Nơi tổng hợp tài liệu chất lượng
Đồng hành cùng bạn trên hành trình chinh phục và chạm đến cánh cửa điểm 9, điểm 10.
Nơi hội tụ kiến thức về môn Ngữ Văn – từ cơ bản đến nâng cao.
Tổng hợp các tài liệu hay, phân tích sâu, bài mẫu chuẩn.
Xây dựng kho dữ liệu được nhiều thế hệ học sinh, thầy cô giáo tin tưởng và đánh giá cao.
25 Đề Đọc Hiểu Văn 7 Kết Nối Tri Thức Ngoài Chương Trình Có Đáp Án
ĐỀ ĐỌC HIỂU ÔN TẬP – NGỮ VĂN LỚP 7 HỌC KÌ I
NGỮ LIỆU NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH SGK
BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC
MỤC LỤC
STT | THỂ LOẠI | NỘI DUNG | TRANG |
1 | TRUYỆN NGẮN | Lưu ý cách đọc hiểu thể loại | 2 |
Đề số 1 | 2 | ||
Đề số 2 | 5 | ||
Đề số 3 | 8 | ||
Đề số 4 | 12 | ||
Đề số 5 | 15 | ||
2 | THƠ BỐN CHỮ, THƠ NĂM CHỮ | Lưu ý cách đọc hiểu thể loại | 18 |
Đề số 1 | 20 | ||
Đề số 2 | 23 | ||
Đề số 3 | 26 | ||
Đề số 4 | 29 | ||
Đề số 5 | 33 | ||
3 | NGHỊ LUẬN VĂN HỌC | Lưu ý cách đọc hiểu thể loại | 35 |
Đề số 1 | 36 | ||
Đề số 2 | 41 | ||
Đề số 3 | 45 | ||
Đề số 4 | 50 | ||
Đề số 5 | 54 | ||
4 | TRUYỆN KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG | Lưu ý cách đọc hiểu thể loại | 59 |
Đề số 1 | 60 | ||
Đề số 2 | 63 | ||
Đề số 3 | 67 | ||
Đề số 4 | 71 | ||
Đề số 5 | 74 | ||
5 | TẢN VĂN, TÙY BÚT | Lưu ý cách đọc hiểu thể loại | 76 |
Đề số 1 | 77 | ||
Đề số 2 | 81 | ||
Đề số 3 | 85 | ||
Đề số 4 | 90 | ||
Đề số 5 | 94 |
- Đọc kĩ văn bản, nhận biết được các yếu tố của truyện (ngôi kể, các nhân vật trong truyện, cốt truyện, lời người kể chuyện, lời nhân vật…)
- Đọc kĩ văn bản, suy nghĩ về đề tài, nội dung của truyện.
- Truyện mang đến cho người đọc những nhận thức gì, những hiểu biết gì về cuộc sống.
- Xác định tính cách nhân vật trong truyện ngắn thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ, tính cách của nhân vật, qua nhận xét của nhân vật khác trong truyện.
- Truyện mang lại thông điệp gì cho người đọc.
- Liên hệ bản thân (nếu có)
Đề số 1:
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ, giận mẹ nhưng không thể xúc phạm một cách trực tiếp, cậu chạy đến một thung lũng cạnh một khu rừng rậm. Cậu lấy hết sức mình và thét lên: “Tôi ghét người”. Cậu ngạc nhiên vô cùng vì từ khu rừng có tiếng vọng lại: “Tôi ghét người”. Cậu hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở. Cậu không thể hiểu được từ trong rừng đã có người thù ghét cậu.
Người mẹ nắm tay đưa cậu trở lại khu rừng và bảo cậu hãy hét lên: “Tôi yêu người”. Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì cũng có người nói vọng lại: “Tôi yêu người”. Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì người đó gặt bão. Nếu con thù ghét người, thì người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thương người, thì người cũng sẽ yêu thương con”.
Hận thù lúc nào cũng kéo theo hận thù, bạo động lúc nào cũng sinh ra bạo động. Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu. Bạo động và hận thù không thể là phương thế để cải tạo xã hội. Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người. Bạn hãy sống cao thượng. Bạn hãy lấy tình yêu để đáp trả lại hận thù. Tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương lúc nào cũng là tiếng vọng của bình an tự trong đáy tâm hồn chúng ta.
(Tiếng vọng rừng sâu - Nguồn Internet)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là:
Câu 2. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 3. Khi giận mẹ cậu bé đã làm gì?
Câu 4. Nêu tác dụng của dấu ngoặc kép trong các câu: Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì người đó gặt bão. Nếu con thù ghét người, thì người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thương người, thì người cũng sẽ yêu thương con”.
Câu 5. Nội dung chính của văn bản trên là gì?
Câu 6. Vì sao, khi vào rừng cậu bé lại hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở?
Câu 7. Câu chuyện trên khuyên chúng ta nên có lối sống như thế nào?
Câu 8. Theo người viết, tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương là:
Câu 9. Trong câu chuyện trên, người mẹ đã nói với con về định luật gì trong cuộc sống?
Câu 10. Thông điệp mà văn bản muốn truyền tải là gì?
GỢI Ý TRẢ LỜI
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3.C | 4.B | 5.D | 6.A | 7.D | 8.B |
Câu 9. Định luật trong cuộc sống mà người mẹ đã nói với con:“Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió ắt gặp bão. Nếu con thù ghét người thì người cũng thù ghét con. Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con”
Câu 10. Thông điệp: Con người nếu cho đi điều gì sẽ nhận lại được những điều như vậy. Hãy cho đi điều tốt đẹp sẽ nhận được điều tốt đẹp.
Đề số 2:
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CON SẺ
Tôi đi dọc lối vào vườn. Con chó chạy trước tôi. Chợt nó dừng chân và bắt đầu bò, tuồng như đánh hơi thấy vật gì. Tôi nhìn dọc lối đi và thấy một con sẻ non mép vàng óng, trên đầu có một nhúm lông tơ. Nó rơi từ trên tổ xuống.
Con chó chậm rãi lại gần. Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó. Lông sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt vọng và thảm thiết. Nó nhảy hai ba bước về phía cái mõm há rộng đầy răng của con chó.
Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con. Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữ và khản đặc. Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ. Nó sẽ hi sinh. Nhưng một sức mạnh vô hình vẫn cuốn nó xuống đất.
Con chó của tôi dừng lại và lùi… Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh. Tôi vội lên tiếng gọi con chó đang bối rối ấy tránh ra xa, lòng đầy thán phục.
Vâng, lòng tôi đầy thán phục, xin bạn đừng cười. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước con chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia, trước tình yêu của nó.
(Theo I. Tuốc-ghê-nhép)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là:
Câu 2. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 3. Khi đi vào vườn, nhân vật “tôi” nhìn thấy điều gì?
Câu 4. Câu văn “Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ.” sử dụng biện pháp tu từ gì?
Câu 5. Đề tài của văn bản là:
C. Miêu tả cuộc sống của con chim sẻ.
D. Lòng nhân hậu của con người.
Câu 6. Vì sao con chó đột ngột dừng lại không vồ tới con sẻ non nữa?
Câu 7. Hành động của nhân vật chim sẻ già cho thấy điều gì?
Câu 8. Phó từ sẽ trong câu “Nó sẽ hi sinh.” bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 9. Vì sao nhân vật tôi lại cảm thấy “lòng đầy thán phục”?
Câu 10. Theo em, ý nghĩa của câu chuyện này là gì?
GỢI Ý TRẢ LỜI
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3.D | 4.D | 5.A | 6.C | 7.B | 8. D |
Câu 9. Nhân vật tôi lại cảm thấy “lòng đầy thán phục” vì:
- Thấy được sự dũng cảm và sức mạnh của con sẻ nhỏ bé trước con chó lớn hơn nó nhiều lần.
- Cảm phục trước tình mẫu tử thiêng liêng, sẵn sàng quên mình để cứu con của sẻ già.
Câu 10. Ý nghĩa của câu chuyện: Ca ngợi hành động dũng cảm, xả thân cứu sẻ non của sẻ già. Qua đó nhắc nhở chúng ta về tình mẫu tử thiêng liêng trong cuộc sống.
Đề số 3:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“...Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. Chúng như biết cái phận nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và khinh khỉnh như các em họ của Sơn.
Thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc sán gần giương đôi mắt ngắm bộ quần áo mới của Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại, và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.
Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tắc lưỡi, nói:
- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít, chúng mày nhỉ.
Đứa khác nói:
- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất.
Con Túc ngây ngô giương đôi mắt lên hỏi Sơn:
- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?
Sơn ưỡn ngực đáp:
- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn nữa kia.
Chị Lan bỗng giơ tay vẫy một con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:
- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.
Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại, bước gần đến trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:
- Sao áo của mày rách thế Hiên, áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu xịu nói:
- Hết áo rồi, chỉ còn cái này.
- Sao không bảo u mày may cho?
Sơn bây giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nói với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:
- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.
- Ừ, phải đấy. Để chị về lấy.
Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui”…
(Trích Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam)
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Đoạn trích trên có những nhân vật chính nào?
Câu 3. Câu nào sau đây là lời của nhân vật ?
Câu 4. Thái độ của chị em Sơn với những đứa trẻ trong xóm chợ là:
Câu 5. Nhân vật Hiên được miêu tả như thế nào?
Câu 6. Khi thấy Hiên chỉ mặc một cái áo rách, Sơn đã có ý nghĩ gì?
