC HIỂU (4.0điểm)
|
Câu |
Yêu cầu cần đạt |
Điểm |
|
1 |
Luận đề của đoạn trích: Bàn về lẽ sống của thanh niên, sinh viên |
0.5 |
|
2 |
- Các dẫn chứng được sử dụng: Edison, Chiristopher Columbus. |
0.5 |
|
3 |
- Câu hỏi tu từ: Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? - Tác dụng: + Tạo nên nhịp điệu, lời nhắn gửi đầy thiết tha đến với thế hệ trẻ hãy suy nghĩ và hành động. + Nhấn mạnh để thành công ta không được lười biếng mà phải có suy nghĩ và hành động thiết thực để biến mọi khát khao thành hiện thực. |
0.5 |
|
0.5 |
||
|
4 |
HS đưa ra hành động phù hợp. Gợi ý: - Có phương hướng, mục tiêu rõ ràng. - Luôn phấn đấu, không chùn bước trước những khó khăn để đạt mục tiêu mình đã đề ra. - Trau dồi tri thức. - … |
1.0 |
|
5 |
- HS đưa ra thông điệp có ý nghĩa nhất và có lý giải phù hợp. HS có thể đưa ra một trong những thông điệp sau: + Phải có bản lĩnh đương đầu với những khó khăn thử thách. + Phải có mục đích sống, có lý tưởng và có hướng đi đúng đắn. + Mỗi người cần phải làm chủ bản thân mình, có suy nghĩ tích cực, tự tin và luôn chịu khó học hỏi, tự xây dựng kỹ năng cho riêng mình. … |
1.0 |
|
PHẦN VIẾT (6.0 điểm) |
|
|
|
1 |
Viết đoạn văn nghị luận ( khoảng 200 chữ) trình bầy quan điểm đồng tình hay phản đối. |
2.0 |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song song. |
0.25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tự học là chìa khóa của thành công |
0.25 |
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận. - Xác định được các ý chính phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, trình bày theo bố cục một đoạn văn: * Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận: Tự học là gị?Thành công là gì? - Nêu ý kiến của bản thân: + Đồng tình: Tại sao? Nêu ý nghĩa,lí lẽ, dẫn chứng. + Không đồng tình : Tại sao? Nêu ý nghĩa,lí lẽ, dẫn chứng. - Mở rộng: Phản bác quan điểm sai trái - Bài học nhận thức hành động của bản thân * Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. |
0.5 |
|
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. - Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
0.5 |
|
|
|
đ. Diễn đạt: - Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0.25 |
|
|
e. Sáng tạo: - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0.25 |
|
2 |
Phân tích bài thơ Hành quân giữa rừng xuân của Lê Anh Xuân. |
4.0 |
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học |
0.25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: nội dung, nghệ thuật của bài thơ Hành quân giữa rừng xuân của Lê Anh Xuân. |
0.5 |
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận văn học. * Giới thiệu vấn đề nghị luận: Dẫn dắt, giới thiệu. * Triển khai vấn đề nghị luận 1. Khái quát chung: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Nêu ấn tượng về vấn đề yêu cầu: tác phẩm... 2. Phân tích a. Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm - Chủ đề: Bài thơ “Hành quân giữa rừng xuân” đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn trẻ trung lạc quan yêu đời của người chiến sĩ và nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ người thân cùng ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ tổ quốc,… - Học sinh tập trung phân tích một số hình ảnh, chi tiết làm nổi bật hình tượng người lính: + Hình ảnh người lính hành quân giữa rừng xanh. + Tâm tình người lính + Ý chí của người lính b. Phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. - Thể thơ: Thể thơ lục bát với âm điệu tha thiết, sâu lắng đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc về cuộc đời người lính. - Bút pháp: Bút pháp hiện thực - bi tráng nhưng không kém phần lãng mạn. Lê Anh Xuân thật tài tình khi sử dụng những hình ảnh về núi rừng, thiên nhiên tuyệt đẹp để nói lên khát vọng mãnh liệt của lính hành quân. - Ngôn ngữ và hình ảnh thơ: + Những những chi tiết, hình ảnh tuy giản đơn, mộc mạc nhưng chứa đựng tấm lòng, tình yêu thương to lớn của tác giả dành cho người lính, quê hương, đất nước và con người Việt Nam. + Hình ảnh thơ cô đọng, mộc mạc, giản dị, chân thực song rất lãng mạn. - Ngôn ngữ thơ hàm súc, súc tích, có khi dồn nén, giàu sức biểu cảm. -> Những sáng tạo độc đáo của bài thơ tạo nên nét riêng cho phong cách thơ Lê Anh Xuân. c. Đánh giá, mở rộng - Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ. - Mở rộng so sánh với các tác phẩm cùng viết về đề tài người lính hoặc các tác phẩm khác cùng chủ đề của nhà thơ Lê Anh Xuân. * Kết bài - Khẳng định lại giá trị tư tưởng và thẩm mĩ, ý nghĩa của bài thơ. - Cảm xúc hoặc lời nhắn gửi tới mọi người. |
1.0 |
|
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được các ý để làm rõ nội dung chủ đề, nghệ thuật của bài thơ. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. - Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1.5 |
|
|
|
đ. Diễn đạt: - Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong bài văn. |
0.25 |
|
|
e. Sáng tạo: - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0.5 |
|
Tổng điểm |
10 |
|
|
ĐỀ 25 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
“Cuộc sống vốn là một thế giới đa dạng, phong phú, đầy màu sắc và mỗi người là một cá thể độc lập với những quan điểm sống khác nhau. Vậy khó có thể bắt người khác giống mình về sở thích, thói quen, tính cách… Điều quan trọng là mỗi người phải biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Muốn có được suy nghĩ và hành xử đúng đắn, chúng ta cần biết chấp nhận sự khác biệt, hướng đến một cách sống bao dung, rộng lượng. Điều đó giúp bạn có được cuộc sống chan hòa với mọi người và có thêm nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống. Chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, điều đó có nghĩa là bạn đang tiến dần đến sự chín chắn, trưởng thành. Nếu bạn biết tôn trọng sự khác biệt của người khác, tôn trọng quyền tự do cá nhân của mỗi người, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn. Tôn trọng sự khác biệt không phải là bạn đã tự đánh mất mình, mà đó là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. Tôn trọng sự khác biệt, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”
(Theo: http://baoninhthuan.com.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Hãy nêu luận đề của văn bản
Câu 2 (1,0 điểm). Theo đoạn trích, ý nghĩa của việc chấp nhận sự khác biệt là gì?
Câu 3 (0,5 điểm). Em hiểu thế nào về câu nói: “Cuộc sống vốn là thế giới đa dạng, phong phú, đầy màu sắc và mỗi người là một cá thể đọc lập với những quan điểm sống khác nhau?”
Câu 4. (1,0 điểm) Nêu nhận xét của em về cách lập luận của tác giả ở những câu văn sau:
“Nếu bạn biết tôn trọng sự khác biệt của người khác, tôn trọng quyền tự do cá nhân của mỗi người, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn. Tôn trọng sự khác biệt không phải là bạn đã tự đánh mất mình, mà đó là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. Tôn trọng sự khác biệt, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”
Câu 5 (1,0 điểm). Em có đồng tình với ý kiến: “Chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, điều đó có nghĩa là bạn đang tiến dần đến sự chín chắn, trường thành” không? Hãy lí giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Dựa vào phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tôn trọng sự khác biệt
Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn phân tích bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương
Ngưỡng cửa
Nơi này ai cũng quen
Ngay từ thời tấm bé
Khi tay bà, tay mẹ
Còn dắt vòng đi men
Nơi bố mẹ ngày đêm
Lúc nào qua cũng vội
Nơi bạn bè chạy tới
Thường lúc nào cũng vui
Nơi này đã đưa tôi
Buổi đầu tiên đến lớp
Nay con đường xa tắp
Vẫn đang chờ tôi đi.
Chú thích: Vũ Quần Phương (sinh năm 1940) tên thật là Vũ Ngọc Chúc, quê cha ở Nham Định nhưng ông hầu như sinh sống và gắn bó cả đời với mảnh đất Hà Nội quê mẹ. Ông là một bác sĩ nhưng yêu thích văn chương, ông sáng tác thơ và viết phê bình văn học. Thơ ông giản dị, sâu sắc mà hóm hỉnh, khoa học, suy tư mà ăn ắp trữ tình
----------------------------------------Hết--------------------------------------
HƯỚNG DẪN CHẤM
|
PHẦN |
CÂU |
NỘI DUNG |
ĐIỂM |
|
I |
ĐỌC HIỂU |
4,0 điểm |
|
|
|
1 |
Luận đề của văn bản: Cần biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của người khác |
0,5 |
|
|
2 |
Theo đoạn trích, ý nghĩa của việc chấp nhận sự khác biệt là: “giúp bạn có được cuộc sống chan hòa với mọi người và có thêm nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống”, bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống sẽ mỉm cười với bạn”, “hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình”… |
1,0 |
|
|
3 |
Cuộc sống là một thế giới rộng lớn, bao la với vô vàn sắc màu - Mỗi người trong thế giới đó luôn là một cá thể tồn tại độc lập với tính cách, sở thích, lối sống, quan điểm… riêng biệt - Sự khác biệt ở mỗi người là nền tảng tạo nên cuộc sống đa dạng, phong phú |
0,5 |
|
|
4 |
- Cách lập luận của tác giả: Đưa ra luận điểm rõ ràng: Nếu biết tôn trọng sự khác biệt của người khác thì bạn sẽ nhận được sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống rồi sẽ mỉm cười với bạn, bạn sẽ hạn chế làm người khác tổn thương chỉ vì những định kiến và nông nổi của mình. Đi đến kết luận: Tôn trọng sự khác biệt là văn hóa ứng xử cần phải có của mỗi người. - Nhận xét: cách lập luận của tác giả rất logic, chặt chẽ và thuyết phục, giúp người đọc hiểu rõ được ý nghĩa của việc tôn trọng sự khác biệt của người khác |
1,0 |
|
|
5 |
- Thí sinh có thể bày tỏ quan điểm bản thân theo hướng: đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần - Lí giải hợp lí, thuyết phục - Gợi ý: + Đồng tình với ý kiến + Lí giải: Vì: Cuộc sống luôn phát triển theo các quy luật khách quan, biết chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, không ngừng thay đổi, làm mới bản thân để thích nghi cũng là cách để trưởng thành, đạt đến đích thành công…. |
1,0 |
|
II |
VIẾT |
6,0 điểm |
|
|
|
1 |
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tôn trọng sự khác biệt |
2,0 điểm |
|
|
|
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tôn trọng sự khác biệt |
0,25 |
|
|
|
- Có thể đi theo hướng: * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tôn trọng sự khác biệt Cuộc sống giống như một tấm tranh phong cảnh đa dạng, với mỗi con người là một nét vẽ riêng, không thể thay thế. Đa dạng trong cách sống, sự độc đáo trong tính cách, sở thích, ước mơ của mỗi người đều đóng góp vào sự phong phú của cuộc sống. Bởi vậy, chúng ta hãy học cách chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt này * Thân đoạn: Bày tỏ suy nghĩ. Có thể như sau: + Giải thích: Sự khác biệt là những nét riêng biệt, độc đáo để phân biệt sự vật này với sự vật khác hoặc cá thể này với cá thể khác + Bình luận: Sự khác biệt làm cho cuộc sống trở nên phong phú, đa dạng, đầy màu sắc và ý nghĩa hơn, giúp con người có thêm nhiều trải nghiệm, nhiều mối quan hệ, không ngừng hòa nhập và gắn kết. Tôn trọng sự khác biệt của người khác cũng chính là tôn trọng chính mình, sẽ được nhận lại sự tôn trọng, yêu quý của mọi người xung quanh, có thể tạo nên những thành quả, bước ngoặt và cả những kì tích. Cần lưu ý “khác biệt” chữ không phải “dị biệt” + Dẫn chứng chứng minh: Con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh + Bài học: Nhận thức đúng đắn về sự khác biệt, biết tạo ra sự khác biệt đúng lúc, đúng thời điểm để cuộc sống có thêm nhiều ý nghĩa và thành công * Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề: Mỗi chúng ta chỉ có một cơ hội để sống hết mình nên hãy luôn tự hào vì bản sắc mà ta sở hữu, nâng niu chính mình và yêu thương những người xung quanh “Khi bạn trao đi sự tôn trọng, bạn sẽ nhận lại được nó” (Erik Estrada) |
1,0 |
|
|
|
c. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chính tả, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
|
d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ |
0,25 |
|
|
2 |
Viết bài văn phân tích bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương |
4,0 điểm |
|
|
|
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ “Ngưỡng cửa”- Vũ Quần Phương |
0,25 |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận Mở bài: - Giới thiệu tác giả: Vũ Quần Phương, tác phẩm: “Ngưỡng cửa” - Nêu nhận xét khái quát về bài thơ Nói về dấu ấn cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật, Lê Đạt từng quan niệm: Mỗi công dân có một dạng vân tay/ Mỗi nhà thơ có một dạng vân chữ. Quả đúng là trong địa hạt thi ca, giữa muôn vàn tên tuổi, nhà thơ muốn thành công nhất định phải có lối đi riêng, Vũ Quần Phương đã làm được điều ấy. Bài thơ “Ngưỡng cửa” đã bồi đắp cho ta những tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành. |
3,0 0,5 |
|
|
|
Thân bài * Khái quát chung: - Giới thiệu tác giả: Vũ Quần Phương (sinh năm 1940) tên thật là Vũ Ngọc Chúc, quê cha ở Nham Định nhưng ông hầu như sinh sống và gắn bó cả đời với mảnh đất Hà Nội quê mẹ. Ông là một bác sĩ nhưng yêu thích văn chương, ông sáng tác thơ và viết phê bình văn học. Thơ ông giản dị, sâu sắc mà hóm hỉnh, khoa học, suy tư mà ăn ắp trữ tình - Giới thiệu tác phẩm: Đề tài tình cảm gia đình, nhan đề bài thơ: Một cuộc thám hiểm thực sự không phải ở chỗ cần một vùng đất mới mà cần một đôi mắt mới. Vì thế, cùng viết về đề tài tình cảm gia đình nhưng bài thơ “Ngưỡng cửa” của Vũ Quần Phương đã đem đến cho người đọc những cảm nhận mới mẻ, thú vị từ nhan đề. |
0,25 |
|
|
|