Câu 7. Phó từ trong câu Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nói với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà.” là:
Câu 8. Khi chị Lan chạy về nhà lấy áo cho Hiên, Sơn cảm thấy như thế nào?
Câu 9: Qua đoạn trích, em cảm nhận được nhân vật Sơn và chị Lan là người như thế nào?
Câu 10. Em đã gặp tình huống tương tự Sơn và chị Lan chưa. Nếu là em, trong hoàn cảnh đó em sẽ làm gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.C |
| 3.C | 4.A | 5. D | 6.B | 7.C | 8.B |
Câu 9: Qua đoạn trích, em cảm nhận được nhân vật Sơn và chị Lan là những người tốt bụng, trong sáng và giàu tình yêu thương.
Câu 10. HS trả lời theo trải nghiệm và suy nghĩ của bản thân.
Đề số 4:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Rét dữ dội. Tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối.
Lúc ra khỏi nhà em có đi giày vải, nhưng giày vải phỏng có tác dụng gì kia chứ!
Giày ấy của mẹ em để lại, rộng quá em đã liên tiếp làm văng mất cả hai chiếc khi em chạy qua đường, vào lúc hai chiếc xe ngựa đang phóng nước đại.
Chiếc thứ nhất bị xe song mã nghiến, rồi dính theo tuyết vào bánh xe; thế là mất hút. Còn chiếc thứ hai, một thằng bé lượm được, cười sằng sặc đem tung lên trời. Nó còn nói với em bé rằng nó sẽ giữ chiếc giày để làm nôi cho con chó sau này.
Thế là em phải đi đất, chân em đỏ ửng lên rồi tím bầm lại vì rét.
Chiếc tạp dề cũ kĩ của em đựng đầy diêm và tay em còn cầm thêm một bao.
Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em.
Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, bụng đói cật rét, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý.
Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sự nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội hiền hậu của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng Thần Chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán, và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa.
Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi vào chút ít.
Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.
Tuy nhiên, em không thể nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em.
(Trích Cô bé bán diêm – An-đéc-xen)
Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2: Nhân vật chính trong đoạn trích là ai?
Câu 3: Nội dung chính của đoạn trích trên là:
Câu 4: Cuộc sống của nhân vật cô bé bán diêm thể hiện qua những chi tiết nào?
Câu 5. Khi thấy cô bé bán diêm trong đêm giao thừa, thái độ của người đi đường như thế nào?
Câu 6: Vì sao thời tiết rét dữ dội nhưng cô bé bán diêm không dám trở về nhà?
Câu 7. Đoạn trích trên giúp em hình dung ra hoàn cảnh sống của nhân vật như thế nào?
Câu 8. Phó từ “vẫn” trong câu “Em bé đáng thương, bụng đói cật rét, vẫn lang thang trên đường.”bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 9. Đoạn trích được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để khắc họa làm nổi bật nhân vật?
Câu 10. Theo em, tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản là gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.A | 3.B | 4.D | 5.C | 6.A | 7.B | 8.A |
Câu 9. Đoạn trích được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đối lập – tương phản để khắc họa làm nổi bật nhân vật em bé bán diêm trong đêm giao thừa.
Câu 8: Theo em, tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản thể hiện sự thương xót, cảm thông cho số phận của đứa trẻ nghèo.
Đề số 5
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Hà lân la đến làm quen với ông họa sĩ.
- Ông ơi! Sông quê cháu nước trong ông nhỉ?
Trong, đẹp lắm cháu ạ, cháu lại đây trông ông vẽ có giống không?
- Ôi! Giống quá, mà ông… ông còn cho nó chở bao nhiêu là thứ, ông có vẽ được hoa này không?
Từ nãy đến giờ đến bên ông. Hà cầm sẵn một cành hoa mận trong tay màu trắng tinh ngắt ở trước sân nhà. Hà giơ lên cho ông họa sĩ:
- Ông vẽ nó vào đi ông, ông vẽ nữa, cháu ngắt cho ông. Hay cháu dẫn ông đi, quê cháu nhiều hoa đẹp lắm cơ ông ạ.
Họa sĩ một mình lặng lẽ ngồi vẽ từ sáng, giờ có cô bạn nhỏ đến, ông thấy vui hơn. Hai ông cháu dắt nhau ra dọc bờ sông tìm các loại hoa. Hoa nào Hà cũng có một câu chuyện riêng về nó để kể cho ông nghe.
- Hoa cải vùng này ông ạ, cháu thích lắm nhưng mẹ cháu không cho hái, mẹ nói để nó đậu quả mà làm giống. Làm giống làm gì ông nhỉ? Cháu thì cháu thích nó vàng tươi để ong đến hút mật thích lắm cơ. Ông đã thấy ong đậu hoa cải bao giờ chưa?
- Ong đậu trên các loại hoa, công việc của nó cũng giống như cháu quét nhà trông em cho mẹ ấy.
- Ông có biết hoa bèo này không ông? Cháu thích màu tím bồng bồng trên nước lắm, cơ mà mẹ cháu lại chúa ghét.
- Vì sao?
- Vì ra hoa là bèo già rồi phải không ông – mẹ bảo bèo già lợn ăn không ngon, lợn nhai mỏi răng lắm…
Cứ thế hai ông cháu hết đi lại ngồi.
Một lần họa sĩ giăng tấm bản vẽ bồi giấy trắng ra. Hà như bị thu hút vào đấy hết.
Họa sĩ gật đầu. Ông hiểu ý của Hà nhiều hơn bé nói. Ông nhớ lại đã bao nhiêu lần ông đặt giá vẽ lên bãi sông này. Và ông đã gặp bao nhiêu cô, chú bé. Có điều là mỗi cô, chú bé đến với ông bằng một cách. Và mỗi đứa cũng rủ rỉ với ông bằng một chuyện khác nhau. Thường thì các chú bé thích được ông cho cầm bút vẽ lên giấy. Riêng bé Hà không thế. Bé dẫn chuyện và kể với ông những điều làm ông thích thú đến tò mò. Cô bé có đôi mắt sáng và đôi môi chúm lại vừa kín đáo vừa ngây thơ.
(Trích Người họa sĩ già với chiếc áo hoa - Thúy Bắc)
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là:
Câu 3. Đoạn trích trên có những nhân vật chính nào?
Câu 4. Câu nói “Ông ơi! Cháu ước có chiếc áo hoa như thế này thì đẹp lắm ông nhỉ.”là lời của ai?
Câu 5. Em có nhận xét gì về tính cách của người họa sĩ?
Câu 6. Phó từ trong câu “Và ông đã gặp bao nhiêu cô, chú bé.” là:
Câu 7. Theo em, đề tài rõ nhất được nói đến trong đoạn trích là đề tài gì?
Câu 8. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu “Ong đậu trên các loại hoa, công việc của nó cũng giống như cháu quét nhà trông em cho mẹ ấy.” là gì?
Câu 9. Trong đoạn trích, ước mơ của bé Hà là gì. Em có suy nghĩ gì về ước mơ này?
Câu 10. Nhân vật bé Hà có điểm gì giống với em? Câu chuyện của bé Hà mang đến điều gì mà em thích nhất?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.C |
| 3.C | 4.B | 5.D | 6.B | 7.A | 8.C |
Câu 9. Trong đoạn trích, ước mơ của bé Hà là: ước có một chiếc áo hoa toàn thứ hoa ở quê của bé Hà. Chiếc áo có cành, lá và các loài vật.
Suy nghĩ của em về ước mơ này: ước mơ giản dị, nhỏ bé nhưng thể hiện tình cảm của bé Hà dành cho thiên nhiên, cho quê hương.
Câu 10. Nhân vật bé Hà có điểm gì giống với em? Câu chuyện của bé Hà mang đến điều gì mà em thích nhất? (Hs tự trình bày theo suy nghĩ của mình).
- Đọc bài thơ/ đoạn thơ để xác định được thể loại qua các yếu tố như số tiếng, số dòng, vần, nhịp.
- Thơ bốn chữ, năm chữ thường sử dụng nhịp nhanh, gấp gáp. Nên đánh giá tác dụng nhịp thơ đó trong việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả.
- Đọc kĩ bài thơ/ đoạn thơ để hình dung chủ thể trữ tình - người đang giãi bày, thổ lộ tình cảm trong thơ và cảm nhận ý thơ qua hình ảnh, từ ngữ…
- Xác định chủ đề của bài thơ/ đoạn thơ. Tìm hiểu ý nghĩa của hình ảnh và cấu trúc các hình ảnh trong việc thể hiện bức tranh thế giới trong bài thơ.
- Nhận biết và nêu từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật đặc sắc.
- Liên tưởng, tưởng tượng để hình dung thế giới xã hội, con người…được tác giả thể hiện qua ngôn ngữ thơ.
- Phân tích ngôn ngữ, hình ảnh thơ để khám phá nội dung, cảm xúc của nhân vật trữ tình. Suy nghĩ để cảm nhận tư tưởng, quan niệm của tác giả thể hiện qua nội dung của bài thơ/ đoạn thơ.
- Liên hệ bản thân (nếu có).
Đề số 1
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Khi đang là hạt
Cầm trong tay mình
Chưa gieo xuống đất
Hạt nằm lặng thinh.
Khi hạt nảy mầm
Nhú lên giọt sữa
Mầm đã thì thầm
Ghé tai nghe rõ.
Mầm tròn nằm giữa
Vỏ hạt làm nôi
Nghe bàn tay vỗ
Nghe tiếng ru hời ...
Khi cây đã thành
Nở vài lá bé
Là nghe màu xanh
Bắt đầu bập bẹ.
Rằng các bạn ơi
Cây chính là tôi
Nay mai sẽ lớn
Góp xanh đất trời.
(Lời của cây – Trần Hữu Thung)
Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Chủ đề của bài thơ là:
A. Bài thơ thể hiện tình yêu đối với những con vật đáng yêu
B. Bài thơ miêu tả về sự phát triển của cây.
C. Bài thơ nói về một lần về quê của tác giả.
D. Bài thơ thể hiện tình yêu thương, trân trọng những mầm xanh thiên nhiên.
Câu 3: Cách gieo vần của bài thơ là:
A. Gieo vần lưng mình-thinh; mầm-thầm
B. Gieo vần chân: mình-thinh; mầm-thầm.
C. Gieo vần liền: mình-thinh; mầm-thầm.
D. Gieo vần đặc biệt.
Câu 4: Hai câu thơ: Mầm đã thì thầm/Ghé tai nghe rõ” sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
A. So sánh.
B. Nói quá.
C. Nhân hóa.
D. Ẩn dụ.
Câu 5: Tác dụng của việc ngắt nhịp lẻ trong câu “ Rằng/các bạn ơi” là gì?
A. Nhấn mạnh vào khao khát của cây khi muốn được con người hiểu và giao cảm.
B. Làm cho bài thơ độc đáo hơn
C. Nhấn mạnh lời của tác giả.
D. Tăng hiệu quả trong giao tiếp.
Câu 6. Lời của tác giả được thể hiện trong những khổ thơ nào?
Câu 7. Phó từ trong câu thơ “Khi cây đã thành” là:
Câu 8. Trong bài thơ trên, thái độ, tình cảm của tác giả với cây là gì?
Câu 9. Quá trình sinh trưởng của cây được tác giả cảm nhận và miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ đặc sắc nào?
Câu 10. Theo em, thông điệp tác giả muốn gửi gắm qua văn bản là gì?
1.B | 2.D | 3.B | 4.C | 5.A | 6.C | 7.A | 8.D |
Câu 9. Quá trình sinh trưởng của cây được tác giả cảm nhận và miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ đặc sắc :
Hạt nằm lặng thinh 🡪 nhú lên giọt sữa, biết nói thì thầm
🡪 mầm tròn nằm giữa, vỏ hạt làm nôi🡪 kiêng gió, mưa, mầm mở mắt
🡪 Cây đã thành, nở vài lá bé 🡪 bắt đầu bập bẹ.
Câu 10. Thông điệp:
Hãy lắng nghe lời cỏ cây, loài vật để biết yêu thương, nâng đỡ sự sống ngay từ khi sự sống ấy mới là những mầm non bởi mỗi con người, sự vật, dù là nhỏ bé, đều góp phần tạo nên sự sống như hạt mầm góp màu xanh cho đất trời.
Đề số 2
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Sang thu – Hữu Thỉnh)
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Đặc điểm của thể thơ trên là gì?
Câu 3. Bài thơ trên sử dụng những phương thức biểu đạt nào?
Câu 4. Bài thơ này nói về khoảnh khắc giao mùa giữa:
Câu 5. Câu thơ “Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu” sửu dụng biện pháp nghệ thuật đặc sắc nào?
Câu 6. Phó từ trong câu thơ “Vẫn còn bao nhiêu nắng” là từ nào?
Câu 7. Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong câu “Chim bắt đầu vội vã” là gì?
Câu 8. Trong bài thơ trên, hình ảnh thiên nhiên vào thời điểm giao mùa có đặc điểm gì?
A. Sôi động, náo nhiệt
B. Bình lặng, ngưng đọng
Câu 9. Theo em, ý nghĩa của hai câu thơ cuối là gì?
Câu 10. Qua nội dung của bài thơ, chia sẻ cảm nhận của em về hình ảnh thiên nhiên lúc giao mùa.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3. D | 4.A | 5.C | 6.A | 7.D | 8.C |
Câu 9.
Hai câu thơ trên sử dụng biện pháp tu từ Ẩn dụ.
Ý nghĩa: Đất trời sang thu khiến lòng người cũng bâng khuâng, cảm xúc, gợi bao suy nghĩ về đời người lúc sang thu. Mùa thu đến không chỉ làm cho cảnh vật thay đổi mà suy nghĩ của con người cũng thay đổi. Con người từng trải sẽ vững vàng hơn trước những thử thách của cuộc đời.
Câu 10. HS chia sẻ theo cảm nhận của cá nhân.
Đề số 3
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay”
(Trích Ông đồ - Vũ Đình Liên)
Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Chủ đề của bài thơ là gì?
A. Khi hoa mai nở, báo hiệu mùa xuân đã đến.
B. Khi kì nghỉ hè đã đến và học sinh nghỉ học.
C. Khi phố phường tấp nập, đông đúc.
D. Khi mùa xuân về, hoa đào nở rộ.
Câu 3: Hình ảnh ông đồ trong đoạn thơ gắn bó với vật dụng nào dưới đây?
A. Chiếc cày, con trâu, tẩu thuốc.
B. Nghiên bút, mực tàu, giấy đỏ, bức liễn.
C. Bàn ghế, giáo án, học sinh.
D. Chiếc gậy, quẻ xâm, vật dụng bói toán.
Câu 4: Hai câu thơ: “Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay” nói lên điều gì?
A. Ông đồ vẽ hình rất đẹp.
B. Ông đồ viết văn rất hay.
C. Ông đồ có hoa tay, viết câu đối rất đẹp.
D. Ông đồ có nét chữ bình thường.
Câu 5: Ngày nay, cách viết chữ, câu đối, câu thơ trên các trang giấy thường được gọi là gì?
A. Nghệ thuật viết thư pháp.
B. Nghệ thuật vẽ tranh.
C. Nghệ thuật viết văn bản.
D. Nghệ thuật trang trí hình ảnh bằng bút.
Câu 6. Câu thơ “Hoa tay thảo những nét/Như phượng múa, rồng bay”sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
Câu 7. Phó từ trong câu thơ “Mỗi năm hoa đào nở” là:
Câu 8. Trong đoạn thơ trên, thái độ của mọi người với ông đồ như thế nào?
Câu 9. Cảnh và người ở hai khổ thơ trên hiện lên như thế nào?
Câu 10. Đoạn thơ trên nói về nét đẹp văn hóa của người Việt Nam vào ngày Tết. Đó là nét đẹp gì? Ghi lại suy nghĩ của em về nét đẹp văn hóa đó.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.B | 2.D | 3.B | 4.C | 5.A | 6.C | 7.A | 8.D |
Câu 9.
Cảnh và người ở hai khổ thơ trên hiện lên:
- Cảnh hiện lên phần đầu bài thơ: hoa đào nở, phố đông người =>không khí đông vui tấp nập của ngày Tết.
- Người hiện hiên phần đầu bài thơ: ông đồ già với mực tàu, giấy đỏ, bao nhiêu người thuê viết => hình ảnh gần gũi quen thuộc trong mỗi dịp Tết.
Câu 10. Đoạn thơ trên nói về nét đẹp văn hóa của người Việt Nam vào ngày Tết. Đó là tục “xin chữ” mỗi dịp Tết của nhân dân ta. Xin chữ đầu năm cũng là một cách để người ta thể hiện sự coi trọng đạo học. Viết chữ trên giấy đỏ để mong muốn một năm may mắn và nhiều tài lộc. Đây là một nét đẹp văn hóa nên được duy trì.
Đề số 4
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Con chim chiền chiện
Bay vút, vút cao
Lòng đầy yêu mến
Khúc hát ngọt ngào.
Cánh đập trời xanh
Cao hoài, cao vợi
Tiếng hót long lanh
Như cành sương chói.
Chim ơi, chim nói
Chuyện chi, chuyện chi?
Lòng vui bối rối
Đời lên đến thì...
Tiếng ngọc trong veo
Chim gieo từng chuỗi
Lòng chim vui nhiều
Hát không biết mỏi.
Chim bay, chim sà
Lúa tròn bụng sữa
Đồng quê chan chứa
Những lời chim ca.
Bay cao, cao vút
Chim biến mất rồi
Chỉ còn tiếng hót
Làm xanh da trời...
Con chim chiền chiện
Hồn xanh quê nhà
Sáng nay lại hót
Tưng bừng lòng ta.
(Con chim chiền chiện – Huy Cận)
Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Đặc điểm của thể thơ trên là gì?
Câu 3. Những từ ngữ và chi tiết nào làm nổi bật hình ảnh con chim chiền chiện tự do bay lượn giữa không gian cao rộng?
Chỉ còn tiếng hót / làm xanh da trời.
Câu 4. Chủ đề của bài thơ trên là gì?
Câu 5. Con chim chiền chiện bay lượn giữa khung cảnh thiên nhiên như thế nào?
Câu 6. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Tiếng hót long lanh/ Như cành sương chói là gì?
Câu 7. Dòng nào sau đây nêu đúng những từ ngữ trong bài miêu tả tiếng hót của chim chiền chiện?
Câu 8. Tiếng hót của chim chiền chiện gợi cho em những cảm giác như thế nào?
Câu 9. Ghi lại cảm nhận của em về hình ảnh “con chim chiền chiện” trong bài thơ.