* Phân tích bài thơ - Phân tích nội dung chủ đề bài thơ: Bài thơ “Ngưỡng của” của Vũ Quần Phương đã bồi đắp cho ta những tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành. - Nơi ta bắt đầu những bước đi chập chững đầu tiên, nơi ta bắt đầu đón nhận yêu thương là vòng tay của ông bà, cha mẹ, nhưng còn một nơi vô cùng gần gũi của tất cả mọi người đó là ngưỡng cửa. - Ba khổ thơ với đầy những chất chứa, mỗi khổ thơ đều là những ý tứ khác nhau. Ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đã khắc hoạ hình ảnh ngưỡng cửa đầu đời, bước đi đầu tiên có bàn tay của bà, bàn tay của mẹ dắt đi trong sự yêu thương và trìu mến, nơi rất quen thuộc đối với gia đình, chứng kiến tất cả những kỉ niệm đầu đời của em. Điều đó thật thiêng liêng và hạnh phúc đối với mỗi con người. Nơi này ai cũng quen - Khổ thơ thứ hai hiện lên nỗi vất vả của bố mẹ, vất vả làm việc, ngược xuôi làm việc ngày đêm không quản khó khăn, vội vã cho những ngày làm việc, đi qua ngưỡng cửa ấy, nơi nào nó cũng chứng kiến hoạt động của các thành viên trong gia đình, bố mẹ vất vả nuôi con khôn lớn, những đêm con ốm mẹ vất vả chăm lo. Tất cả là sự hy sinh không quản ngại không chỉ như vậy, ngưỡng cửa còn in dấu tuổi thơ tươi đẹp với những người bạn, niềm vui hồn nhiên của tuổi thơ. Nơi bố mẹ ngày đêm - Đến khổ thơ cuối cùng, chỉ những lời thơ ngắn ngủi kể về kỉ niệm ngày đầu tiên đến trường, đó là bước đà cho những ước mơ, cho hành trang sắp tới đến với tương lai vô cùng đẹp đẽ của nhân vật, con đường tương lai đó vẫn còn dài, còn xa và sẽ hướng tới nó bằng tất cả những điều yêu thương nhất. Nơi này đã đưa tôi - Phân tích một số đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: Thể thơ ngũ ngôn dễ nhớ, dễ thuộc với những vần thơ bình dị, hồn nhiên nhưng chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc dành cho những thiếu nhi về gia đình và cuộc đời. Thơ ông tinh tế, nhạy cảm với những thay đổi của cuộc sống, luôn có cách nói bằng tứ thơ, ngôn từ bình dị, nhưng ý tưởng thâm thúy, sâu xa. Đặc biệt nghệ thuật tu từ điệp ngữ “nơi này” đã thể hiện tình cảm gia đình đầm ấm, lòng biết ơn đấng sinh thành của tác giả |
1,0 0,5 |
|
|
|
* Đánh giá: Khái quát thành công về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. Liên hệ mở rộng + Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài (Xuân Diệu). Bài thơ “Ngưỡng cửa” của Vũ Quần Phương là một bài thơ như vậy. Thể thơ ngũ ngôn, ngôn ngữ, hình ảnh gần gũi, giản dị mà giàu sắc gợi, các biện pháp tu từ đã góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của bài thơ |
0,25 |
|
|
|
Kết bài * Khẳng định giá trị của bài thơ. Rút ra thông điệp ý nghĩa cho bản thân Thời gian hủy hoại các lâu đài nhưng làm giàu những vần thơ. Với những giá trị về nội dung và nghệ thuật đặc sắc, bài thơ “Ngưỡng cửa” xứng đáng là món quà vô giá nhà thơ Vũ Quần Phương bàn giao cho người đọc. Từ đó, bồi đăp cho chúng ta thái độ, tình cảm trân trọng, giữ gìn và ý thức phát huy những gì mà thế hệ cha ông để lại |
0,5 |
|
|
|
c. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chính tả, ngữ pháp tiếng Việt |
0,25 |
|
|
|
d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ |
0,25 |
|
ĐỀ 26 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Cần loại bỏ thói kiêu ngạo, như Bác đã từng nói: “Ai tự cho mình có công trạng mà tự kiêu, tự đại là không đúng. Lòng của người cách mạng chân chính là phải rộng rãi như song như bể, có như thế mới tiến bộ. Nếu có một chút công trạng gì mà tự cao tự đại, coi người ta không ra gì, thế là sai, thế là cái ruột nhỏ, ví như cái cốc, một gáo nước đổ vào thì tràn hết”.
Giữ thói kiêu ngạo cũng giống như giữ căn bệnh mãn tính khó chữa trong người, càng để lâu càng nguy hại cho bản thân, huỷ hoại con người. Càng chữa sớm được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. “Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ - tự kiêu một chút cũng là thừa”, hãy nên rèn luyện cho mình tính khiêm nhường dù không dễ dàng”.
(Trích “Kĩ năng bạn cần để thành công trong cuộc sống” – Bảo Thanh)
Thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1: Hãy chỉ ra thể loại của đoạn trích trên.
Câu 2: Luận đề của đoạn trích trên là gì?
Câu 3: Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn (1)
Câu 4: Em hiểu gì về thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề trên?
Câu 5: Bài học nào từ văn bản có ý nghĩa nhất với em? Vì sao?
PHẦN II. VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ ghi lại cảm nhận về bài thơ:
|
Tôi chỉ là hạt thóc Sinh ra trên cánh đồng Giấu trong mình câu chuyện Một cuộc đời bão dông. Tôi ngậm ánh nắng sớm Tôi uống giọt sương mai Tôi sống qua bão lũ Tôi chịu nhiều thiên tai. |
Dẫu hình hài bé nhỏ Tôi trải cả bốn mùa Dẫu bây giờ bình dị Tôi có từ ngàn xưa. Tôi chỉ là hạt thóc Không biết hát biết cười Nhưng tôi luôn có ích Vì nuôi sống con người. |
(Hạt thóc, Ngô Hoài Chung)
*Chú thích: Ngô Hoài Chung sinh năm 1961, nguyên là Phó cục trưởng Cục Văn hoá cơ sở, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch từ 2014 đến 2021.
Câu 2: Là một học sinh, em hãy viết bài văn đề xuất những giải pháp phù hợp để bảo vệ nguồn nước sạch, một tài nguyên quý giá.
ĐÁP ÁN
PHẦN ĐỌC HIỂU
|
Câu |
Nội dung cần đạt |
Điểm |
|
Câu 1 |
- Thể loại: Nghị luận |
0,5 |
|
Câu 2 |
|
0,5 |
|
Câu 3 |
+ Bằng chứng là câu nói của Bác Hồ đã giúp cho lập luận chặt chẽ, logic, giàu sức thuyết phục, tăng độ tin cậy. + Tập trung làm sáng tỏ luận điểm: Cần loại bỏ thói kiêu ngạo trong cuộc sống. |
0,25 0,25 0,5 |
|
Câu 4 |
Thái độ của tác giả:
|
1,0 |
|
Câu 5 |
- HS có thể trả lời một trong những bài học: + Nhận thức được tác hại của thói kiêu ngạo trong đời sống. Từ đó có ý thức loại bỏ thói xấu này và rèn luyện cho mình tính khiêm tốn. + Sống giản dị, khiêm tốn, không kiêu căng, tự mãn, không tự cho mình là giỏi. + Đánh giá đúng về khả năng của bản thân, nhận thức được điểm hạn chế của mình…
|
0,5 0,5 |
PHẦN VIẾT
|
ĐỀ 27 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Cuộc sống vốn không hề bằng phẳng mà luôn chứa đựng những vất vả, thách thức dành cho tất cả chúng ta. Và đời người là cuộc hành trình vượt qua những thử thách đó. Hãy hướng về phía trước. Bạn đừng vội nản chí, mỗi lần vượt qua một khó khăn, bạn sẽ thấy mình trưởng thành hơn. Và cách tốt nhất để đánh giá năng lực của một người là nhìn vào cách người đó đã vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Sau cùng, khó khăn gian khổ sẽ đem lại cho mỗi người một tài sản vô giá, đó là sự trưởng thành và trải nghiệm.
Ai cũng muốn công việc của mình được suôn sẻ, không gặp rắc rối nào cả. Thế nhưng, khó khăn lại thường xảy ra vào những lúc không ngờ nhất. Trước khó khăn, nhiều người thường than thân trách phận sao mình bất hạnh đến vậy. Chỉ mới gặp chút rắc rối, họ đã thay đổi thái độ, thậm chí rơi vào bi quan, chán nản. Ngược lại, có những người lại xem khó khăn xảy đến là cơ hội, là thử thách, như lẽ thường của cuộc sống. Họ luôn có niềm tin vào một viễn cảnh tươi sáng và sẵn sàng đương đầu, thách thức với chúng và quyết tâm phải vượt qua.
(Theo https://muonthanhcongthidungngainhungkhokhan)
Trả lời các câu hỏi / Thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2. Xét theo cấu tạo, câu “Bạn đừng vội nản chí, mỗi lần vượt qua một khó khăn, bạn sẽ thấy mình trưởng thành hơn.” thuộc kiểu câu nào?
Câu 3. Vì sao Khó khăn gian khổ sẽ đem lại cho mỗi người một tài sản vô giá, đó là sự trưởng thành và trải nghiệm?
Câu 4. Thông điệp có ý nghĩa nhất với bản thân anh (chị) rút ra qua văn bản trên là gì? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về việc làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống của mỗi con người?
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ), phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ sau:
NÓI VỚI EM
(Vũ Quần Phương)
Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay
Tiếng lích chích chim sâu trong lá
Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên
Thấy chú bé đi hài bảy dặm
Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.
Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày
Tay bồng bế, sớm khuya vất vả
Mắt nhắm rồi, lại mở ra ngay.
(Trích “65 bài thơ hay dành cho thiếu nhi”- Cao Xuân Sơn tuyển chọn-
NXB Kim Đồng, 2022, Tr 86)
Chú thích:
- Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định. Ông là bác sĩ y khoa đồng thời là nhà thơ, nhà phê bình văn học. Ông là nhà thơ nổi tiếng với nhiều bài thơ hay về tình yêu, và ở nhiều đề tài khác, trong đó có thơ thiếu nhi.
- Bài thơ “Nói với em” đã được nhạc sĩ Phan Bá Chức đã phổ nhạc thành bài hát cùng tên.
------ Hết ------
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
1 |
Luận đề của văn bản: Đối mặt và vượt qua khó khăn, thử thách. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời chính xác như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm (mỗi ý 0.5 điểm) - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
2 |
- Xét theo cấu tạo, câu trên thuộc kiều câu ghép. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
3 |
Vì: - Khó khăn, gian khổ giúp con người rèn luyện ý chí, bản lĩnh. Từ đó sẽ sẽ giúp con người trưởng thành hơn, khẳng định được bản thân … - Qua khó khăn, gian khổ, con người sẽ có thêm những kinh nghiệm, bài học quý báu, từ đó sẽ biết cách vượt qua khó khăn, gian khổ…. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đủ 2 ý như đáp án hoặc diễn đạt tương đương:1,0 điểm - Học sinh trả lời được 1 trong 2 ý trên hoặc trả lời được cả 2 ý nhưng diễn đạt không mạch lạc: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
0,5 0,5 |
|
|
4 |
-Học sinh trình bày 1 thông điệp sâu sắc nhất với bản thân và lí giải phù hợp. + Gợi ý 1 số thông điệp: - Con người cần phải có ý chí nghị lực, bình tĩnh đón nhận và vững vàng vượt qua mọi khó khăn thử thách - Hãy coi khó khăn gian khổ là cơ hội để mình rèn luyện và khẳng định bản thân. … + Lí giải: Học sinh có những lí giải phù hợp với thông điệp đưa ra. Hướng dẫn chấm: - Học sinh nêu được một thông điệp ý nghĩa nhất phù hợp với nội dung ý nghĩa văn bản, có những lý giải phù hợp: 1,0 điểm. - Học sinh nêu được một thông điệp ý nghĩa nhất nhưng chưa lý giải được; hoặc lý giải chưa phù hợp; hoặc có thông điệp và có lý giải nhưng chưa thật thuyết phục: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời lạc đề: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
6,0 |
|
1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về việc làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống của mỗi con người? |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Hình thức: một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. - Dung lượng: khoảng 200 chữ. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: - Làm thế nào để vượt qua khó khăn thử thách? |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Cuộc sống luôn ẩn chứa nhiều khó khăn thử thách, vì vậy con người cần phải biết cách để vượt qua + Mỗi người cần phải hiểu được ý nghĩa của những khó khăn, thử thách + Phải sống có mục đích, lí tưởng đúng đắn + Phải luôn mạnh mẽ, có ý chí nghị lực, sẵn sàng đối mặt với khó khăn thử thách … + Phải biến khó khăn thành cơ hội, thành động lực vươn lên; coi khó khăn thử thách là điều tất yếu …. + Lên án, phê phán những người thiếu ý chí nghị lực, đầu hàng, nản chí khi gặp khó khăn …. |
0,5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: Làm thế nào để vượt qua khó khăn, thử thách? - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Nói với em” của Vũ Quần Phương |
4,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Nói với em” của Vũ Quần Phương. |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận: tác giả Vũ Quần Phương, bài thơ “Nói với em” * Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai phân theo nhiều cách khác nhau (phân tích theo 2 luận điểm lớn là chủ đề và đặc sắc nghệ thuật; phân tích lần lượt theo khổ thơ; phân tích lồng ghép nghệ thuật vào nội dung…), có thể có những cảm nhận cá nhân không giống như đáp án, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau: Luận điểm 1: Đặc sắc về chủ đề, nội dung của bài thơ: - Chủ đề, nhan đề bài thơ: + Bài thơ thuộc chủ đề tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình. Bài thơ gợi nhắc tuổi thơ chúng ta phải biết học cách nghe, học cách nhìn, học cách nghĩ, nghĩa là phải biết sống đẹp, sống nhân hậu, sống có tình nghĩa thủy chung. Chủ đề ấy được thể hiện rõ trong nhan đề và nội dung các khổ thơ. + Nhan đề: “Nói với em” như lời trò chuyện, tâm tình của thi nhân - người đi trước, với các em thiếu nhi về tình cảm gia đình, tình yêu thiên nhiên, cuộc sống. - Khổ thơ thứ nhất: Hãy nhắm mắt để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. + Nhắm mắt, chú ý lắng nghe âm thanh của thiên nhiên, của sự sống. Hãy mở rộng tâm hồn, em sẽ được thấy bao điều từ thiên nhiên kì diệu, trong khu vườn -> Khổ thơ dậy khao khát được khám phá và cảm nhận thế giới tự nhiên của trả thơ… - Khổ thơ thứ 2: Hãy nhắm mắt để cảm nhận về thế giới thần tiên qua những câu chuyện của bà. + Trong những câu chuyện của bà, có một thế giới thần tiên kì ảo mở ra. … Hình ảnh bà và thế giới cổ tích mãi mãi sống trong tâm hồn tuổi thơ, sẽ là hành trang đẹp để trẻ bước vào đời. -> Khổ thơ khơi lên trong tâm hồn trẻ thơ tình yêu thương, trân trọng người bà kính yêu và niềm tin những điều tốt đẹp ... - Khổ thơ thứ 3: Hãy nhắm mắt để suy ngẫm về công ơn của cha mẹ. + Nhắm mắt “nghĩ về cha mẹ”, nghĩ về công ơn nuôi dưỡng, bồng bế, dạy bảo ... của cha mẹ dành cho mình: “Đã nuôi em khôn lớn từng ngày - Tay bồng bế sớm khuya vất vả”. Có biết "nghĩ" về công ơn của cha mẹ thì mới biết cách đền đáp, mới biết báo hiếu mẹ cha. -> Khổ thơ là lời gợi nhắc về tình cảm gia đình thiêng liêng, sâu nặng; công ơn trời biển của cha mẹ và bổn phận, trách nhiệm của người con… Luận điểm 2: Đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ: - Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ: mỗi câu thơ gồm bảy tiếng, cả bài thơ gồm ba khổ, mỗi khổ là bốn câu thơ. - Bài thơ có bố cục chặt chẽ theo mạch cảm xúc: từ lắng nghe thanh âm cuộc sống đến lắng nghe, suy tưởng về thế giới thần tiên qua lời kể của bà và khép lại là những nghĩ suy thấm thía về công ơn cha mẹ. - Bài thơ gieo vần chân, vần cách, ngắt nhịp 4/3 - Ngôn ngữ, hình ảnh thơ gần gũi, giản dị, giàu sức gợi … - Các biện pháp nghệ thuật: Điệp ngữ (“Nếu nhắm mắt…” được điệp lại ba lần) ; Liệt kê (tiếng lích chích chim sâu, chim chìa vôi; bà tiên, chú bé, quả thị, cô Tấm; … ) Ẩn dụ (nhắm mắt; mở mắt) |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất 2 ý trong mỗi luận điểm về chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ để thể hiện được đánh giá, cảm nhận cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, biết phân tích các chi tiết, hình ảnh đặc sắc, những biện pháp nghệ thuật để làm nổi bật nội dung, chủ đề của bài thơ. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
------ Hết ------
|
ĐỀ 28 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Hi vọng và nguyện vọng không thể lẫn lộn với nhau được. Chúng ta có thể mang cùng một lúc hàng ngàn nguyện vọng đủ loại nhưng hi vọng thì chỉ có một mà thôi. Chúng ta mong muốn người mình đang đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kì thi, hay mong cho Rwanda tìm được nền hòa bình… đây đều là những nguyện vọng cá nhân.