Câu 10. Trong bài thơ, “con chim chiền chiện” không chỉ báo hiệu niềm vui mà còn góp phần bé nhỏ của mình làm cuộc sống thêm đẹp. Trong tương lai, em dự định sẽ làm gì để cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3. D | 4.D | 5.C | 6.A | 7.B | 8.D |
Câu 9. Cảm nhận của em về hình ảnh “con chim chiền chiện” trong bài thơ:
Con chim chiền chiện và tiếng hót của nó là hình ảnh trung tâm của bài thơ. Đó là hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc, vừa là biểu tượng cho bầu trời tự do. Tiếng hót của chim trong trẻo, lan tỏa khắp không trung, báo hiệu mùa xuân tươi sáng, thanh bình, ấm no, hạnh phúc.
Câu 10. HS trình bày theo suy nghĩ của bản thân về ước mơ của mình.
Đề số 5
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Cánh diều no gió
Sáo nó thổi vang
Sao trời trôi qua
Diều thành trăng vàng
Cánh diều no gió
Tiếng nó trong ngần
Diều hay chiếc thuyền
Trôi trên sông Ngân
Cánh diều no gió
Tiếng nó chơi vơi
Diều là hạt cau
Phơi trên nong trời
Trời như cánh đồng
Xong mùa gặt hái
Diều em - lưỡi liềm
Ai quên bỏ lại
Cánh diều no gió
Nhạc trời réo vang
Tiếng diều xanh lúa
Uốn cong tre làng
Ơi chú hành quân
Cô lái máy cày
Có nghe phơi phới
Tiếng diều lượn bay?
Tiếng diều vàng nắng
Trời xanh cao hơn
Dây diều em cắm
Bên bờ hố bom...
(Thả diều, Trần Đăng Khoa)
Câu 1. Bài thơ trên viết theo thể thơ gì?
Câu 2. Bài thơ trên nhắc đến trò chơi dân gian nào?
Câu 3. Trong bài thơ, những hình ảnh nào biểu hiện sự liên tưởng độc đáo của tác giả?
Câu 4. Bức tranh thiên nhiên nông thôn trong bài thơ hiện lên như thế nào?
Câu 5. Hai câu thơ “Sao trời trôi qua/ Diều thành trăng vàng” tả cảnh diều vào lúc nào?
Câu 6. Câu thơ Tiếng nó trong ngần sử dụng biện pháp tu từ nào?
Câu 7. Chủ đề của bài thơ là gì?
Câu 8. Hai câu thơ “Tiếng diều xanh lúa / Uốn cong tre làng” thể hiện nội dung nào dưới đây:
A. Tiếng sáo diều uốn cong lũy tre làng.
B. Tiếng sáo diều làm lúa lên xanh hơn, cây tre làng uốn cong hơn.
C. Tiếng sáo diều hay đến mức khiến đồng lúa, lũy tre trở nên đẹp hơn.
D. Tiếng sáo diều làm xanh cánh đồng lúa.
Câu 9. Ghi lại những hình ảnh so sánh được sử dụng trong bài thơ.
Câu 10. Theo em, câu thơ “Dây diều em cắm/ Bên bờ hố bom…” có ý nghĩa gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.A | 3. B | 4.D | 5.D | 6.C | 7.A | 8.C |
Câu 9. Những hình ảnh so sánh được sử dụng trong bài thơ là:
Diều – trăng vàng
Diều – chiếc thuyền
Diều – hạt cau
Diều – lưỡi liềm
Trời như cánh đồng
Câu 10. Theo em, câu thơ “Dây diều em cắm/ Bên bờ hố bom…” có ý nghĩa: Tác giả muốn khẳng định sức sống bất diệt của con người Việt Nam trước sự tàn khốc của chiến tranh.
III. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
- Đọc tên của văn bản để xác định luận đề của văn bản (cần trả lời câu hỏi: văn bản viết/ bàn về vấn đề gì? Mục đích của văn bản là gì?)
- Đọc các tiêu đề, các câu đứng ở đầu, cuối mỗi đoạn hoặc những câu then chốt để nhận diện hệ thống luận điểm của văn bản (với những văn bản nghị luận hiện đại); chia văn bản theo bố cục và xác định ý chính/ luận điểm của mỗi phần (với văn nghị luận trung đại).
- Tóm tắt được các nội dung chính của văn bản (dựa trên hệ thống luận điểm).
- Nhận biết, phân tích các luận cứ (lí lẽ, dẫn chứng làm nổi bật luận điểm.
- Xác định cách lập luận của văn bản hoặc các hình thức kết cấu, tổ chức văn bản, mối quan hệ giữa các luận điểm.
- Nhận biết, phân tích được ngôn ngữ của văn bản.
- Nhận ra luận điểm trung tâm của văn bản, thể hiện rõ chủ đề của văn bản và tư tưởng của tác giả. Phán đoán mục đích viết và tư tưởng của tác giả gửi gắm trong văn bản,
- Đánh giá về hình thức và nội dung của văn bản.
- Chỉ ra được ý nghĩa hay tác động của vấn đề bàn luận, rút ra những bài học liên hệ.
Đề số 1
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
VẺ ĐẸP CỦA BÀI THƠ TIẾNG GÀ TRƯA
1. Khổ thơ đầu kể chuyện anh bộ đội trên đường hành quân, khi dừng chân bên một xóm nhỏ, nghe tiếng gà nhảy ổ. Dòng thơ thứ tư Cục... cục tác cục ta với việc lặp âm và dấu chấm lửng đã mô phỏng sát với tiếng gà, làm cho truyện kể như được lồng vào một bức tranh nổi có tiếng gà vang vọng trong không gian. Tiếng gà trưa này của Xuân Quỳnh khác với tiếng gà Ò ó…o của Trần Đăng Khoa, nó có một cái gì lắng đọng làm người ta xao xuyến, bồi hồi:
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Lối dùng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, lấy thính giác (nghe) thay cho thị giác (thấy) và việc lặp lại ba lần ở đầu dòng thơ động từ “nghe” có tác dụng đem lại ấn tượng như tiếng gà ngưng lại, làm xao động không gian và cũng làm xao động cả lòng người. Tiếng gà cũng làm kí ức ta quay lại với những kỉ niệm của tuổi thơ.
2. Khổ thơ thứ hai, cứ một câu là kể và tiếp theo sau là câu tả:
Tiếng gà trưa
Ở rơm hồng những trứng
Này con gà mải mơ
Khắp minh họa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Những câu tả có kết cấu sóng đôi và lặp từ vựng đều mở đầu bằng từ này, là từ để chỉ và để lưu ý người nghe tưởng tượng:
- Này con gà mái mơ
- Này con gà mái vàng
Việc đảo khắp mình lên trước hoa đốm trắng làm cho bức tranh gà mái mơ trở nên đẹp lộng lẫy. Việc dùng so sánh tu từ Lông óng như màu nắng làm cho bức tranh gà mái vàng trở nên đẹp rực rỡ.[…] Chính cái cảnh đẹp có thật mà xuất hiện như do một phép lạ là tiếng gà trưa đã đưa anh chiến sĩ trở lại kỉ niệm về người bà tần tảo, suốt đời lo toan để cho cháu được vui sướng.
3.Tất cả sáu dòng thơ của khổ thơ dưới đây chỉ làm thành một câu đơn phát triển với những thành phần chính và phụ được tách biệt ra thành từng dòng riêng. Sáu dòng thơ đều gồm năm tiếng, nhưng mỗi dòng lại có một cách ngắt nhịp khác dòng kia:
Cứ hằng năm, / hằng năm
Khi gió mùa đông tới
Bà lo / đàn gà toi
Mong trời / đừng sương muối
Để cuối năm / bán gà
Cháu được / quần áo mới
Do đó, nhịp điệu của các dòng thơ là một nhịp điệu chậm rãi của độc thoại, bên trong đầy chất suy tưởng. Và những dòng thơ cuối cùng của khổ thơ này xuất hiện thật bất ngờ, thật cảm động: Để cuối năm bán gà / Cháu được quần áo mới. Một chi tiết nhỏ bé, đơn giản là thế mà chứa đựng một tình yêu thương sâu sắc, vô bờ bến của bà.
4. Khổ thơ cuối cùng hay nhất, cảm động nhất, nó chứa đựng những tình cảm thiêng liêng, cao quý, sâu sắc và chân thành của tác giả và cũng là của anh chiến sĩ đang trên con đường hành quân:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc.
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Không nén lại được tình cảm yêu quý và biết ơn đối với bà, anh chiến sĩ thốt lên tiếng gọi thật cảm động, làm cho lời nói độc thoại bên trong hiển hiện như lời đối thoại sống động. Việc lặp lại nhiều lần từ Vì ở đầu các dòng thơ góp phần biểu hiện ý chí chiến đấu mạnh mẽ vì Tổ quốc, vì nhân dân, trong đó bao gồm cả những người thân yêu trong gia đình mình, mà ở đây ghi đậm dấu ấn là người bà yêu quý với bao kỉ niệm êm đềm của tuổi thơ.
(Theo Vẻ đẹp ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc lớp 4, 5, NXB Giáo dục, 2002)
Câu 1. Đoạn trích trên viết về vấn đề gì?
Câu 2. Theo em, mục đích chính của người viết đoạn trích trên là gì?
C. Nói về tình yêu quê hương sâu sắc của người cháu trên đường hành quân.
D. Chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Tiếng gà trưa”.
Câu 3. Những câu văn nào sau đây có sử dụng bằng chứng là biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.
Câu 4. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ “Tiếng gà trưa” đã được tác giả nhắc lại trong bài viết.
Câu 5. Công dụng của dấu chấm lửng trong câu “Việc dùng so sánh tu từ Lông óng như màu nắng làm cho bức tranh gà mái vàng trở nên đẹp rực rỡ.[…]” có tác dụng gì?
Câu 6. Phó từ trong câu “Tiếng gà cũng làm kí ức ta quay lại với những kỉ niệm của tuổi thơ.” là:
Câu 7. Bài thơ Tiếng gà trưa được tác giả phân tích theo thứ tự nào?
Câu 8. Vì sao văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Tiếng gà trưa” là văn bản nghị luận văn học?
A. Vì văn bản tập trung miêu tả hình ảnh ông đồ.
B. Vì tác giả đã phân tích những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ Ông đồ.
C. Vì tác giả đã kể lại câu chuyện về ông đồ viết chữ Nho.
D. Vì văn bản đã giúp người đọc hiểu ông đồ là ai.
Câu 9. Vì sao khổ thơ cuối cùng được tác giả Đinh Trọng Lạc coi là hay nhất, cảm động nhất.
Câu 10. Em học tập được điều gì về cách viết bài văn nghị luận văn học từ văn bản trên.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.A | 2.D | 3.D | 4.C | 5.A | 6.B | 7.C | 8.B |
Câu 9.
Tác giả coi khổ thơ cuối cùng trong bài Tiếng gà trưa được tác giả Đinh Trọng Lạc coi là hay nhất, cảm động nhất vì nó chứa đựng tình cảm thiêng liêng, cao quý, sâu sắc và chân thành của tác giả và cũng là của anh chiến sĩ trên con đường hành quân.
Câu 10. Một số lưu ý khi viết bài văn nghị luận văn học
Đề số 2
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
VỀ BÀI THƠ ÔNG ĐỒ CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN
Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cải tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đất: nơi ông độ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể", hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địao, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chóto của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên; mực với mực, giấy với giấy, người với người càng cho ta thấy cái thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trắng của đoạn thơ, trước khi vào bốn dòng kết:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đổ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hãy trở lại với dòng thơ đầu bài “Mỗi năm hoa đào nở" để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy", nhưng năm nay không còn kiên nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa.". Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, những người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối? Hai dòng thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc được ở đấy số phận của ông đổ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: “Những người muôn năm cũ". “Muôn năm" thật ra chỉ vài ba năm, nhưng nói “muôn năm" mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử, Chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của dòng dưới càng bâng khuâng, luyến nhớ. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
(Theo VŨ QUẦN PHƯƠNG, Tác phẩm văn học 1930 – 1975, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990)
Câu 1. Đoạn trích trên viết về vấn đề gì?
B. Miêu tả hình ảnh ông đồ .
C. Phân tích bài thơ Ông đồ và đưa ra ý kiến của tác giả về bài thơ.
D. Giới thiệu nhà thơ Vũ Đình Liên.
Câu 2. Vì sao văn bản Về bài thơ “Ông đồ" của Vũ Đình Liên là văn bản nghị luận văn học?
A. Vì văn bản tập trung miêu tả hình ảnh ông đồ.
B. Vì tác giả đã phân tích những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ Ông đồ.
C. Vì tác giả đã kể lại câu chuyện về ông đồ viết chữ Nho.
D. Vì văn bản đã giúp người đọc hiểu ông đồ là ai.
Câu 3. Theo em, mục đích chính của người viết văn bản trên là gì?
C. Ca ngợi hình ảnh ông đồ viết chữ Nho
D. Nêu lên tình cảnh buồn thảm của ông đồ
Câu 4. Câu nào có bằng chứng được người viết dẫn ra từ bài thơ?
A. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
B. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: “Những người muôn năm cũ".
C. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đố.
D. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chốt của một thời tàn.
Câu 5. Tác giả phân tích nghệ thuật dùng từ của nhà thơ ở câu nào?
A. Chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của dòng dưới càng bâng khuâng, luyến nhở.
B. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chốt của một thời tàn.
C. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: "Những người muôn năm cũ".
D. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
Câu 6. Câu nào nêu nhận xét về tài năng nghệ thuật của nhà thơ Vũ Đình Liên?
A. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại.
B. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy”, nhưng năm nay không còn kiên nhẫn được nữa .
C. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay.
D. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi.
Câu 7. Ý kiến khái quát của người viết về nội dung và nghệ thuật bài thơ “Ông đồ” được nêu ở câu nào?
A. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chốt của một thời tàn.
B. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta.
C. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy”, nhưng năm nay không còn kiên nhẫn được nữa ...
D. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: “Những người muôn năm cũ".
Câu 8. Câu nào sau đây có vị ngữ được mở rộng bằng cụm chủ vị?
C. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, những người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với ...
D. Chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ” của dòng dưới càng bâng khuâng, luyến nhớ.
Câu 9. Người viết thể hiện rõ cảm xúc của mình về hình ảnh ông đồ như thế nào?
Câu 10. Em thích nhất đoạn nào trong văn bản trên? Vì sao?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.C | 2.B | 3.A | 4.B | 5.A | 6.C | 7.A | 8.D |
Câu 9.
Người viết thể hiện rõ cảm xúc của mình về hình ảnh ông đồ qua câu: Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Điều đó cho thấy, tác giả nuối tiếc nét đẹp văn hóa đã bị lãng quên và cảm thương cho số phận của ông đồ.
Câu 10. Học sinh chia sẻ theo cảm nhận của cá nhân. Phải đảm bảo thực hiện được 2 yêu cầu: chỉ ra đoạn văn yêu thích và lí do yêu thích đoạn văn đó.
Đề số 3
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
CHỢ TẾT CỦA ĐOÀN VĂN CỪ
Vũ Quần Phương
Năm tháng càng lùi xa bài Chợ Tết này càng được yêu mến, nó như tấm ảnh quý ghi lại chân thật những nét tiêu biểu trong sinh hoạt của quê ta. Mỗi lần đọc, lại như được sống cùng dĩ vãng. Ít có bài thơ nào mà cách miêu tả lại sinh động như bài thơ này. Sinh động, vì chộp được những chi tiết điển hình, vì cái nhìn hóm hỉnh và thấp thoáng cũng có những câu thơ có sức khái quát, có kí thác tâm trạng.
[...] Kết cấu bài thơ rất giản dị, diễn biến theo từng thời gian. Mở đầu là sáng sớm, người ta đi chợ.
Dải máy trắng đỏ dân trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh
Trên con đường viên trắng mép đồi xanh
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Mấy câu thơ bình thường giới thiệu thời gian, địa điểm. Chúng ta biết thêm đây là phiên chợ Tết vùng đồi, tụ họp dân các ấp. Cảnh những con đường tấp nập người tới chợ có cái nao nức thanh bình. Thơ Đoàn Văn Cừ nhiều màu sắc lắm, chỉ với ba câu thơ đầu đã thấy lần lượt trắng, đỏ, hồng, lam, xanh. Cả bài đếm được hai mươi ba màu.
[…] Trong đoạn đi chợ này có câu thơ tả nắng rất tài, tả được cái động của nặng, trong nắng lại có gió, màu vàng nắng trộn vào màu xanh lúa thành ra màu nắng tía:
Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa.
Nắng không nháy, nhưng gió thổi, đồng lúa xao động làm cho nắng đang rải trên đó thành nhấp nháy. Cách quan sát tinh vi này gợi nhớ câu thơ Nguyễn Du: “Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông”. Gió thổi đu đưa cành xanh làm màu hoa đỏ khi ẩn khi hiện như đốm lửa khi tắt khi bùng.
[…] Thú vị nhất và cũng tài hoa nhất là bức ảnh:
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cố
Nước thời gian gợi tóc trắng phau phau.
Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy cái nhìn kì ảo ở câu thơ thứ hai. Vì tóc cho nên có động từ gội, và do đó thời gian được ví như nước. Hình ảnh sáng tạo, bất ngờ, nhưng rất hợp lí nên chấp thuận. Lí thú trong cách thể hiện và thâm thúy trong sự khái quát đời người. Đây là câu thơ hay nhất trong bài này. Tuy nhiên cũng nên lưu ý: hình ảnh cái miếu cổ làm nền cho mái tóc bạc, bà cụ đã góp phần không nhỏ vào tính chất kì ảo như cổ tích của ý thơ.
[…] Cảnh mua bán được đặc tả, quen thuộc mà cũng lạ lùng:
Con gà trống mào thâm như cục tiết
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.
Quen thuộc vì ai chẳng từng trông thấy cảnh ấy, nhưng lạ lùng do cách tả: cầm cẳng dốc lên xem.
Chợ vãn khi trời đã nhá nhem, người toả về các làng xa hẻo lánh. Những quán chợ vắng vẻ dần và trở nên hiu quạnh. Một nỗi buồn lan toả trên cảnh vật. Bài thơ kết thúc trong sự bâng khuâng đó: Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.
Bài thơ này có thể làm mẫu mực cho văn miêu tả, cho cách quan sát, chọn lựa chi tiết, cách tìm ra nét đặc sắc ở những cảnh thông thường. Đoàn Văn Cừ đã làm mới lạ, làm lạ hoá một khung cảnh quen thuộc từ bao đời, giữ lại mãi mãi cho mai sau cái phong vị dân dã xóm làng cùng những nét sinh hoạt đặc sắc của một thời.
(In trong Thơ quê hương và những lời bình, Phương Ngân (Tuyển chọn) Trang 47 – 51, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007)
Câu 1. Văn bản trên thuộc loại văn bản nào?
Câu 2. Theo em, mục đích chính của người viết đoạn trích trên là gì?