Hi vọng lại khác hẳn. Nó có liên quan mật thiết với ý nghĩa cuộc sống. Giả sử cuộc sống hoàn toàn không có đích đến nào, mà chỉ là chuyển giao một cơ thể thối rữa xuống lòng đất thì sống để làm gì chứ? Hi vọng, chính là tin rằng trong cuộc đời có ý nghĩa nào đó.
Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc hay danh dự. Có thể coi hi vọng là bản chất của chúng ta, cũng chính là lòng yêu thương lẫn nhau, là con đường dẫn đến tình yêu và niềm kiêu hãnh của bản thân cũng như người khác. Nếu con cho rằng tiếp tục giận dỗi mẹ giúp được con thì con cứ làm vậy đi. Nếu đó là cách con bảo vệ niềm kiêu hãnh của bản thân thì đương nhiên con phải làm thế rồi. Nhưng rốt cuộc chúng ta biết đâu lại đều là những người ngày còn bé vì muốn thể hiện mình không nhận được đủ tình yêu từ mẹ, mà kiên quyết từ chối cái kem mẹ mua cho dù rất thích, Con hiểu không? Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương.
(Trích Dù con sống thế nào, mẹ cũng luôn ủng hộ con, Gong Ji Young, NXB Thời đại, 2014, tr.134 )
Thực hiện yêu cầu và trả lời các câu hỏi:
Câu 1. (1,0 điểm) Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2. (1,0 điểm) Đề làm nổi bật luận điểm: Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc hay danh dự, tác giả đã dùng những lí lẽ nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: Chúng ta mong muốn người mình mong đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, hay mong cho do Rwanda tìm được nền hòa bình…,đây đều là những nguyện vọng cá nhân.
Câu 4. (1,0 điểm) Anh/chị có đồng ý với quan điểm: Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương không? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)Anh /chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tác hại của lối sống ảo.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ sau:
TẾT QUÊ BÀ
Bà tôi ở một túp nhà tre.
Có một hàng cau chạy trước hè,
Một mảnh vườn bên rào giậu nứa.
Xuân về hoa cải nở vàng hoe.
Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,
Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.
Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,
Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.
1941
(Đoàn Văn Cừ toàn tập, NXB Hội nhà văn, 2013)
Chú thích:
- Đoàn Văn Cừ sinh ngày 25 tháng 11 năm 1913 ở Thôn Đô Đò xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong một gia đình nông dân. Ông tham gia phong trào Thơ mới với bút pháp tả chân mang đậm chất lãng mạn, sở trường viết về cảnh trí và đời sống thôn quê.
-“Tết quê bà” được Đoàn Văn Cừ sáng tác vào khoảng năm 1941. Bài thơ này sau đó được đưa vào tuyển tập “Thôn ca” xuất bản lần đầu tiên vào năm 1944. “Thôn ca” cũng là tập thơ tiêu biểu của nhà thơ Đoàn Văn Cừ.
----- HẾT -----
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Luận đề của văn bản: Bàn về niềm hi vọng Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời chính xác như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Học sinh chép lại câu văn đầu đoạn: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
2 |
Đề làm nổi bật luận điểm: Hi vọng chẳng có liên quan gì đến học lực, tiền bạc hay danh dự, tác giả đã dùng những lí lẽ: - Có thể coi hi vọng là bản chất của chúng ta. - Là lòng yêu thương lẫn nhau. - Là con đường dẫn đến tình yêu và niềm kiêu hãnh. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được 1 trong 3 ý: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
3 |
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê: mong muốn người mình mong đợi sẽ đến đúng giờ, mong muốn đỗ kỳ thi, mong cho do Rwanda tìm được nền hòa bình. - Làm nổi bật và cụ thể hóa những mong muốn khác nhau của con người. - Giúp cho câu văn giàu nhịp điệu, sinh động, hấp dẫn. - Nhấn mạnh rằng con người luôn cần có những mong mỏi tốt đẹp trong cuộc sống, từ nhỏ bé đến lớn lao. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đủ 3 ý như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được 1 trong 2 ý trên hoặc trả lời được cả 2 ý nhưng diễn đạt không mạch lạc: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
4 |
Câu 4. (1,0 điểm )Anh/chị có đồng ý với quan điểm: Để thể hiện sự ghét bỏ, chúng ta chẳng biết cách nào ngoài từ chối những thứ chúng ta yêu thích, và rồi đều là những người bị tổn thương không? Vì sao? Đây là một câu hỏi mở, học sinh có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau nhưng cần có sức thuyết phục, không vi phạm những chuẩn mực đạo đức và pháp luật.Sau đây là vài gợi ý Gợi ý: - Em đồng ý với ý kiến. - Vì: + Khi chúng ta ghét bỏ điều gì đó thường có sự lẫn lộn giữa tình cảm yêu thương và nỗi đau, dẫn đến việc từ chối những thứ từng quý giá. + Khi cảm xúc trở nên phức tạp, thay vì đối diện với vấn đề, chúng ta chọn cách tránh né hoặc chối bỏ. + Hành động này không chỉ làm tổn thương bản thân mà còn khiến đối phương cảm thấy đau đớn. - Hoặc không đồng ý cần lí giải hợp lí. … Hướng dẫn chấm: - Học sinh bày tỏ quan điểm và lí giải hợp lí, thuyết phục: 1,0 điểm. - Học sinh bày tỏ quan điểm nhưng không lí giải hoặc lí giải không thuyết phục: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời lạc đề hoàn toàn: không cho điểm. |
1,0 |
|
|
II |
VIẾT |
6,0 |
|
|
|
1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) Em hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về tác hại của lối sống ảo. |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Hình thức: một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. - Dung lượng: khoảng 200 chữ. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:Trình bày suy nghĩ về tác hại của lối sống ảo. |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Xã hội ngày càng phát triển xuất hiện trào lưu mới đó là sống ảo + Tác hại của sống ảo: Tiêu tốn nhiều thời gian vào những việc vô nghĩa trên mạng xã hội; không quan tâm đến cuộc sống ở thực tại; mất tập trung vào học tập, công việc… -> Có thể dẫn đến những suy nghĩ, hành động tiêu cực. |
0,5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: tác hại của lối sống ảo. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Tết quê bà (Đoàn Văn Cừ ) |
4,0 |
|
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Tết quê bà (Đoàn Văn Cừ). |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận: tác giả Đoàn Văn Cừ, bài thơ Tết quê bà và vấn đề nghị luận (chủ đề, đặc sắc nghệ thuật của bài thơ). * Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai phân tích bài thơ theo nhiều cách khác nhau (phân tích theo 2 luận điểm lớn là chủ đề và đặc sắc nghệ thuật; phân tích lần lượt từng khổ thơ; phân tích lồng ghép nghệ thuật vào nội dung…), có thể có những cảm nhận cá nhân không giống như đáp án, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau: - Chủ đề: Bài thơ Tết quê bà cho ta cảm nhận về ngôi nhà giản dị, quen thuộc của bà nơi làng quê yên bình và cảnh ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Từ đó, nhà thơ thể hiện tình cảm yêu mến, gắn bó với con người, cảnh vật, ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Đồng thời nhắc khẽ người đọc phải biết trân trọng, giữ gìn những vẻ đẹp bình dị ấy, đặc biệt là nét đẹp văn hoá ngày Tết cổ truyền của dân tộc. - Chủ đề ấy được thể hiện qua nội dung của bài thơ: + Hình ảnh ngôi nhà của bà hiện lên thật nhỏ bé, đơn sơ: “một túp nhà tre”, “một hàng cau trước hè”, “một mảnh vườn”, “giậu nứa” -> Hình ảnh người bà tần tảo, chịu thương, chịu khó. Từ đó thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng pha lẫn chút xót xa của đứa cháu trước hoàn cảnh sống của bà. + Cảnh Tết đến xuân về: hoa cải nở vàng, gạo nếp, bánh chưng, quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông. -> Rực rỡ sắc màu; không khí ấm áp, yên bình. + Những hoạt động: gói bánh chưng, nướng than hồng, ăn cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông. -> Phong tục, tập quán của người Việt. Đó là nét đẹp văn hoá cổ truyền của dân tộc có từ ngàn đời nay mà nhà thơ muốn nhắc nhở mọi người hãy trân trọng, giữ gìn. - Đặc sắc nghệ thuật: + Thể thơ bảy chữ, cách ngắt nhịp và gieo vần tự do thể hiện cảm xúc của nhà thơ một cách tự nhiên, trôi chảy. + + Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, giàu sức gợi. + Biện pháp tu từ liệt kê: “ngôi nhà, mảnh vườn, bờ giậu, gạo nếp, bánh chưng, quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, cơm tám, dưa hành,... làm cho sự vật, sự việc hiện lên phong phú và đa dạng.zs + Kết hợp các phương thức biểu đạt kể, tả, biểu cảm làm cho nội dung vừa cụ thể vừa lắng sâu. * Kết thúc vấn đề nghị luận: Đánh giá chung về chủ đề, đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ; liên hệ, rút ra bài học/thông điệp có ý nghĩa với bản thân. |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất 2 ý trong mỗi luận điểm về chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ để thể hiện được đánh giá, cảm nhận cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, biết phân tích các chi tiết, hình ảnh đặc sắc, những biện pháp nghệ thuật để làm nổi bật nội dung, chủ đề của bài thơ. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
|
ĐỀ 29 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi:
… (1) Một viên sỏi nhỏ cũng có thể làm xáo động cả vùng nước. Nhỏ thôi, nhưng khi ta biết gieo một điều tốt, sự lan tỏa của nó là gần như không thể giới hạn. Nhỏ thôi, nhưng khi ta làm một điều xấu, tiếng của nó lan xa chẳng gì có thể ngăn được. Người xưa nói: Đừng thấy việc ác nhỏ mà làm. Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi, thì ta cũng có cơ hội để thành người tử tế qua mỗi ngày lớn lên. Như những vòng tròn đồng tâm lan rộng, ta “start-up” cuộc đời mình theo cách nhẹ nhàng và lãng mạn, tỏa lan năng lượng tích cực, tạo nên những con sóng dù nhỏ nhưng có thể đánh động cả tự nhiên để tất cả biết rằng ta đang thực sự sống.
(2) Cuộc sống cũng nhắc ta không ngừng hành động. Ta khởi sự một việc dù nhỏ thì cũng có thể tạo ra những làn sóng tỏa lan, những vòng tròn đồng tâm nối nhau sống động. Đôi khi ta ném xuống mặt bến sông tĩnh lặng là tâm hồn ta một viên sỏi nhỏ để nhắc mình sống, nhắc những điều tốt cần được thể hiện, nhắc dám đối đầu với những kẻ ác và những hành động không tử tế. Khi còn trẻ là khi ta cần lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực cho người xung quanh, cho bè bạn, cho ánh sáng đẩy lùi bóng tối…
(Trích Bay xuyên những tầng mây - Hà Nhân, NXB Văn học, 2016, tr.191,192)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?