C. Ca ngợi vẻ đẹp của chợ Tết.
D. Nói về tình yêu quê hương của người viết.
Câu 3. Tác giả đã đưa ra lí lẽ, bằng chứng thể hiện sự miêu tả chân thực, tiêu biểu về ánh nắng của phiên chợ quê qua câu văn nào?
Câu 4. Tác giả đã nhận xét về bài Chợ tết của Đoàn Văn Cừ như thế nào?
Câu 5. Từ Hán Việt trong câu “Đoàn Văn Cừ đã làm mới lạ, làm lạ hoá một khung cảnh quen thuộc từ bao đời, giữ lại mãi mãi cho mai sau cái phong vị dân dã xóm làng cùng những nét sinh hoạt đặc sắc của một thời.” là:
Câu 6. Tác giả phân tích nghệ thuật dùng từ, cách miêu tả của nhà thơ ở câu nào?
Câu 7. Ý kiến khái quát của người viết về giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ “Chợ Tết” được nêu ở câu nào?
Câu 8. Phó từ trong câu “Chợ vãn khi trời đã nhá nhem, người toả về các làng xa hẻo lánh.” là:
Câu 9. Người viết thích câu thơ nào nhất trong bài “Chợ Tết” . Tác giả đã đưa ra lí lẽ và bằng chứng nào để khẳng định điều đó.
Câu 10. Chia sẻ với bạn bè về nét độc đáo của phiên chợ Tết ở quê hương em.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.A | 3.C | 4.D | 5.C | 6.A | 7.B | 8.C |
Câu 9.
Câu thơ tác giả thích nhất là:
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cố
Nước thời gian gợi tóc trắng phau phau
Những lí lẽ, bằng chứng tác giả đưa ra để khẳng định là:
Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy cái nhìn kì ảo ở câu thơ thứ hai. Vì tóc cho nên có động từ gội, và do đó thời gian được ví như nước. Hình ảnh sáng tạo, bất ngờ, nhưng rất hợp lí nên chấp thuận. Lí thú trong cách thể hiện và thâm thúy trong sự khái quát đời người. Đây là câu thơ hay nhất trong bài này. Tuy nhiên cũng nên lưu ý: hình ảnh cái miếu cổ làm nền cho mái tóc bạc, bà cụ đã góp phần không nhỏ vào tính chất kì ảo như cổ tích của ý thơ.
Câu 10. HS chia sẻ từ thực tế và cảm nhận của cá nhân. Gợi ý: Nêu tên chợ, đặc điểm của phiên chợ trong những ngày giáp tết (thời gian, địa điểm, khung cảnh đặc sắc…)
Đề số 4:
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
BÀN VỀ NHÂN VẬT THÁNH GIÓNG
Hoàng Tiến Tựu
Truyện Thánh Gióng là tác phẩm lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống xâm lược. Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lí tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc cứu nước. Sự phi thường của nhân vật Gióng thể hiện qua những chi tiết về sự thụ thai thần kì của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu mang thai Gióng sau khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng mười hai tháng mới sinh,...). Ở Gióng có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm sao Thánh Gióng có thể nhổ từng bụi tre đằng ngà để tiếp tục truy kích và đánh tan giặc Ân xâm lược? Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục đích đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
Nhìn chung, những yếu tố kì diệu khác thường trong nhân vật Gióng tuy khá nổi bật nhưng cũng không thể lấn át và thay thế được cái bình thường của con người trần thế. Nguồn gốc, lai lịch của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và xác định. Căn bản và trước hết, Gióng là một Con Người, một người con của làng Phù Đổng, nước Văn Lang, đời Hùng Vương thứ sáu. Quá trình ra đời, trưởng thành và chiến thắng giặc ngoại xâm của Gióng đều gắn với những người dân bình dị. Dù có siêu nhiên kì ảo đến đâu, Gióng vẫn phải “nằm trong bụng mẹ” (dù là mấy tháng), vẫn phải “uống nước, ăn cơm với cà” (dù là mấy nong), vẫn phải mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù Đổng (dù là cỡ rộng đến đâu). Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nên.
Nhân vật Thánh Gióng thể hiện sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ nước. Lực lượng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc bình thường tiềm ẩn trong nhân dân, tương tự như chú bé làng Gióng nằm im không nói, không cười. Nhưng khi có giặc thi tiếng gọi ấy đã tập hợp, thức tỉnh tất cả các lực lượng tiềm ẩn ấy của dân tộc và làm nên Thánh Gióng.
Khi chưa có giặc, Gióng là đứa trẻ nằm im không biết nói. Khi nghe tiếng gọi của non sông, Gióng vụt lớn lên và cất lời nhận nhiệm vụ đánh tan giặc, Thánh Gióng bay về trời. Quá trình phát triển của nhân vật Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh và nên thơ, nên họa biết bao!
(Theo Hoàng Tiền Tựu, Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục, 2003)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là:
Câu 2. Văn bản trên làm em nhớ đến truyền thuyết nào?
Câu 3. Nhận xét của người viết về nhân vật Thánh Gióng là:
A. Thánh Gióng có sức mạnh.
B. Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
C. Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục địch đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
D. Cả ba đáp án đều sai.
Câu 4. Phó từ trong câu “Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nên.” là:
Câu 5. Tác giả đã đưa ra bằng chứng thể hiện đặc điểm phi thường của Thánh Gióng qua câu văn nào?
Câu 6. Từ Hán Việt trong câu “Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lí tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc cứu nước.” là:
Câu 7. Tác giả đã đưa ra bằng chứng thể hiện đặc điểm “là một con người trần thế” của Thánh Gióng qua câu văn nào?
Câu 8. Phó từ “những” trong cụm danh từ “Tất cả những chi tiết ấy” bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 9. Khi nói về sự phi thường của nhân vật Gióng, người viết đã đưa ra những bằng chứng nào?
Câu 10. Để viết bài nghị luận này, người viết cần trang bị những kiến thức và kĩ năng gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.A | 2.C | 3.B | 4.C | 5.C | 6.D | 7.A | 8.C |
Câu 9. Khi nói về sự phi thường của nhân vật Gióng, người viết đã đưa ra những bằng chứng:
Chi tiết về sự thụ thai thần kì của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu mang thai Gióng sau khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng mười hai tháng mới sinh,...). Ở Gióng có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm sao Thánh Gióng có thể nhổ từng bụi tre đằng ngà để tiếp tục truy kích và đánh tan giặc Ân xâm lược.
Câu 10. Để viết bài nghị luận này, người viết cần trang bị những kiến thức và kĩ năng:
+ Kiến thức về văn bản Thánh Gióng, hiểu nội dung, nghệ thuật của truyện Thánh Gióng
+ Kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học. Biết đưa ra ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng để làm rõ ý kiến của mình.
Đề số 5:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THẠCH SANH - TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ TIÊU BIỂU
TRONG KHO TÀNG TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM
Thạch Sanh là một truyện cổ tích hội tụ đầy đủ các yếu tố đặc trưng tiêu biểu của thể loại cổ tích thần kỳ trong truyện cổ dân gian của nước ta. Điều dễ nhận thấy nhất ở truyện Thạch Sanh là công thức cố định của kế chuyện cổ tích, đó là: Công thức mở đầu: Ngày xưa ... ở... có một... Công thức kể phần diễn biến là toàn bộ câu chuyện Thạch Sanh lần lượt vượt qua nhiều hơn ba lần thử thách, các thử thách sau bao giờ cũng cam go, khó khăn hơn thử thách trước. Công thức kể phần kết thúc: Về sau, vua không có con trai, để nhường ngôi cho Thạch Sanh.
Nhân vật Thạch Sanh thuộc kiểu nhân vật mồ côi và nhân vật dũng sĩ, đó là hai kiểu nhân vật quen thuộc xuất hiện trong truyền cổ tích thần kỳ. Thạch sanh là nhân vật chính diện đẹp nhất, tiểu biểu và hoàn hảo nhất với nhiều mặt hoạt động rộng lớn, nhiều chiến công nhiều loại kẻ thù và nhiều tài năng nhóm chất cao đẹp. Sự ra đời bình thường và khác thưởng của Thạch sanh là yếu tố kỳ lạ khởi đầu cho mô típ nhân vật chàng dũng sĩ Thạch Sanh vẫn là Thái tử con Ngọc Hoàng được đầu thai vào nhà họ Thạch (ở Cao Bằng) để đến ơn đáp nghĩa cho ông bà Thạch Nghĩa ăn ở có đức, có nhân. Như vậy là chàng có nguồn gốc thần tiên, là "người Trời”. Nhưng sau khi đầu thai vào nhà họ Thạch, Thạch Sanh đã sinh ra và lớn lên thành một con người ở cõi trần, trong xã hội phong kiến Việt Nam, có cha mẹ, họ tên, quê hương, nghề nghiệp và vị trí trong gia đình, xã hội rất rõ ràng, cụ thể. Điều này không phải nhân vật có tích nào cũng có, nó làm cho hình tượng nhân vật Thạch Sanh vừa có tính khái quát hóa, vừa giàu tính cụ thể, sống động. Chi tiết đó mở đầu, báo hiệu cho cuộc đời tràn đầy những yếu tố kì lạ, hoang đường của Thạch Sanh. Nguồn gốc thần linh đã tô điểm cho xuất thân cao quỹ, vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật. Việc thiên thần xuống dạy phép thuật và các môn võ nghệ cho Thạch Sanh là sự chuẩn bị cho chàng đối diện với những thử thách và đã lí giải cho chiến thắng của chàng ở những chặng tiếp theo của câu chuyện.