Câu 2. (0,5 điểm) Xét về mặt cấu tạo, câu văn sau thuộc kiểu câu gì?
Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi, thì ta cũng có cơ hội để thành người tử tế qua mỗi ngày lớn lên.
Câu 3. (0,5 điểm) Theo tác giả: Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi thì điều gì sẽ xảy ra?
Câu 4. (1,5 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ điệp cấu trúc được sử dụng trong các câu văn: "Nhỏ thôi, nhưng khi ta biết gieo một điều tốt, sự lan tỏa của nó là gần như không thể giới hạn. Nhỏ thôi, nhưng khi ta làm một điều xấu, tiếng của nó lan xa chẳng gì có thể ngăn được.”
Câu 5. (1,0 điểm) Từ văn bản, em hãy rút ra thông diệp có ý nghĩa nhất với bản thân. Lí giải vì sao?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực cho những người xung quanh.
Câu 2. (4,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau:
|
... “Quê hương mỗi người đều có Vừa khi mở mắt chào đời Quê hương là dòng sữa mẹ Thơm thơm giọt xuống bên nôi Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người.” (Quê hương, Đỗ Trung Quân, NXB Văn học, 1991) |
* Tác giả: Đỗ Trung Quân (sinh 19 tháng 1 năm 1955) là một nhà thơ Việt Nam. Năm 1976, ông tham gia phong trào thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng... Phong cách thơ: Nhẹ nhàng, trong trẻo và sâu sắc.
* Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ viết năm 1986 với tên gọi Bài học đầu tiên cho con. Đầu thập niên 1990 bài thơ được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng và nhiều người biết đến.
* Vị trí của đoạn trích: Đoạn trích thuộc 2 khổ cuối của bài thơ.
==========Hết=========
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh: ………………………….………….; Số báo danh: ………………………
Chữ kí của cán bộ coi thi 1: ………………; Chữ kí của cán bộ coi thi 2: ……...………
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
Câu |
Sơ lược lời giải |
Điểm |
|
I. ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
Câu 1 |
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận |
0,5 |
|
Câu 2 |
Xét về mặt cấu tạo, câu văn thuộc kiểu: Câu ghép |
0,5 |
|
Câu 3 |
Theo tác giả: Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi thì ta cũng có cơ hội để thành người từ tế và mỗi ngày lớn lên, tạo nên những con sóng dù nhỏ nhen có thể đánh động cả tự nhiên để tất cả biết rằng ta đang thực sự sống. |
0,5 |
|
Câu 4 |
Điệp cấu trúc: Nhỏ thôi nhưng khi ta biết gieo một điều tôt…/ Nhỏ thôi, nhưng khi ta làm một điều xấu Tác dụng: + Tạo nhịp điệu rõ ràng và sự liên kết chặt chẽ giữa các câu văn, làm cho cách diễn đạt được sinh động, lời văn thêm gắn kết, câu văn giàu hình ảnh, giàu giá trị biểu cảm, gây hấp dẫn với người đọc. + Nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc làm những điều tốt dù nhỏ nhoi và chỉ ra hậu quả đáng tiếc nếu ta có những hành động, việc làm xấu + Tác giả khuyên răn con người hãy có hành động đúng đắn, tốt đẹp để từ đó lan tỏa giá trị tích cực. |
0,25 0,5 0,5 0,25 |
|
Câu 5 |
Thí sinh tự rút ra thông điệp riêng cho mình, nhưng cần bám sát nội dung đoạn trích và lí giải được ý nghĩa tích cực của thông điệp đến nhận thức và hành động của bản thân. Gợi ý: Luôn lan tỏa giá trị và làm những việc thiện dù nhỏ nhoi. Vì những điều điều thiện lành chúng ta gửi trao có thể làm thay đổi thế giới này khi ai ai cũng có sự lan tỏa, tận tâm và tốt bụng. Chúng ta không hẹp hòi, không ích kỉ, chúng ta tràn ngập tin tưởng vào tương lai. Sự thiện lương gắn kết trái tim với trái tim và giúp tình người thêm ấm áp… |
1,0 |
|
II.VIẾT |
6,0 |
|
|
Câu 1 |
Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực cho những người xung quanh. |
2,0 |
|
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn Thí sinh biết cách viết đúng hình thức của một đoạn văn, đảm bảo dung lượng 10-12 câu. * Hướng dẫn chấm : Nếu thí sinh viết nhiều hơn một đoạn văn thì trừ 0,25 điểm. |
0,25 |
|
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của việc lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực cho những người xung quanh. * Hướng dẫn chấm: Vấn đề nghị luận cần được trình bày xuyên suốt cả đoạn: 0,25 điểm |
0,25 |
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ ý nghĩa của việc lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực cho người xung quanh. Có thể triển khai theo hướng: - Việc lan tỏa nguồn năng lượng sống tích cực giúp ta luôn cảm thấy lạc quan, yêu đời, dễ dàng vượt qua được mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. - Khi lan tỏa năng lượng sống tích cực đến những người xung quanh sẽ giúp họ có niềm tin vào cuộc sống và vượt qua thử thách. - Không chỉ vậy, năng lượng tích cực khi được lan tỏa sẽ khiến cho cộng đồng sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Năng lượng tích cực sẽ tạo nên một xã hội vững mạnh, văn minh và nhân ái. - Cần giữ thái độ sống lạc quan, yêu đời, tích cực phát huy những hành động nhân văn để lan tỏa ra cộng đồng… * Hướng dẫn chấm: Thí sinh thể hiện đúng được 2 ý cho 0,5 điểm; đúng 3 ý trở lên cho 1,0 điểm. |
|
|
|
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: - Đảm bảo đúng chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp Tiếng Việt |
0,25 |
|
|
d. Sáng tạo - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. (Biết mở rộng, phản biện hoặc rút ra bài học) - Có dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu để làm sáng tỏ vấn đề. - Có cách diễn đạt mới mẻ, lời văn có giọng điệu, hình ảnh. * Hướng dẫn chấm: - Thí sinh đạt được 2 ý trở lên thì cho 0,25 điểm. |
0,25 |
|
|
Câu 2 |
Cảm nhận về đoạn thơ trong bài “Quê hương” của Đỗ Trung Quân |
4,0 |
|
1. Đảm bảo cấu trúc bài văn phân tích một tác phẩm thơ (đoạn thơ) Mở bài: Giới thiệu được tác giả, tác phẩm, nêu được vấn đề nghị luận. Thân bài: Triển khai các luận điểm Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận |
0,25 |
|
|
2. Xác định đúng vấn đề: Làm rõ những nét nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật của đoạn thơ. |
0,25 |
|
|
3. Triển khai vấn đề: Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng đảm bảo các yêu cầu sau: a. Mở bài - Giới thiệu tác giả Đỗ Trung Quân và bài thơ “Quê hương” - Giới thiệu vấn đề nghị luận và trích dẫn đoạn thơ. |
0,5 |
|
|
b. Thân bài b.1. Khái quát chung - Bài thơ viết năm 1986 với tên gọi Bài học đầu cho con. Đầu thập niên 1990 bài thơ được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng và nhiều người biết đến. - Đoạn thơ là những lời dặn dò chân thành, thiết tha của người cha, người mẹ đối với con, là lời khẳng định quê hương rất đỗi thân thương, bình dị, quê hương là cội nguồn, nơi nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mỗi người, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên, gần gũi của con người thôn quê, qua đó nhắc nhở mỗi người về ý thức trách nhiệm, hướng về quê hương, cội nguồn. |
0,25 |
|
|
b.2. Phân tích |
|
|
|
b.2.1.Nội dung cơ bản của đoạn thơ |
|
|
|
Luận điểm 1: Ý nghĩa quan trọng của quê hương trong cuộc đời của mỗi con người (khổ thơ đầu) - Câu thơ mở đầu như một lời khẳng định với mỗi con người ai sinh ra và lớn lên đều có một quê hương cho riêng mình. - Cụm từ “Vừa khi mở mắt…” nhiều người ngỡ ngàng khi nhận ra, quê hương sao gần quá. Từ thuở tuổi ấu thơ nằm nôi, hình ảnh quê hương xuất hiện trong câu chuyên bà kể, trong lời hát mẹ ru, trong trái cây dịu mát... - Cách tác giả đưa ra định nghĩa về quê hương: so sánh “quê hương - dòng sữa mẹ” => Hình ảnh giản dị, gần gũi, ấm áp, chân thực, thân thuộc. Từ đó khẳng định quê hương là khởi nguồn của sự sống, là nơi nuôi dưỡng con khôn lớn, trưởng thành. - Thái độ trân trọng, tình cảm mến yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương. |
0,5 |
|
|
Luận điểm 2: Lời nhắc nhở của tác giả (Khổ thơ sau) - Nhà thơ so sánh quê hương như một người mẹ, dang rộng vòng tay ấm áp để đón lấy đàn con thơ trở về. Kể cả khi không có nhà, quê hương vẫn bảo vệ con khỏi bão tố, mưa sa ngoài kia. Quê hương là duy nhất cũng như mỗi người chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời. Từ “chỉ một” càng khẳng định điều đó. - “Nhớ”: một biểu hiện của tình cảm lưu giữ rõ nét đến từng chi tiết con người, cảnh vật quê hương. “Nhớ quê” là không chỉ nỗi nhớ một vùng đất, một lãnh thổ mà còn nhớ về cội nguồn, lịch sử, văn hóa, thuần phong mĩ tục, về con người đang đổ mồ hôi, nước mắt cho quê hương, đất nước,... - Cụm từ “không lớn nổi” kết hợp với kiểu câu điều kiện - kết quả “ Nếu .. sẽ” -> con người có thể lớn lên về thể chất nhưng sẽ không thể lớn lên về tâm hồn, không thể trưởng thành nếu không nhớ về cội nguồn, gốc rễ, và chắc chắn sẽ là người không có đạo đức, không có nhân cách tốt. - Điệp ngữ “Quê hương” được lặp lại rất nhiều lần, khẳng định đối với mỗi người, quê hương là cả ký ức, linh hồn, thương nhớ, thậm chí là không thể rời xa. Sự gắn bó của quê hương thật kỳ diệu, cũng chính nơi đó có tình thương, có bạn bè, người thân, thầy cô. => Từ “chỉ một” muốn khẳng định/nhấn mạnh tầm quan trọng của quê hương trong việc hình thành nhân cách một con người |
0,75 |
|
|
b.2.2. Đặc sắc nghệ thuật +Thể thơ sáu chữ; ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng phù hợp với lối tâm tình, thủ thỉ, gửi gắm con về tầm quan trọng của quê hương trong đời sống đặc biệt trong việc hình thành nhân cách một con người +Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, hình ảnh thơ trong sáng, gần gũi, miêu tả quê hương bình dị và thiêng liêng. + Sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ tthuật: so sánh, điệp ngữ… |
0,5 |
|
|
c. Kết bài - Khái quát, đánh giá về vấn đề nghị luận. - Bài học nhận thức, suy ngẫm cho bản thân từ đoạn thơ, bài thơ.. |
0,5 |
|
|
4. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt… |
0,25 |
|
|
5. Sáng tạo - Thí sinh có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, so sánh, liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài - Thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc; văn viết giàu cảm xúc. |
0,25 |
|
|
|
Tổng điểm |
10,0 |
Lưu ý:
- Giáo viên: cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Bài thi được chấm theo thang điểm 10; làm tròn đến hai chữ số thập phân.
............................ Hết ...........................
|
ĐỀ 30 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm):
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Giá trị hiện thực trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi ra làm quan với nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ ông đã ngoài bốn mươi tuổi, đã trải qua thời Lê – Trịnh, thời Tây Sơn đến thời Nguyễn. Những năm thiếu thời sống ở Thăng Long, ngót mười năm lưu lạc sống chung với nhân dân, và mấy năm làm quan dưới triều đình mới, ông đã chứng kiến những cảnh thối nát của xã hội phong kiến suy tàn thời Lê -Trịnh, đến sự vùng dậy mãnh liệt của thời Tây Sơn, v.v…Những biến cố ấy khắc sâu vào tâm trí của ông và được phản ánh vào văn chương một cách sâu sắc.
Trong Truyện Kiều, mới thoáng qua bề ngoài ta thấy chế độ phong kiến yên tĩnh, vững vàng “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng thực chất thì mục ruỗng từ bên trong. Bọn quan lại phong kiến toàn là lũ sâu mọt, là những thế lực vô cùng hắc ám: Một tên quan xử kiện vụ Vương Ông, thằng bán tơ vu oan cho gia đình họ Vương, nhưng quan chẳng cần điều tra, nghiên cứu gì, chỉ cốt khảo cho ra tiền: “Có ba trăm lạng việc này mới xong”, đẩy gia đình họ Vương vào cảnh tan nát, phá tan mối tình đẹp đẽ của Thúy Kiều và Kim Trọng.
Đến như “Quan Tổng đốc trọng thần” họ Hồ, đại diện cho triều đình cũng là con người bỉ ổi, mất tư cách: dụ Từ Hải hàng rồi lừa giết một cách hèn nhát, dở trò dâm ô ngay với người vợ kẻ mình giết, rồi đem gán cho một tên thổ quan, để đến nỗi Kiều phải gieo mình xuống sông Tiền Đường.
Trong lúc đó, bọn đại quí tộc như “họ Hoạn danh gia” tha hồ làm mưa làm gió. Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước. Hoạn Thư còn lập mưu bắt cóc Kiều đem về cho mụ mẹ ngược đãi và bày ra trò gặp gỡ éo le chua xót giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh. Hoạn Thư “con quan Lại bộ”, tuy thông minh sắc sảo có thừa nhưng vô cùng nham hiểm độc ác:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.”
Bên cạnh cường quyền, bọn phong kiến quan liêu ấy còn có thứ quyền hung hãn hơn là đồng tiền. Cả một lũ quan lưu manh “trong tay sẵn có đồng tiền” nên chúng tha hồ hoành hành làm hại những người lương thiện. Đồng tiền mà trước đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo tác dụng phá hoại đạo đức phong kiến:
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết rượu hết ông tôi.”