Kết cấu của truyện "Thạch Sanh" là một kết cấu tiêu biểu cho truyện cổ tích thần kỳ. Kết cấu gồm ba phần. Phần đầu nhân vật chính xuất hiện với sự ra đời có yếu tố thần kỳ. Chàng là con Thái tử, được truyền dạy võ nghệ. Phần giữa là cuộc phiêu lưu của nhân vật chính trong thế giới cổ tích. Nhân vật ra đi, gặp thử thách và vượt qua các thử thách, nhận phần thưởng sau mỗi thử thách. Phần thưởng là các phương tiện thần kỳ là trợ thủ đắc lực cho nhân vật vượt qua các thử thách nối tiếp sau đó. Phần kết thúc: Đối đời hay là sự thay đổi số phản trong "thế giới cổ tích". Cả hai mô típ thưởng (cho nhân vật chính) và phạt (đối với kẻ ác, lực lượng thù địch) đều xuất hiện hợp lý trong truyện. Kết thúc truyện, Thạch Sanh được lấy công chúa và lên ngôi vua. Mẹ con Lí Thông tuy được Thạch Sanh tha cho về nhưng đi đến giữa đường bị Thiên Lôi đánh chết. Đây là dạng kết thúc quen thuộc của truyện cổ tích, theo dạng "kết thúc có hậu”; nghĩa là người nghèo, người bị áp bức, người tốt được bênh vực và hạnh phúc kẻ gian ác thì bị trừng phạt. Đó là quan niệm, cũng là triết là của nhân dân về việc ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác; có công được thưởng, có tội trừng phạt.
(Trích Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, Nguyễn Thị Bích Hà)
Câu 1. Văn bản trên thuộc loại văn bản nào?
Câu 2. Theo em, mục đích chính của người viết đoạn trích trên là gì?
Câu 3. Câu văn nào sau đây đưa ra ý kiến của người viết về kết cấu của truyện “Thạch Sanh”.
Câu 4. Bằng chứng được đưa ra để làm rõ ý kiến “truyện Thạch Sanh là công thức cố định của kể chuyện cổ tích” là:
Câu 5. Từ Hán Việt trong câu “Nhân vật Thạch Sanh thuộc kiểu nhân vật mồ côi và nhân vật dũng sĩ, đó là hai kiểu nhân vật quen thuộc xuất hiện trong truyền cổ tích thần kỳ.” là:
Câu 6. Truyện cổ tích Thạch Sanh được tác giả nhận xét ở những khía cạnh nào:
Câu 7. Phó từ trong câu “Nhân vật ra đi, gặp thử thách và vượt qua các thử thách, nhận phần thưởng sau mỗi thử thách.” là:
Câu 8. Câu văn thể hiện ý kiến của người viết về nhân vật Thạch Sanh là:
Câu 9. Tác giả đã nhận xét về kết thúc của truyện như thế nào. Em có đồng tình với nhận xét này không.
Câu 10. Theo em, làm thế nào để bài nghị luận không chỉ có lý lẽ khô khan mà thêm phần sinh động, có sức thuyết phục.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.C | 2.A | 3.B | 4.D | 5.B | 6.A | 7.D | 8.C |
Câu 9. Tác giả nhận xét về kết thúc truyện:
Đây là dạng kết thúc quen thuộc của truyện cổ tích, theo dạng "kết thúc có hậu”; nghĩa là người nghèo, người bị áp bức, người tốt được bênh vực và hạnh phúc kẻ gian ác thì bị trừng phạt. Đó là quan niệm, cũng là triết là của nhân dân về việc ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác; có công được thưởng, có tội trừng phạt.
Ý kiến của em: HS tự nêu ý kiến của mình.
Câu 10. Để bài nghị luận không chỉ có lý lẽ khô khan mà thêm phần sinh động, có sức thuyết phục, người viết cần sử dụng những bằng chứng xác thực, thuyết phục, tiêu biểu và phù hợp với lý lẽ.
IV. TRUYỆN KHOA HỌC VIỄN TƯỞNG
+ Xác định đề tài, thời gian và không gian đặc biệt của câu chuyện.
+ Tóm tắt được cốt truyện, qua đó thấy được sự li kì, cuốn hút của tác phẩm.
+ Phân tích được nhân vật và cách nhà văn miêu tả các nhân vật giả tưởng trong câu chuyện.
+ Xác định được yếu tố khoa học trong câu chuyện
+ Phân tích và đánh giá được vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm.
+ Nhận xét, đánh giá được đặc điểm về ngôn ngữ kể chuyện được sử dụng trong tác phẩm.
+ Qua cốt truyện, nhận diện được sự vật, sự kiện mà người viết chú tâm mô tả. Sự vật hay sự kiện đó, tại thời điểm nhà văn viết tác phẩm đã có hay chưa? Sự tưởng tượng đó của nhà văn có đúng hay có khả năng đúng với hiện thực sau này hay không?
+ Phân tích được hành trình phiêu lưu của nhân vật vào thế giới viễn tưởng đó.
+ Đánh giá những giá trị mà truyện khoa học viễn tưởng mang lại cho người đọc.
Đề số 1
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
ĐỊA ĐÀNG TRẦN GIAN
(Trích Utopia – Địa đàng trần gian – T.More)
Rồi cả Peter Gilles và tôi lên tiếng xin Raphael tiên sinh cho nghe chuyện. Thấy chúng tôi thực lòng, tiên sinh bèn để một lúc để sắp xếp câu chuyện trong đầu, rồi bắt đầu kể như sau:
RAPHAEL: Ta bắt đầu nhé. Hòn đảo ấy rộng nhất ở quãng giữa, chừng hai trăm dặm từ bờ này sang bờ kia. Những chỗ khác cũng chẳng hẹp hơn là bao, chỉ trừ hai đầu là thu hẹp dần và lượn vòng như thể vẽ bằng com-pa, nỗi toàn bộ đảo thành ra như một vòng tròn có đường kính khoảng năm trăm đến dặm vậy. Đúng hơn hãy mường tượng nó như một hình lưỡi liềm rất cong có hai mỏm chóp chỉ cách nhau bởi một eo biển rộng xấp xỉ mười một dặm. Biển tràn vào trong lòng đảo qua eo này, làm thành một vùng hồ mênh mông giữa đảo. Được bao bọc khắp xung quanh, nước hồ lúc nào cũng êm ả. Vậy là cái vịnh yên tĩnh ngay giữa lòng đảo ấy trở thành một hải cảng lớn rất thuận tiện, thuyền bè có thể dong buồm ngang dọc trên đó theo đủ mọi hướng. Vùng eo biển hẹp thì lại rất hiểm trở với đầy những doi cát và đá ngầm. Một hòn núi đá nhô cao hằn lên mặt nước ở ngay giữa eo, và người ta xây một pháo đài ở trên đó, lúc nào cũng có lính canh. Chỉ có những hoa tiêu địa phương mới biết rõ vùng đá ngầm nguy hiểm đó và có thể đưa tàu bè ra vào một cách an toàn. Không có hoa tiêu người Utopia thì tàu thuyền ngoại quốc không thể nào vào được trong đảo
Mỗi bệnh viện lớn bằng khoảng một thành phố nhỏ. Ý tưởng là vừa tránh cho bệnh viện bị quá tải, vừa tạo điều kiện tốt cho việc cách li những chứng bệnh lây lan truyền nhiễm. Những bệnh viện này được quản lí rất chu đáo, luôn đầy đủ thuốc men và thiết bị với những đội ngũ bác sĩ và hộ lý xứng đáng là "lương y kiêm từ mẫu" đến nỗi hễ ốm đau là ai cũng muốn vào bệnh viện chứ không muốn nằm nhà.
[...] Đất đai của họ không phải lúc nào cũng màu mỡ, và khí hậu không phải là hoàn toàn thuận lợi nhưng nhờ một chế độ dinh dưỡng cân bằng mà họ xây dựng được sức đề kháng của mình chống lại những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, và bằng công việc canh tác rất chu đáo, họ đã chỉnh đốn được những khiếm khuyết của đất đai. Kết quả là họ đã phá vỡ mọi kỉ lục về sản xuất, và chăn nuôi gia súc, tuổi thọ trung bình của họ là cao nhất thế giới, và tỉ lệ mắc bệnh là thấp nhất. Như vậy là với những phương pháp khoa học, họ đã làm nên những điều thần kì ở một vùng thiên nhiên vốn nghèo nàn cạn kiệt.
(T. More, Utopia – Địa đàng trần gian, NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam, 2006, tr. 86, 87, 88, 108, 110, 152)
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. Đoạn trích nói về đề tài nào?
Câu 3. Câu chuyện về đất nước Utopia được kể lại bởi nhân vật nào?
Câu 4. Địa hình tự nhiên của đất nước Utopia có gì đặc biệt?
Câu 5. Ở Utopia, bệnh viện sẽ được xây dựng như thế nào?
Câu 6. Số từ trong câu “Mỗi bệnh viện lớn bằng khoảng một thành phố nhỏ.” là:
Câu 7. Vì sao đất nước Utopia lại được xem như một thiên đường cho con người?
Câu 8. Phó từ “những” trong câu “Như vậy là với những phương pháp khoa học, họ đã làm nên những điều thần kì ở một vùng thiên nhiên vốn nghèo nàn cạn kiệt.” bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 9. Theo em, viết về một xã hội lí tưởng như Utopia, tác giả T.More muốn thê hiện điều gì?