Đến thời Nguyễn Du, đồng tiền càng tác oai tác quái hơn. Cũng vì có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật. “Nghĩ rằng cũng mạch thư hương” như Sở Khanh, vì tiền mà chịu làm “mặt mo” để thi hành độc kế của Tú Bà… Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen”. Nó dày xéo lên công lý, nó mua được lương tâm của con người. Nó đánh giá tài đức, phẩm cách con người như đánh giá một món hàng bán ngoài chợ. Và Nguyễn Du đã vạch mặt tác hại của đồng tiền đối với xã hội và cuộc sống con người:
“Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
Qua đó, ta thấy được xã hội trong Truyện Kiều là một xã hội phong kiến thối nát. Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Nguyễn Du đã ghi chép lại những nét thật điển hình, phản ánh những bộ mặt xấu xa, tàn bạo của nhiều nhân vật: Hoạn bà, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh… trong xã hội đó. Truyện Kiều quả thật là một “Bản cáo trạng bằng thơ lên án chế độ phong kiến xấu xa, tàn bạo”.
(Trích Những giá trị và hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều- GS.TS.Lê Văn Quán,Tạp chí Hán Nôm, số 4 (113),2012; tr.3-11)
Câu 1 (0,5 điểm). Em hãy xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Đoạn văn thứ 5 của văn bản, tác giả sử dụng nhiều bằng chứng để chứng minh cho quyền lực hung hãn của đồng tiền. Em hãy chỉ ra ít nhất hai bằng chứng có trong đoạn văn đó.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Mẹ con Hoạn bà nuôi cả một lũ côn quang để đi đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước”.
Câu 4 (1,0 điểm). Qua văn bản, tác giả bày tỏ quan điểm gì về XHPK đương thời?
Câu 5 (1,0 điểm). Bài học sâu sắc mà em nhận được từ văn bản trên là gì?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1(2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về bài thơ sau:
Con về thăm mẹ, đêm mưa
Mới hay nhà dột, gió lùa bốn bên
Mưa rơi sợi thẳng, sợi xiên
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời
Con đi đánh giặc suốt đời
Vẫn không che được một nơi mẹ nằm.
(Đêm mưa -Tô Hoàn, nguồn thivien.net)
Tô Hoàn sinh năm 1949, quê làng Tĩnh Lộc, xã Nghĩa Trung, Việt Yên, Bắc Giang; là người lính tham gia kháng chiến, là lính vận tải, sau chuyển sang Tuyên huấn Cục Hậu Cần của một Quân khu, chủ yếu là ở chiến trường Trung Trung Bộ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề cần loại bỏ thói ích kỉ của con người trong xã hội.
----------------Hết---------------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI TUYỂN SINH 10
|
PHẦN |
Câu |
Sơ lược lời giải |
Điểm |
|
ĐỌC HIỂU |
1 |
Luận đề của văn bản: Giá trị hiện thực trong “Truyện kiều” của Nguyễn Du |
0,5 |
|
2 |
- HS nêu được 2 bằng chứng: cho 0,5 điểm; nếu chỉ nêu được 1 bằng chứng cho 0,25 điểm VD: Cũng vì có đồng tiền mà bọn con buôn như họ Mã mới dám “Trước thầy sau tớ lao xao”, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, “Cò kè bớt một thêm hai”, và cả lũ Tú Bà, Bạc Hạnh mới tự do buôn bán người lại được sự che chở của pháp luật… |
0,5 |
|
|
3 |
- HS chỉ ra được BPTT liệt kê: đốt nhà, bắt cóc người vô tội, bắt làm nô tỳ, đánh đập tàn nhẫn, thi hành theo “gia pháp” của mụ, bất chấp luật pháp nhà nước - HS phân tích được tác dụng của phép liệt kê: + Thể hiện được đầy đủ, chi tiết những việc làm độc ác, phi pháp của mẹ con Hoạn Bà. + Góp phần làm tăng hiệu quả cho việc diễn đạt. + Thể hiện thái độ căm phẫn của tác giả trước những việc làm đó. |
0,25 0,75 |
|
|
4 |
- HS hiểu được tác giả bày tỏ quan điểm: + Lên án, phê phán bộ mặt xấu xa, tàn bạo, lạm dụng quyền lực của quan lại. + Tố cáo thế lực ghê gớm của đồng tiền trong xã hội phong kiến . |
0,5 0,5 |
|
|
5 |
- HS rút ra bài học sâu sắc qua văn bản: + Phê phán cái ác, cái xấu trong cuộc sống và trong xã hội. + Biết hành động lên tiếng phê phán, tố cáo, đấu tranh,…chống lại những hành vi sai trái, bất công để góp phần xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp. |
0,5 0,5 |
|
|
VIẾT |
1 |
Viết đoạn văn (khoảng 150 - 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ về bài thơ: “Con về thăm mẹ, đêm mưa (Đêm mưa,Tô Hoàn, nguồn thivien.net) |
2,0 |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo các cách, đảm bảo yêu cầu về cấu trúc đoạn; bố cục rõ ràng, mạch lạc, diễn đạt trôi chảy (khoảng 150 -200 chữ). |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ sâu sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. |
0.25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: - Xác định được các ý phù hợp để làm rõ đặc sắc nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ. Sau đây là một số gợi ý: + Đoạn thơ thể hiện niềm xót xa ,thương cảm của người lính về người mẹ: cuộc đời mẹ khốn khó, vất vả nhưng mẹ vẫn lặng thầm chịu đựng, hi sinh để con yên tâm chiến đấu. +Người lính trăn trở, day dứt, tự vấn bản thân vô tâm trước tình cảnh của mẹ, chưa giúp được gì cho mẹ bớt cơ cực. + Đoạn thơ được viết theo thể thơ lục bát; các từ ngữ, hình ảnh chân thực, giản dị, giọng điệu bùi ngùi xúc động. Biện pháp liệt kê: nhà dột, gió lùa, sợi thẳng, sợi xiên; đối chiếu hai câu thơ kết nhấn mạnh những khó khăn, vất vả mà mẹ phải chịu đựng và nỗi niềm xót thương, day dứt của người lính. - Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. |
0.5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận. Phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: Cảm xúc, suy nghĩ về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ. - Trình bày rõ quan điểm, hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, kết hợp lí lẽ, bằng chứng, tình cảm, cảm xúc của người viết. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt: đảm bảo các quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện cảm xúc, suy nghĩ mới mẻ, sâu sắc, chân thành phù hợp với đặc trưng thể loại văn học. Khuyến khích những bài có có cách cảm nhận tinh tế, sáng tạo khi cảm nhận về bài thơ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề cần loại bỏ thói ích kỉ của con người trong xã hội. |
4,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cần loại bỏ thói ích kỉ của con người trong xã hội |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận - Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: + Biểu hiện của thói ích kỉ: không quan tâm đến người khác, bắt mọi người phải làm theo ý muốn của mình, trốn tránh việc khó và đùn đẩy trách nhiệm, hạ thấp người khác, nâng cao giá trị bản thân… + Nguyên nhân của thói ích kỉ: Đề cao cái tôi, thiếu kiềm chế trước lợi ích cá nhân, chịu ảnh hưởng từ môi trường sống… + Tác hại của thói ích kỉ: con người trở nên xấu tính, hẹp hòi, bị xa lánh, ghét bỏ; xã hội xuống cấp, thối nát về đạo đức và sống thiếu tình thương khi con người chỉ biết nghĩ đến bản thân mình… + Giải pháp loại bỏ thói ích kỉ của con người: cần quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ mọi người trong học tập hay công việc, trong cuộc sống gia đình hay ngoài xã hội…; lên án, loại bỏ lối sống ích kỉ… - Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện,… * Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
|
Tổng điểm |
10 |
|
Lưu ý:
- Giáo viên: cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Bài thi được chấm theo thang điểm 10; làm tròn đến hai chữ số thập phân.
----------Hết--------
|
ĐỀ 30 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN 1: ĐỌC HIỂU ( 4, 0 ĐIỂM )
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Nhà tâm lí học Angela Lee Duckworth đã bỏ ra nhiều năm tìm hiểu về chìa khoá để thành công. Sau thời gian nghiên cứu, bà chỉ ra rằng: Điều cơ bản làm nên thành công của con người là sự bền bỉ. Bà nói: “Bền bỉ là sự đam mê, tính kiên trì cho những mục tiêu dài hạn. Bền bỉ là có khả năng chịu đựng khó khăn. Bền bỉ là tập trung vào tương lai của mình một cách liên tục, không phải tính theo tuần, theo tháng mà là năm. Bền bỉ là làm việc thật chăm chỉ để biến tương lai thành hiện thực. Bền bỉ là việc sống một cuộc đời như thể nó là một cuộc chạy marathon, chứ không phải là một cuộc đua nước rút”. Không phải chỉ số IQ, không phải ngoại hình, hay sức mạnh thể chất, hay kỹ năng xã hội. Sự bền bỉ là yếu tố quyết định để thành công.
Sân vườn nhà tôi có bày những cái ghế đá, trên một trong những cái ghế ấy có khắc dòng chữ: “Cây kiên nhẫn đắng chát nhưng quả nó rất ngọt”. Nếu không có những giờ ngồi kiên trì từ ngày này qua ngày khác trong phòng suốt nhiều năm liền của những con người bền bỉ cống hiến như thế, chúng ta đã không có Hesman, One Piece, Sherlock Holmes, Tarzan, Doraemon. Không có sự bền bỉ, sẽ không có bất cứ thứ gì vĩ đại được sinh ra trên đời. Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay và nhiều phát minh khác. Nếu không có những giờ kiên tâm hy sinh thầm lặng hay nhẫn nại làm việc của con người, nhân loại sẽ tổn thất biết bao.
Hôm trước một anh bạn gửi cho tôi câu danh ngôn: “Những người đứng đầu trên thế giới đều là những người bình thường với ý chí phi thường”. Nên ta làm gì không quan trọng. Quan trọng là ta có làm cho đến khi ra được kết quả mong muốn hay không. Người ta thường nhấn mạnh tới việc sống phải có ước mơ, hoài bão nhưng theo tôi cái khó là kiên trì từng ngày vươn tới nó.
(Trích Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu, Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn, tr.227, 228)
Câu 1 (0,5 điểm). Câu văn nào chứa luận điểm của văn bản trên ?
Câu 2.( 0,5 điểm ) Hãy chỉ ra những dẫn chứng trong đoạn văn sau : Nếu không có những giờ ngồi kiên trì từ ngày này qua ngày khác trong phòng suốt nhiều năm liền của những con người bền bỉ cống hiến như thế, chúng ta đã không có Hesman, One Piece, Sherlock Holmes, Tarzan, Doraemon. Không có sự bền bỉ, sẽ không có bất cứ thứ gì vĩ đại được sinh ra trên đời. Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay và nhiều phát minh khác. Nếu không có những giờ kiên tâm hy sinh thầm lặng hay nhẫn nại làm việc của con người, nhân loại sẽ tổn thất biết bao.
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu thế nào về câu văn: Cây kiên nhẫn đắng chát nhưng quả nó rất ngọt.
Câu 3 (1,0 điểm). Hãy cho biết hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn: Không có sự bền bỉ, sẽ không có bất cứ thứ gì vĩ đại được sinh ra trên đời. Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay và nhiều phát minh khác.
Câu 4 (1,0 điểm). Qua đoạn trích trên, tác giả gửi gắm đến chúng ta những thông điệp gì?
PHẦN II : VIẾT ( 6,0 ĐIỂM )
Câu 1 ( 2, 0 điểm ) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu cảm nghĩ về bài thơ Lời ru con của Nguyễn Lãm Thắng. ( 2, 0 điểm )
Bức tranh thiên nhiên hiện lên như thế nào qua lời ru của mẹ.
À ơi! con mẹ ngủ ngoan
Con chim sâu nhỏ hót vang sau vườn
Đung đưa cành bưởi toả hương
C
Người mẹ nhắn nhủ con điều gì – hình ảnh của ai được thể hiện và thể hiên như thế nào qua khổ thơ thứ 2.
on ong chăm chỉ lên đường tìm hoa…
À ơi cái ngủ rất nồng
Cha đi cắt cỏ trên đồng chang chang
Vai cha quảy gánh gian nan
Hình như ngoài ngõ cha đang bước về
(Trích Lời ru con, Nguyễn Lãm Thắng)
Nguyễn Lãm Thắng sinh ngày 14/8/1973, quê tại làng Tịnh Đông Tây (Hà Dục), xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, tốt nghiệp cử nhân văn - hoạ Trường ĐH Sư phạm Huế năm 1998, là giảng viên Khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Huế, hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, trưởng Gia đình Áo trắng Huế. Ngoài sử dụng tên Nguyễn Lãm Thắng làm bút danh, anh còn có các bút danh danh khác là Lãm Thắng, Lam Thuỵ và các bút danh viết cho thiếu nhi: Nguyễn Trần Bảo Nghi, Du Lãm, Nhật Quang...
- Giải thưởng báo Mực tím (Gửi tới yêu thương) năm 2003
- Giải thưởng Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế 2007
Có thơ đăng ở nhiều tạp chí trung ương và địa phương: Kiến thức ngày nay, Nhân dân, Sông Hương, Tuổi trẻ, Tài hoa trẻ, Áo trắng, Nữ sinh,…
Câu 2 : ( 4,0 điểm) : Mạng xã hội là trang cung cấp và lan truyền thông tin rộng rãi nhanh nhất thế giới hiện nay. Nhiều cá nhân trơe nen nổi tiếng nhờ vào mạng xã hội. Nhưng mạng xã hội có an toàn không. Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên
ĐÁP ÁN- BIỂU ĐIỂM
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
1 |
Điều cơ bản làm nên thành công của con người là sự bền bỉ. |
0,5 |
|
2 |
- Hesman, One Piece, Sherlock Holmes, Tarzan, Doraemon. -Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay và nhiều phát minh khác. |
0,5 |
|
3 |
-HS hiểu được ý nghĩa của câu nói: “Cây kiên nhẫn đắng chát” bởi quá trình kiên nhẫn để thực hiện điều gì đó sẽ không hề dễ dàng, sẽ có nhiều những vất vả, gian nan. Thế nhưng, “quả nó rất ngọt” bởi kết quả của những kiên nhẫn chính là những thành công hay những điều tốt đẹp trong cuộc sống. -HS hiểu được thông điệp của câu nói: Câu nói khuyên mỗi chúng ta hãy cố gắng, kiên trì để đạt được thành công/ để có được những điều tốt đẹp trong cuộc sống. *Lưu ý: GK tự thống nhất học sinh chỉ cần nêu được ý hiểu về ý nghĩa của câu nói hay cần nêu được cả thông điệp của câu nói thì mới cho điểm tối đa. |
1,0 |
|
3 |
-Biện pháp tu từ +Liệt kê: Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay. -Hiệu quả nghệ thuật: +Tạo nhịp điệu cho câu văn; làm cho cách diễn đạt cụ thể, sinh động; gây ấnt ượng với người đọc, người nghe; cách lập luận logic, chặt chẽ, tăng sức thuyết phục. +Diễn tả đầy đủ, cụ thể, phong phú những phát minh/phát hiện vĩ đại của những con người đã bền bỉ tìm tòi, nghiên cứu, kiên trì cống hiến. Từ đó, làm sáng rõ giá trị của sự kiên trì, bền bỉ. +Thể hiện thái độ của tác giả: ngợi ca, đề cao sự kiên trì, bền bỉ; mong muốn mọi người rèn luyện ý chí, sự kiên trì trong cuộc sống. * Lưu ý: - GK tự thống nhất phương án cho điểm khi học sinh trả lời biện pháp tu từ liệt kê: “Bóng đèn điện, định luật bảo toàn năng lượng, thuyết tương đối, máy bay và nhiều phát minh khác” - Học sinh diễn đạt tương đương các ý về hiệu quả nghệ thuật vẫn cho điểm tối đa. |
0,25 0,75 |
|
4 |
Những thông điệp gợi từ đoạn trích: - Kiên trì là một phẩm chất đáng quý, cần thiết với con người. - Muốn thành công thì cần phải bền bỉ, kiên trì cố gắng. - Sự kiên trì đã tạo ra nhiều thành quả giá trị với nhân loại. - Cần trân trọng, học hỏi những người có phẩm chất kiên trì. - Hãy kiên trì, nỗ lực trong học tập và cuộc sống. * Lưu ý: - Học sinh có thể có cách diễn đạt riêng hoặc đưa ra các thông điệp khác: giáo viên linh động chấm điểm dựa trên sự hợp lý, thuyết phục của câu trả lời. |
1,0 |
PHẦN II : LÀM VĂN
|
Câu |
Đáp án |
Điểm |
|
1 |
a.Xác định được yêu cầu hình thức và dung lượng đoạn văn ( khoảng 200 chữ). Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo hình thức diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp. |
0,25 |
|
b. Xác định nội dung : Cảm nghĩ về bài về bài thơ Lời ru con của Nguyễn Lãm Thắng |
0,25 |
|
|
c. Đề xuất hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của bài thơ - Giới thiệu nhan đề, tác giả và cảm nghĩ chung về bài thơ - Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật + Về nội dung :Bài thơ mang tên Lời ru con, được viết theo thể thơ lục bát giống như một bài hát ru quen thuộc, thân thương với những năm tháng ấu thơ, lời ru của mẹ đã đưa ta vào giấc ngủ, gợi lên sự gần gũi, gọi về trong trái tim ta bao kỉ niệm.. Bài thơ gợihình ảnh người mẹ đang hát ru, cảnh vật như đang chìm vào giấc ngủ bình yên thư thái.Cụm từ À ơi mở đầu cho các khổ thơ tạo sự êm ái nhịp nhàng, như điệp khúc lời ru, như đang vỗ về, cưng nựng để đứa con chìm vào giấc ngủ ngon. Mẹ mong con ngủ ngoan để con mau lớn, để mẹ yên tâm làm việc. Trong lời ru của mẹ, những hình ảnh thân thuộc của làng quê hiện lên thật yên bình: Mọi vật chìm vào giấc ngủ, tiếng con chim sâu lảnh lót vang trong khu vườn xanh mát, mùi hương hoa bưởi tinh khiết, nồng nàng lan toả khắp không gian – mùi hương đặc trưng, thân thuộc của làng quê.. Những con ong chăm chỉ tìm hoa hút mật, không gian êm đềm, tĩnh lặng; cảnh vật gần gũi thân thương, tĩnh lặng… lời ru của mẹ vang lên dịu dàng, tha thiết, ngọt ngào…Lời ru cũng là lời nhắn nhủ, dạy bảo, tâm tình, khổ thơ thứ hai là hình ảnh người cha lam lũ, những vất vả trĩu nặng trên vai cha. Nhưng người cha bước về đầu ngõ không gợn chút buồn thương, mệt mỏi. Cha được về với đứa con thơ bước chân cha như nhẹ nhàng, quên hết mọi vất vả… vì tình yêu con là động lực, sức mạnh của cha. Cha chăm chỉ cần cù, vượt qua tất cả vì muốn mang về cho con cuộc sống êm ấm, những vụ mùa bội thu để con được vô tư ngủ những giấc ngon lành.Với chúng ta, lời ru không chỉ êm ái đưa trẻ thơ vào giấc ngủ, con ngủ ngon lành trong bồng bềnh câu hát, trong lời mẹ ru như dòng sữa ngọt ngào. Lời ru còn là những bài học đầu đời nuôi dưỡng tâm hồn mỗi chúng ta Lời ru nhắc con về hy sinh của cha, biết trân trọng, ghi nhớ tình yêu của mẹ. + Về nghệ thuật: Thơ ca là nghệ thuật ngôn từ, bài thơ hay không chỉ ở nội dung mà còn ở những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc: - Thể thơ lục bát quen thuộc, giàu nhạc điệu, uyển chuyển… - Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc… mang âm điệu hát ru thân thuộc. - Hình ảnh thơ thân thuộc, gần gũi vừa bay bổng, mang nhiều liên tưởng. - Các biện pháp tu từ như nhân hoá, ẩn dụ góp một phần không nhỏ trong sự thành công của bài thơ. |
0,75 |
|
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau : + Lựa chọn phương thức biểu đạt phù hợp +Trình bày rõ cảm nghĩ qua hệ thống ý + Sử dụng các hình thức trích dẫn , kết hợp phân tích , nhận xét, đánh giá, bộc lộ cảm nghĩ về bài thơ |
0,25 |
|
|
đ. Diễn đạt : Đảm bảo chuẩn chính tả , dùng từ, ngữ pháp, liên kết câu |
0,25 |
|
|
e. Sáng tạo : Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về bài thơ , có cách diễn đạt mới mẻ |
0,25 |
|
|
2 |
Viết bài văn nghị luận xã hội về vấn đề cần giải quyết |
|
|
a.Xác đinh yêu cầu kiểu bài : Nghị luận xã hội |
0,25 |
|
|
b.Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vấn đề sử dụng mạng xã hội |
0,25 |
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề cần giải quyết - Xác định các ý của bài viết - Sắp xếp các ý hợp lý theo bố cục ba phần của bài viết 1 .Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề 2.Triển khai vấn đề a.Giải thích khái niệm: Mạng xã hội là gì ? b.Thể hiện quan điểm của người viết về vấn đề theo các gợi ý sau -Thực trạng của vấn đề : Hiện nay, việc sử dụng mạng xã hội đang có xu hướng tăng lên và phổ biến ở mọi lứa tuổi nhất là giới trẻ - Nguyên nhân của thực trạng trên + Xã hội phát triển + Nhu cầu giao tiếp + Những lợi ích của mạng xã hội mang lại : Giúp chúng ta giao lưu, kết nối với bạn bè, người thân.- Nơi lưu giữ những khoảnh khắc đẹp trong cuộc đời.- Cập nhật thông tin nhanh hơn, bắt nhịp kịp với cuộc sống của xã hội và thế giới Giúp các bạn thể hiện bản thân, sáng tạo, phát triển, trở thành người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội. - Nhưng sử dụng mạng xã hội có thật sự an toàn ? +Sử dụng quá nhiều mạng xã hội gây ra nghiện, dẫn theo các hệ lụy là sức khỏe đi xuống: bệnh đến xương khớp, vai gáy, mắt. -+Các thông tin trên mạng xã hội đang được lan truyền quá nhanh, không có sự kiểm duyệt -> Giới trẻ không phân biệt được thật, giả, trở thành đối tượng dễ bị lôi kéo, dụ dỗ, kích động. + Các bạn trẻ chưa biết cách bảo mật thông tin cá nhân, các thông tin này có thể bị lộ gây nên nhiều phiền toái, mất mát. - Sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến con người sống ảo, chỉ chăm chút cho hình ảnh trên mạng, quên mất bản thân và các mối quan hệ ở ngoài đời thực. - Sử dụng nhiều chiêu trò gây sốc, phản cảm để bản thân được nổi tiếng trên mạng xã hội - Mở rộng, trao đổi, đưa ra ý kiến trái chiều để phản bác có cái nhìn toàn diện - Đề xuất giải pháp có tính khả thi : +Cơ quan chức năng cần có các biện pháp kiểm duyệt thông tin trên mạng xã hội chặt chẽ hơn. + Mọi người cùng chung tay xây dựng mạng xã hội lành mạnh, có ích. Tẩy chay những người sử dụng chiêu trò để nổi tiếng. + Đặt ra quy định về thời gian sử dụng mạng xã hội chỉ khoảng 3-4 tiếng trong một ngày, thời gian khác tập trung vào cuộc sống của bản thân. Bài học nhận thức và hành động: +Mạng xã hội là công cụ giúp con người phát triển bản thân và kết nối với thế giới. + Cần phải biết sử dụng mạng xã hội đúng cách, đúng mực |
1,0 |
|
|
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau : - Triển khai được các luận điểm để làm rõ quan điểm cá nhân - Lựa chọn được các thao tác lập luận , phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục , lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu , phù hợp |
1,5 |
|
|
đ.Diễn đạt : đảm bảo chính tả, dùng từ, liên kết văn bản |
0,25 |
|
|
e. Sáng tao : Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, có cách diễn đạt mới mẻ, văn phong độc đáo. |
0,5 |
|
Tổng điểm |
|
10 |
|
ĐỀ 31 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. PHẦN 1. ĐỌC HIỂU (4,0 ĐIỂM)
Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
THU VỊNH - Nguyễn Khuyến
[…] Thu vịnh là nghĩa làm sao? Cứ xét nhóm từ này như một kết cấu độc lập thì có thể hiểu theo hai cách: Một là: vịnh mùa thu; hai là: làm thơ mùa thu. Xưa nay, nhiều người thường hiểu theo cách thứ nhất. Xét ra không đúng. Ấy là khi đặt nó vào hệ thống ba bài thơ thu: Thu điếu là câu cá mùa thu. Thu ẩm là uống rượu mùa thu, vậy thì Thu vịnh phải là làm thơ mùa thu. Ba việc làm khác nhau, ba tâm trạng khác nhau nhưng đều cùng dưới trời thu cả. Thu vịnh có tả cảnh mùa thu nhưng không phải vịnh mùa thu.
Câu 1- 2. Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nền trời thu Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Mấy tầng cao tức là rất cao, tưởng như có nhiều lớp nhiều tầng. Trời thu không mây, xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.
Cần trúc chỉ cây tre mảnh khảnh uốn cong như cần câu hoặc cây măng chưa ra lá, ngọn còn in hình cần câu; Tre hay măng gì cũng được, miễn là có cái dáng thanh thanh, cong cong có duyên. Nền trời thu mà quy lại chỉ có màu xanh ngắt thì hàng tre cũng thu lại dáng cần trúc là phải, vậy mới hài hòa. Lơ phơ: không phải phất phơ mà đong đưa khẽ khẽ nhưng rõ nhất là thưa thớt mảnh khảnh, và như có gì bên trong. Gió hắt hiu: gió không mạnh nhưng không ra buồn, không như đìu hiu, và cũng như có gì bên trong.
Tất cả đều như có một mối cảm thông thầm, lặng sâu kín rất êm rất nhẹ, chừng như vi tế, rất khó nắm bắt. Xanh ngắt những mấy tầng cao thì mới càng ngắt xanh mấy tầng cao mà vẫn một màu xanh ngắt thì cái cao mới càng thăm thẳm. Cần trúc có gió hắt hiu thì mới lơ phơ, có cần trúc lơ phơ thì mới biết có gió hắt hiu. Cấu trúc có chút gió để đong đưa khe khẽ nhưng đong đưa cũng chỉ khe khẽ gần như đứng yên. Trên nền trời thu xanh thẳm lại im lìm mấy cần trúc mảnh khảnh, lơ phơ. Cái động của cần trúc càng tăng cái lặng thinh sâu thẳm của màu trời. Màu trời sâu thẳm, lặng thinh lại như dồn tất cả cái sâu lắng vào bên trong của một mình cần trúc, để cho nó vừa đủ đong đưa mà cũng vừa đủ đứng yên. Đó là nói cái động và cái tĩnh. Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ? Vậy hai câu đề thủy mạc hai nét cảnh thu, đơn sơ thanh thoát, nhưng là cảnh thu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả: cảnh thu làm thơ. Trong đó, mọi chi tiết, màu sắc, đường nét, cử động đều hài hòa, giao cảm với nhau thành một nỗi niềm gì đó, sâu lắng, vi tế lặn vào bên trong, nhưng lại có sức ngân man mác. Nói trời thu nhưng đã là hồn thu […]
(Lê Trí Viễn – in trong Những bài giảng văn chọn lọc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1998)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Câu 3. (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của việc kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và chủ quan trong đoạn văn in đậm ở văn bản.
Câu 4 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ trong đoạn văn sau:
Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ?
Câu 5 (1,0 điểm). Trong văn bản, em thích bằng chứng, lí lẽ nào? Vì sao?
II. PHẦN 2. ĐỌC HIỂU (6,0 ĐIỂM)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến)
Nước biếc trông như từng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Câu 2 (4,0 điểm).
Viết bài văn nghị luận bàn về giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
(Hướng dẫn chấm có 04 trang)
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh, tránh chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, tính chất cụ thể của đề thi và đặc điểm của kì thi Tuyển sinh vào lớp 10 THPT; trên cơ sở bám sát biểu điểm và từng bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, độc đáo, giàu cảm xúc.
Trong trường hợp thí sinh tổ chức bài làm theo cách riêng nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đáp án thì vẫn cho điểm như Đáp án - Hướng dẫn chấm. Điểm từng câu không làm tròn. Điểm bài thi bằng tổng điểm các câu, không làm tròn.
B. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Xác định thể loại của văn bản: văn bản nghị luận văn học |
0,5 |
|
2 |
- Văn bản bàn về cảnh thu, hồn thu và tình thu trong hai câu đề bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến. |
0,5 |
|
|
3 |
- Cách trình bày vấn đề khách quan:Trích dẫn hai câu đề của bài thơ Thu vịnh, nêu ý nghĩa của các cụm từ trích dẫn từ câu thơ “xanh ngắt”, “mấy tầng cao”, “cần trúc”, “lơ phơ”, “gió hắt hiu”- Cách trình bày vấn đề chủ quan: những cụm từ, câu văn thể hiện tình cảm, thái độ của người viết:+, Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.+, Nền trời thu mà quy lại chỉ có màu xanh ngắt thì hàng tre cũng thu lại dáng cần trúc là phải, vậy mới hài hòa. +, và như có gì bên trong. +, và cũng như có gì bên trong. - Nhận xét: Cách kết hợp này làm tăng sức thuyết phục của văn bản, vừa đảm bảo tính khách quan, chính xác, chân thực của các bằng chứng (thông qua cách trình bày vấn đề khách quan), vừa thể hiện tình cảm, đánh giá của người viết trong văn bản (thông qua cách trình bày vấn đề chủ quan). |
0,25 0,5 0.25 |
|
|
4 |
- Biện pháp đặt câu hỏi tu từ: thì làm sao mà mông mênh? làm sao tỏ hết được cái lơ phơ? - Tác dụng: + Bày tỏ cảm xúc của người viết. Khơi gợi suy nghĩ cho người đọc. + Tạo âm điệu tha thiết, ấn tượng. |
1,0 |
|
|
5 |
HS chọn một lí lẽ và một bằng chứng mà mình ấn tượng nhất trong văn bản và phân tích lí lẽ, bằng chứng đó. Chẳng hạn: - Chọn lí lẽ: Cần trúc có gió hắt hiu thì mới lơ phơ, có cần trúc lơ phơ thì mới biết có gió hắt hiu. Cấu trúc có chút gió để đong đưa khe khẽ nhưng đong đưa cũng chỉ khe khẽ gần như đứng yên. Lí lẽ này là một phát hiện thú vị của người viết, nhận ra mối giao cảm giữa cần trúc và gió. Cảnh vật vì thế có hồn. - Chọn bằng chứng: Các bằng chứng dẫn ra từ các câu thơ của bài thơ “cần trúc”, “lơ thơ”, “gió hắt hiu” vì các bằng chứng cho thấy tài năng sử dụng ngôn ngữ, sự tinh tế cảm nhận cảnh vật của nhà thơ Nguyễn Khuyến. |
1,0 |
|
|
II |
|
LÀM VĂN |
6,0 |
|
1 |
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến): Nước biếc trông như từng khói phủ Song thưa để mặc bóng trong vào |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn: Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp. |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Xác định đúng nội dung đoạn văn: trình bày cảm nghĩ của em về hai câu thực trong bài Thu vịnh (Nguyễn Khuyến) |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của đoạn văn: * Xác định được các ý phù hợp để tập trung làm rõ nội dung đoạn văn, sau đây là một số gợi ý: - Yêu cầu nội dung: Mở đoạn: +, nêu tên tác phẩm, tác giả, cảm nghĩ chung +, Dùng ngôi thứ nhất/ Viết hoa/ Lùi đầu dòng Thân đoạn: +, Trình bày cảm nghĩ về một/ một vài nét độc đáo của hai câu thực: nước biếc, tầng khói phủ, bóng trăng vào,… +, Làm rõ tác dụng các đặc sắc nghệ thuật: dùng từ: “Trông như”, “để mặc”… Kết đoạn: +, Khẳng định lại cảm nghĩ, ý nghĩa câu thơ đối với bản thân +, Dùng dấu câu phù hợp để kết thúc đoạn văn - Yêu cầu hình thức: +, Không mắc lỗi chính tả, dùng từ và đặt câu +, Sử dụng hiệu quả các phép liên kết để tạo sự mạch lạc cho bài viết. * Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn._ |
0,5 |
||
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định. - Trình bày rõ cảm nghĩ và hệ thống các ý. - Sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nghĩ về bài thơ. |
0,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về bài thơ; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
||
|
2 |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên. |
4,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên. |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý của bài viết - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giải pháp giúp các bạn trẻ tăng cường sự kết nối và giao cảm với thiên nhiên và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: * Giải thích vấn đề nghị luận: - Kết nối và giao cảm với thiên nhiên là gì? Là yêu quý, gần gũi, hòa hợp, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. *Thể hiện quan điểm của người viết về vấn đề nghị luận, có thể theo một số gợi ý sau: - Phân tích các khía cạnh của vấn đề: +, Việc thiếu kết nối, thiếu giao cảm với thiên nhiên đang trở thành một vấn đề ngày càng phổ biến ở nhiều học sinh hiện nay. Đó không còn chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là vấn đề của xã hội. +, Nguyên nhân xuất phát từ những áp lực trong học tập, xã hội; thói quen trong sinh hoạt: Ít vận động, dành nhiều thời gian “ôm” điện thoại để “sống ảo” thay vì mở lòng, tương tác, giao cảm với thiên nhiên… +, Việc thiếu kết nối, giao cảm với thiên nhiên khiến một bộ phận học sinh chịu tác động tiêu cực về sức khỏe thể chất cũng như tâm thần, tăng nguy cơ trầm cảm... - Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện. - Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục: +, Dành thời gian để sống và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. +, Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ thiên nhiên như: giữ vệ sinh môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng, trồng cây xanh, yêu quý động vật. +, Gia đình và nhà trường cần tạo cơ hội để học sinh có điều kiện gần gũi với thiên nhiên. Xây dựng Mái nhà xanh- Trường học xanh- Lớp học xanh. +, Có nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về ý nghĩa, vai trò của lối sống gần gũi, chan hòa với thiên …; kêu gọi chung tay bảo vệ và phát triển thiên nhiên. +, Cần phê phán các cá nhân, các tổ chức có hành vi xấu: phá rừng, thải nước ô nhiễm, săn bắt động vật,… Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
------------------- Hết -------------------
|
ĐỀ 32 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Sinh thời, Bác Hồ đã từng khuyên rằng: “Bất luận làm công việc gì cũng cần phải đọc. Người mới học chữ cần đọc để không mù lại, người làm công an cần đọc để nắm tình hình. Những người làm công việc chuyên môn cần phải đọc để nâng cao trình độ. Người làm quản lý lãnh đạo cần phải đọc để quản lý, lãnh đạo tốt hơn. Làm nhà báo, nhà văn lại càng phải đọc”. Tấm gương thích đọc sách, báo cùng những lời khuyên của Người, chính là lời nhắc nhở cho những người đang học tập, nghiên cứu và lao động trong nhiều lĩnh vực phải noi theo. (...)
Phương pháp đọc sách, báo của Bác Hồ rất khoa học, vì muốn không mất thời gian đọc lại nhiều lần về thông tin đó, Bác ghi chép và phân loại các thông tin trong sách, báo hoặc sử dụng bút màu đánh dấu những nội dung trọng tâm. Trong tác phẩm “Hồi ký - Người là Hồ Chí Minh” của Hội Nhà văn xuất bản năm 1995, đề cập màu mực biểu thị quy định, như: “Gạch xanh là nói về chính trị, gạch đỏ là nói về chữ nghĩa”.
Quan điểm thứ hai về cách đọc sách của Bác Hồ là phải suy nghĩ kỹ, không nhất thời tin tưởng một cách mù quáng; đọc phải nắm cốt lõi và cái thần của tác phẩm, đồng thời biết đánh giá ưu khuyết điểm; muốn làm được người đọc phải có kiến thức rộng cùng khả năng phân tích và tổng hợp. Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5”, của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, có đề cập đến quan điểm của Bác không đồng tình về việc “thuộc lòng từng câu, từng chữ, để đem lòe thiên hạ”.
Thứ ba là Bác tán thành quan điểm của học giả Lê Quý Đôn: “Đọc sách không cần nhiều, đọc được một chữ đem áp dụng được một chữ, thế là được”. Với Bác là áp dụng những điều đã đọc vào thực tế cuộc sống rất quan trọng, bởi “dù xem được hàng ngàn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách”. Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ phương pháp đọc sách và vận dụng vào thực tế thông qua tác phẩm “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác- Lênin”, Bác Hồ viết: “Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin nhưng vận dụng một cách có sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng ta đã chiến đấu và giành được thắng lợi như các đồng chí đã biết”.
(Dẫn theo “Đọc sách theo tấm gương Bác Hồ”, Hồ Minh,
Báo Vĩnh Long online, số ra 23/05/2020)
Thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Để làm sáng tỏ luận đề, trong đoạn (4) tác giả đã triển khai luận điểm nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn (3).
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu gì về thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề trên?
Câu 5. (1,0 điểm) Bài học nào từ văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nghĩ về bài thơ “Bàn giao” của nhà thơ Vũ Quần Phương.
BÀN GIAO
Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
Bàn giao gió heo may
Bàn giao góc phố
Có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả
Sương muối đêm bay lạnh mặt người
Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
Cỏ mùa xuân xanh dưới gót giầy
Bàn giao những mặt người đẫm nắng
Đẫm yêu thương trên Trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
Câu thơ vững gót làm người ấy (1)
Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.
(Vũ Quần Phương(2))
Chú thích
1. Ý thơ được lấy từ câu thơ “Cắn răng mà chịu đựng, vững gót để làm người”.
2. Vũ Quần Phương sinh ngày 8/9/1940, tên thật là Vũ Ngọc Chúc, bút danh khác còn có Ngọc Vũ, Phương Viết, quê Nam Định. Ông là bác sĩ y khoa đồng thời là nhà thơ, nhà phê bình văn học, trưởng ban biên tập văn học của NXB Văn học, chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, tổng biên tập báo Người Hà Nội, chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam, phó tổng biên tập tạp chí Văn chương Việt Nam bằng tiếng Pháp.
* Nhà thơ Vũ Quần Phương viết bài này vào tháng 11/2003. Ông viết cho mình, về mình nhưng cũng là viết cho những người ông đang đi gần đến cuối cuộc đời…
Câu 2. (4,0 điểm)
Hiện nay, một số bạn học sinh nhất là học sinh lớp 9 vẫn chưa xác định được rõ mục tiêu học tập. Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết trên.
----------------- HẾT -----------------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
(Hướng dẫn chấm có 03 trang)
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Đáp án - Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh, tránh chỉ quan tâm ý mà cho điểm một cách đơn thuần, trên cơ sở bám sát biểu điểm và từng bài làm cụ thể của học sinh, giám khảo chủ động, linh hoạt trong vận dụng tiêu chí cho điểm. Tôn trọng và khuyến khích những bài làm sáng tạo, độc đáo, giàu cảm xúc.
Trong trường hợp thí sinh tổ chức bài làm theo cách riêng nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đáp án thì vẫn cho điểm như Đáp án - Hướng dẫn chấm. Điểm từng câu không làm tròn. Điểm bài thi bằng tổng điểm các câu, không làm tròn.
B. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Luận đề: Bàn về tấm gương đọc sách báo và những phương pháp đọc sách hiệu quả của Bác Hồ. |
0,5 |
|
2 |
Luận điểm: Bác tán thành quan điểm của học giả Lê Quý Đôn: “Đọc sách không cần nhiều, đọc được một chữ đem áp dụng được một chữ, thế là được”. |
0,5 |
|
|
3 |
- Bằng chứng trong đoạn (3): Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5”, của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, có đề cập đến quan điểm của Bác không đồng tình về việc “thuộc lòng từng câu, từng chữ, để đem lòe thiên hạ”. - Vai trò: + Giúp cho lập luận chặt chẽ, logic, giàu sức thuyết phục, tăng độ tin cậy cho bài viết. + Tập trung làm sáng tỏ luận điểm: đọc sách...là phải suy nghĩ kỹ, không nhất thời tin tưởng một cách mù quáng;... Từ đó góp phần làm nổi bật luận đề: tấm gương đọc sách báo và những phương pháp đọc sách hiệu quả của Bác Hồ . |
0,25 0,25 0,5 |
|
|
4 |
Thái độ của tác giả: - Ca ngợi trân trọng tấm gương đọc sách, và các phương pháp đọc sách hiệu quả của Bác. - Trân trọng giá trị của sách, đề cao vai trò của sách trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, cũng như trong cuộc sống con người nói chung. - Mong muốn mỗi chúng ta học tập tấm gương đọc sách của Bác, tìm cho mình phương pháp đọc sách hiệu quả để tiếp thu nhiều tri thức trong cuộc sống. |
1,0 |
|
|
5 |
- Hs nêu một bài học phù hợp với nội dung của văn bản. (Có thể theo hướng: Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của sách trong cuộc sống; chịu khó đọc và tìm hiểu sách…) - Lí giải một cách hợp lí, thuyết phục. |
1,0 |
|
|
II |
1 |
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về bài thơ “Bàn giao” của nhà thơ Vũ Quần Phương. |
2,0 |
|
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn: Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp. |
0,25 |
|
|
|
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Xác định đúng nội dung đoạn văn: Cảm nhận về bài thơ “Bàn giao” của nhà thơ Vũ Quần Phương. |
0,25 |
|
|
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của đoạn văn: * Xác định được các ý phù hợp để tập trung làm rõ nội dung đoạn văn, sau đây là một số gợi ý: - Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ. - Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật: + Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp...) của bài thơ: tình cảm dạt dào, tấm lòng yêu thương của người ông dành cho cháu mình, đó cũng là tình cảm của thế hệ đi trước muốn dành cho thế hệ đi sau. + Ông muốn bàn giao cho cháu những gì là thân thuộc của thiên nhiên, của mảnh đất nơi ông cháu ta gắn bó. + Ông muốn bàn giao cho cháu hình ảnh của những người nghĩa tình, giàu lòng nhân ái mà cháu sẽ gặp trên đường đời của mình. + Ông muốn bàn giao cả cho cháu cả những cung bậc cảm xúc vui buồn của cuộc sống để lấy đó làm động lực cho cháu “vững gót làm người” + Ông không muốn bàn giao cho cháu những lầm than cơ cực, tháng ngày vất vả... (HS lựa chọn một số hình ảnh thơ và phân tích để làm rõ cho cảm nhận trên) + Cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật: hình ảnh mộc mạc, giản dị; phép tu từ điệp ngữ (bàn giao)...và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tự do trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ. - Khái quát cảm nghĩ về bài thơ. * Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. |
0,5 |
|
|
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định. - Trình bày rõ cảm nghĩ và hệ thống các ý. - Sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nghĩ về bài thơ. |
0,5 |
|
|
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0,25 |
|
|
|
|
e. Sáng tạo Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về bài thơ; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
|
|
2 |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết: hiện nay một số bạn học sinh nhất là học sinh lớp 9 vẫn chưa xác định được rõ mục tiêu học tập. |
4,0 |
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hiện nay một số bạn học sinh nhất là học sinh lớp 9 vẫn chưa xác định được rõ mục tiêu học tập. |
0,5 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết - Xác định được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận Xác định mục tiêu trong học tập là quá trình nhận thức và lựa chọn những gì mình muốn đạt được trong tương lai. Đối với học sinh, nhất là HS lớp 9, mục tiêu học tập có thể là đạt điểm cao, đỗ vào trường THPT, vào đại học mơ ước, hoặc đơn giản là hiểu sâu kiến thức. - Thể hiện quan điểm của người viết , có thể theo một số gợi ý sau: + Hiện nay, nhiều học sinh vẫn còn mơ hồ về mục tiêu của mình. Các em học tập và sống theo quán tính, không có định hướng rõ ràng, dẫn đến việc lãng phí thời gian, công sức, và tiềm năng. Một số em lại đặt ra những mục tiêu quá cao hoặc không phù hợp với khả năng, dẫn đến thất vọng và chán nản. + Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên: do áp lực từ gia đình và xã hội, khiến học sinh không có đủ thời gian để suy nghĩ về những gì mình thực sự muốn; do thiếu thông tin và định hướng từ nhà trường và người lớn; do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và mạng xã hội cũng khiến học sinh mất tập trung vào những mục tiêu. + Việc không xác định được mục tiêu đúng đắn có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực. Học sinh có thể trở nên mất phương hướng, thiếu động lực học tập, và dễ bị lôi kéo vào những hoạt động không lành mạnh. Về lâu dài, việc này có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp, hạnh phúc, và chất lượng cuộc sống của các em. * Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện. Một số người cho rằng việc đặt mục tiêu quá sớm có thể hạn chế sự phát triển tự nhiên của học sinh. + Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục . Có thể theo hướng Bản thân: cần ý thức được vai trò của việc xác định mục tiêu học tập với việc học cũng như tương lai, cuộc sống mỗi người. Thường xuyên dành thời gian suy ngẫm về bản thân, những điều mình yêu thích, giỏi giang và mong muốn đạt được. Tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ để trải nghiệm và khám phá bản thân... Bằng chứng... Gia đình: Cha mẹ tăng cường giáo dục con cái, định hướng mục tiêu cùng con... Bằng chứng... Cộng đồng xã hội: đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc xác đinh mục tiêu học tập... Bằng chứng... * Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. Lưu ý : Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, có cách diễn đạt tương đương tập trung làm rõ vấn đề nghị luận, có lập luận và lý giải hợp lý phù hợp với chuẩn mực đạo đức pháp luật vẫn cho điểm tối đa. |
1,0 |
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,5 |
||
|
Tổng điểm |
10,0 |
||
|
ĐỀ 35 |
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2025-2026 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) |
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Chúng ta đang sống trong một thế giới bị sự dễ dàng cám dỗ. Ta muốn vẻ bề ngoài khỏe mạnh và cân đối, nhưng lại không muốn luyện tập để đạt được nó. Ta muốn thành công trong sự nghiệp nhưng lại tự nhủ giá như có một cách nào đó để thành công mà không phải làm việc vất vả và tuân theo kỉ luật. Ta ước mơ có một cuộc đời tràn đầy niềm vui, không nỗi sợ nhưng lại thường xuyên né tránh các biện pháp hiệu quả nhất (như dậy sớm, chấp nhận rủi ro, lập mục tiêu, đọc sách), những điều chắc chắn sẽ đưa ta đến ý tưởng của mình. Chẳng có gì miễn phí. Chẳng có buổi tiệc nào là buổi chiêu đãi. Điều tốt đẹp trong đời luôn đòi hỏi sự hi sinh và tận hiến. Mỗi chúng ta, để đạt tới một con người duy nhất và vượt trội trong nghề nghiệp đều phải trả giá...
Cuộc đời vĩ đại không từ trên trời rơi xuống. Mà phải được đẽo gọt và xây dựng. Như đền Taj Mahal, như Vạn Lý Trường Thành ngày qua ngày, viên gạch này nối tiếp viên gạch khác. Thành công đâu tự nhiên mà có. Chúng đến từ những nỗ lực và phát triển liên tục không ngừng. Đừng rơi vào ảo tưởng rằng cuộc đời tốt đẹp sẽ đến mà không cần nỗ lực. Hãy nỗ lực hết mình, và điều tốt đẹp sẽ đến với bạn.
(Theo Đời ngắn, đừng ngủ dài - Robin Sharma, NXB Trẻ, tr. 180)
Thực hiện yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Vấn đề nghị luận đặt ra trong văn bản là gì? Xác định câu nêu luận đề của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, những biện pháp giúp con người có một cuộc đời tràn đầy niềm vui, không nỗi sợ hãi là gì?
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu gì về thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề trên?
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc sử dụng trong đoạn văn: Ta muốn vẻ bề ngoài khỏe mạnh và cân đối, nhưng lại không muốn luyện tập để đạt được nó. Ta muốn thành công trong sự nghiệp nhưng lại tự nhủ giá như có một cách nào đó để thành công mà không phải làm việc vất vả và tuân theo kỉ luật.”
Câu 5 (1,0 điểm). Bài học sâu sắc nhất em rút ra từ văn bản? Lí giải vì sao?
II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn thơ sau:
“Làng Nủ mình đâu rồi bố ơi?
Mẹ và các em con cũng đâu rồi hả bố?
Sao bố con mình cùng lấm lem bùn lũ?
Đây là đâu mà mịt mù thế này?
Không thể nào con cựa được chân tay
Không thở được, mũi mồm toàn bùn đất
Có phải bố đấy không mà ôm con rất chặt?
Tỉnh lại đi bố ơi! Đưa con trở về nhà!
Trường của con vừa khai giảng hôm qua
Con sung sướng ngày đầu tiên đi học
Chưa biết tên bạn bè, nhiều đứa còn dỗi khóc
Sao ở đây giờ chỉ thấy bùn?
Con muốn về nhà, về làng Nủ yêu thương
Muốn đi học, đón Trung thu cùng bạn
Không muốn ở đây dưới đất này lạnh lắm
Bố tỉnh lại đi…đưa con về!”
[…]
(Trích: “Xin trả lại con làng Nủ”, Đỗ Xuân Thu – Trung thu 2024)
* Chú thích: Đỗ Xuân Thu là một trong những tác giả viết nhiều sách nhất trong số hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay với trên 30 đầu sách ở nhiều thể loại khác nhau, nổi bật nhất là thơ ca. Thơ ông đằm thắm, giản dị, nhiều xúc cảm với những tiếc nuối dịu ngọt.
Câu 2 (4,0 điểm). Trong tình hình hiện nay, khi đối diện với kỳ thi vào lớp 10 THPT, không ít học sinh lớp 9 vì chưa thực sự tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp với mình nên kết quả đạt được không như mong đợi. Hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết trên.
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
4,0 |
|
|
1 |
Vấn đề nghị luận đặt ra trong văn bản là: Sự nỗ lực của con người trong cuộc sống Xác định câu nêu luận đề của văn bản. “Hãy nỗ lực hết mình, và điều tốt đẹp sẽ đến với bạn.” |
0,5 |
|
2 |
Theo tác giả, những biện pháp giúp con người có 1 cuộc đời tràn đầy niềm vui không nỗi sợ hãi là: dậy sớm, chấp nhận rủi ro, lập mục tiêu, đọc sách |
0,5 |
|
|
3 |
Thái độ của tác giả: - Đề cao vai trò và ý nghĩa của tinh thần cố gắng và sự nỗ lực trong cuộc sống. - Ngợi ca những người luôn nỗ lực, quyết tâm, bền bỉ vượt qua khó khăn, nghịch cảnh để chinh phục ước mơ. - Mong muốn mọi người hãy luôn vững tin, mạnh mẽ đối diện với thử thách, không ngừng học tập và không ngừng cố gắng dù kết quả như thế nào |
1,0 |
|
|
4 |
- Điệp cấu trúc: “Ta muốn…nhưng….” - Tác dụng: + Cấu trúc điệp tạo nên nhịp điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, cân đối, hài hòa cho câu văn, tạo sự liên kết chặt chẽ cho lập luận + Nhằm nhấn mạnh những điều ta muốn mà không có hành động cố gắng để thực hiện thì mãi mãi nó chỉ tồn tại trong mơ ước chứ không bao giờ trở thành hiện thực. + Khuyên chúng ta muốn thành công thì phải nỗ lực luyện tập , vượt qua mọi khó khăn, thử thách. |
1,0 |
|
|
5 |
HS lựa chọn quan điểm với mình và đưa ra lý giải cho phù hợp Gợi ý:
+ Cuộc đời không ai cho không ai cái gì cả, tất cả thành công đều đến từ sự cố gắng, nỗ lực. + Chỉ làm việc hết khả năng, tâm huyết, con người mới có thể thực hiện được điều mình mong muốn, mới nhận được thành quả xứng đáng.
+ Cuộc đời không bao giờ là dễ dàng. Con người luôn phải đối diện với những khó khăn thử thách. + Chỉ có nghiêm khắc với chính mình con người mới trưởng thành, mới rèn luyện được bản lĩnh để thực hiện được điều mình mong muốn |
1,0 |
|
|
II |
|
LÀM VĂN |
6,0 |
|
|
1 |
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn thơ |
2,0 |
|
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một đọạn thơ thuộc bài thơ “Xin trả lại con làng Nủ”, Đỗ Xuân Thu. |
0.25 |
||
|
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Xác định đúng nội dung đoạn văn: Cảm nghĩ sau khi đọc xong đoạn thơ thuộc bài thơ “Xin trả lại con làng Nủ”, Đỗ Xuân Thu |
0,25 |
||
|
c. Triển khai nội dung bài viết thành đoạn văn, đảm bảo nội dung cơ bản sau: * Mở đoạn: - Giới thiệu nhan đề, tác giả và cảm nghĩ về đoạn thơ. * Thân đoạn:
+ Câu thơ “Trường của con vừa khai giảng hôm qua / Con sung sướng ngày đầu tiên đi học.” đã một lần nữa khắc họa sự đau xót đến nghẹn ngào khi hình ảnh các em thơ mới hôm qua còn vui vẻ, hân hoan đến trường thể thực hiện ước mơ của cuộc đời thì trong bỗng chốc thiên tai ập xuống, đã cướp đi và vùi lấp tất cả. Những đứa trẻ vô tội đã không thể thực hiện được ước mơ của mình. + Khổ thơ cuối thể hiện mong ước, khát khao của những đứa trẻ làng Nủ “muốn về nhà, về làng Nủ yêu thương, muốn đi học, đón Trung thu cùng bạn.” Những ước muốn thật giản dị, thân thương nhưng giờ đây đã mãi không còn nữa. => Đoạn thơ trên đã một lần nữa chạm đến trái tim người đọc về những đau thương, mất mát mà người dân làng Nủ đã phải gánh chịu trong đợt thiên tai vừa qua. Khai thác chủ đề về những đau thương, mất mát trong mùa mưa lũ, sạt lở đất, tác giả Đỗ Xuân Thu đã thành công khi khắc họa hình ảnh những đứa trẻ thơ bé bỏng, non nớt đã không còn nữa và những ước mơ, những khao khát nhỏ bé của các em đã mãi mãi khép lại từ đây. - Phân tích những nét nghệ thuật độc đáo được sử dụng trong đoạn thơ. + Sử dụng thể thơ tự do đã giúp tác giả bộc lộ cảm xúc một cách rõ nét, đầy đủ và trọn vẹn. + Sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, có giá trị biểu cảm cao. + Tác giả rất tinh tế khi sử dụng rất nhiều câu hỏi tu từ, câu cảm thán để bộc lộ trực tiếp cảm xúc. Đồng thời, các biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê…được sử dụng hiệu quả khi khắc họa thảm cảnh đáng thương do thiên tai gây ra * Kết đoạn: - Khẳng định lại cảm nghĩ về bài thơ, ý nghĩa của nó đối với người đọc. Lưu ý: Học sinh có thể ghi lại những cảm xúc của cá nhân mình về đoạn thơ. GV chấm linh hoạt dựa trên bài làm của học sinh. |
0,5 |
||
|
|
|
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
|
0,5 |
|
|
2 |
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết hiện nay: học sinh lớp 9 chưa thực sự tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp với mình vì thế kết quả không đạt được như mong đợi. |
4,0 |
|
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội |
0,25 |
||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: học sinh lớp 9 chưa thực sự tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp với mình vì thế kết quả không đạt được như mong đợi. |
0,25 |
||
|
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
|
1,5 |
||
+ Việc chưa tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp với đang trở thành một vấn đề ngày càng phổ biến ở học sinh lớp hiện nay. Đó không còn chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là vấn đề của xã hội. + Nguyên nhân thực trạng trên xuất phát từ những áp lực học tập, kỳ vọng của gia đình, những yêu cầu đổi mới giáo dục… + Chưa tìm ra phương pháp học tập hiệu quả và phù hợp sẽ dẫn đến hao tốn thời gian, sức khỏe, và kết quả học tập không đạt được như mong muốn,... + Một số quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện… + Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục . Có thể theo hướng Bản thân: cần ý thức được sự cần thiết của việc có phương pháp học tập hiệu quả, xác định rõ mục tiêu học tập, có kế hoach học tập cụ thể và cố gắng nỗ lực mỗi ngày… Gia đình: quan tâm, động viên, nhắc nhở... Nhà trường:định hướngvà thúc đấy học sinh tự giác, tích cực học tập, tăng cường quản lý nề nếp học tập, nhắc nhở, động viên khen thưởng kịp thời… * Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân. Lưu ý: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, có cách diễn đạt tương đương tập trung làm rõ vấn đề nghị luận, có lập luận và lý giải hợp lý phù hợp với chuẩn mực đạo đức pháp luật vẫn cho điểm tối đa. |
|
||
|
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
1,5 |
||
|
đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0,25 |
||
|
e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
0,25 |
Copyright © nguvan.online