Câu 10. Trình bày những điều em cho là đẹp nhất của xã hội Việt Nam hiện nay.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3.B | 4.D | 5.D | 6.C | 7.D | 8.A |
Câu 9. Theo em, viết về một xã hội lí tưởng như Utopia, tác giả T.More muốn thê hiện thái độ phủ nhận của mình trước xã hội ông đang sống, đồng thời thể hiện ước mơ về một xã hội đẹp theo quan điểm của ông. Qua đó cũng nhắc nhở con người hành động để xã hội họ sống ngày một tốt đẹp hơn.
Câu 10. Học sinh chia sẻ theo cảm nhận của cá nhân, đảm bảo tính thực tế, phù hợp, không vi phạm quy định về đạo đức và pháp luật.
Đề số 2:
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
HOANG MẠC CHÂU PHI
(Trích Hoang mạc châu Phi – Ray Bradbury)
Đứng ở giữa phòng bếp, chị nhìn cái bếp tự động đang kêu ro ro chuẩn bị bữa ăn tối cho bốn người. - Anh hiểu không, cái phòng trẻ đã thay đổi, nó hoàn toàn không còn là cái phòng như trước nữa. – Thôi được, chúng ta cùng vào xem sao.
Họ cùng đi theo hành lang của ngôi nhà cách âm kiểu “Tất cả cho hạnh phúc” mà họ đã mua với giá ba mươi ngàn đô-la (với đầy đủ trang thiết bị), – ngôi nhà biết mặc quần áo cho họ, nấu nướng cho họ ăn, ru họ ngủ, hát cho họ nghe và chơi đùa với họ. Khi chỉ còn cách phòng trẻ năm bước chân, có một tiếng “tách” vang lên và đèn trong phòng bật sáng. Cả ở ngoài hành lang lúc họ đang đi cũng vậy, những bóng đèn cứ tự động lần lượt bật lên rồi tắt đi từng cái một.
[…] - Em cũng không biết nữa... - Chị lau nước mắt, ngồi vào chiếc ghế bành, chiếc ghế lập tức tự động lắc lư nhẹ. - Có thể, tại em có quá ít việc phải làm. Có thể, vì có quá nhiều thời gian để nghĩ ngợi. Tại sao chúng mình không khóa trái toàn bộ ngôi nhà trong vài ngày và đi đến một nơi nào đó nhỉ?
- Em muốn nói là em sẵn sàng rán trứng cho anh? – Vâng. - Chị gật đầu.
- Và mang tất cho anh? – Vâng. - Chị lại gật đầu lia lịa, mắt đầm đìa nước mắt.
- Rồi tự tay dọn dẹp nhà cửa? – Vâng, vâng... tất nhiên rồi.
- Còn anh thì cứ nghĩ rằng chúng ta mua ngôi nhà này chỉ cốt để không phải tự tay làm việc gì.
- Đúng thế. Nhưng trong ngôi nhà này em hầu như không còn ý nghĩa gì nữa. Vì ngôi nhà này vừa là người vợ, người mẹ, và người hầu. Lẽ nào em có thể đua tranh với cái hoang mạc Châu Phi. Lẽ nào em có thể tắm rửa cho các con nhanh và sạch bằng cái máy tắm tự động? Em không thể. Và vấn đề không phải chỉ ở mình em. Cả anh cũng thế. Thời gian gần đây em thấy anh căng thẳng một cách đáng sợ. – Có lẽ vì anh hút thuốc quá nhiều.
– Anh có cái vẻ như người không biết chui trốn vào đâu trong ngôi nhà này. Từ sáng sớm anh đã hút thuốc nhiều hơn mọi khi một chút, buổi tối anh cũng uống rượu nhiều hơn trước một chút, còn ban đêm anh phải uống hai viên thuốc ngủ, thay vì một viên như trước đây. Anh cũng bắt đầu cảm thấy anh là người thừa trong ngôi nhà này.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. Đoạn trích nói về đề tài nào?
Câu 3. Đoạn trích trên là cuộc đối thoại của những nhân vật nào?
Câu 4. Những công dụng đặc biệt của ngôi nhà cách âm kiểu “Tất cả cho hạnh phúc” là gì?
Câu 5. Phó từ trong câu “Còn anh thì cứ nghĩ rằng chúng ta mua ngôi nhà này chỉ cốt để không phải tự tay làm việc gì.” là từ nào?
Câu 6. Vì sao lúc đầu hai vợ chồng George hào hứng với căn nhà này?
Câu 7. Công dụng của dấu chấm lửng trong câu “Em cũng không biết nữa...” là gì?
Câu 8. Vì sao người vợ muốn đóng cửa ngôi nhà này để đi đến nơi khác?
Câu 9. Theo em, trong tương lai, khi cuộc sống con người đã đủ đầy và con người không phải làm bất cứ việc gì thì họ có thực sự hạnh phúc không? Những dự cảm của tác giả Bradbury về tương lai con người trong truyện là đúng hay sai?
Câu 10. Theo em, thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích là gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.B | 3.C | 4.D | 5.A | 6.C | 7.B | 8.B |
Câu 9. HS trả lời theo quan điểm cá nhân song phải đưa ra những lí lẽ hợp lí để bảo vệ quan điểm đó.
Câu 10. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích:
Không phải cuộc sống đầy đủ tiện nghi hiện đại thì con người sẽ được hạnh phúc. Hạnh phúc đến từ lao động, sự yêu thương và sẻ chia từ các thành viên trong gia đình.
Đề số 3:
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Sáng 18 tháng 11, tôi thức dậy, người khoan khoái. Tôi lên boong tàu và lại thấy viên thuyền phó đang nói câu mà tôi đã nghe được nhiều lần. Tôi bỗng hiểu nghĩa câu nói đó. Đúng là ông ta nói rằng "biển bình yên vô sự". Biển bát ngát, mênh mông, chẳng thấy một cánh buồm, cũng chẳng thấy những mỏm đá của đảo Crét-xpô! Biển đã nuốt tất cả màu sắc của quang phổ mặt trời, chỉ còn lại một màu xanh ngắt! Tôi đang mải ngắm cảnh đẹp của đại dương thì thuyền trưởng Nê-mô lên boong và bắt đầu quan sát thiên văn. Hình như ông ta không để ý gì đến tôi. Sau đó, Nê-mô tì tay lên buồng lái và đăm đăm nhìn về phía xa khơi. Lúc này độ hai mươi thủy thủ bước lên boong. Họ kéo lưới mà họ đã quăng đêm trước.
[…]Tôi đinh ninh là tàu sắp lặn, nên muốn trở về phòng. Nhưng lúc đó thuyền trưởng Nê-mô quay về phía tôi và nói:
- Thưa ngài giáo sư, ngài hãy nhìn xem biển có phải là một sinh vật không? Biển lúc thì giận dữ, khi thì dịu hiền. Ban đêm biển cũng ngủ như chúng ta và giờ đây đang tỉnh dậy, khoan khoái sau một giấc ngủ ngon! Nê mô chẳng chào hỏi gì. Hình như con người bí hiểm này đang tiếp tục một câu chuyện bị bỏ dở, ông ta nói:
- Giáo sư nhìn xem: đại dương tỉnh giấc dưới ánh nắng dịu hiền. Nó bắt đầu cuộc sống ban ngày. Thật kỳ thú khi quan sát những biểu hiện đầy sức sống của cơ thể nó! Biển có tim, có mạch máu, và tôi hoàn toàn đồng ý với nhà bác học Mô-ri, người đã phát hiện ra rằng nước ở đại dương cũng tuần hoàn, hệt như sự tuần hoàn của máu trong cơ thể sống. Nê-mô chẳng đợi trả lời, và tôi cũng thấy nếu ngắt lời ông ta bằng nhiều câu “vâng”, “tất nhiên”, “rất đúng” trống rỗng thì thật là thừa. Ông ta như tự nói với mình và sau mỗi câu lại im lặng hồi lâu.
Nê-mô im lặng và chăm chú nhìn biển cả, môi trường mà ông ta đang cố sức nghiên cứu cặn kẽ. Một lát sau, ông ta nói:
- Biển chứa một lượng muối đáng kể. Nếu như có thể tập trung tất cả muối bị hòa tan trong đại dương lại thì nó sẽ chất thành một khối bằng bốn triệu rưởi dặm khối. Và nếu trải đều trên mặt đất thì nó sẽ tạo thành một lớp dày hơn mười mét. Nhưng ngài chớ tưởng rằng muối chứa trong nước biển là do sự trái tính của thiên nhiên. Không phải đâu! Muối làm giảm sự bốc hơi của nước biển và giúp các miền khí hậu ôn hòa tránh được mưa nhiều. Vai trò làm cân đối hoạt động của thiên nhiên trên trái đất thật quan trọng, thật vinh quang!
[…] Và cuộc sống thật sự là ở đây, chỉ ở đây thôi! Tôi tin là có khả năng xây dựng những thành phố ngầm, những tòa nhà ngầm dưới biển cứ mỗi sáng lại nổi lên mặt nước để dự trữ không khí trong lành giống như tàu Nau-ti-lúx. Những thành phố độc lập, những thành phố tự do...
(Trích Chương 18 - Hai vạn dặm dưới đáy biển)
Câu 1. Đoạn trích nói về đề tài gì?
Câu 2. Đoạn trích trên có cuộc đối thoại của những nhân vật nào?
Câu 3. Khi giáo sư đang mải ngắm cảnh đẹp của đại dương thì thuyền trưởng Nê-mô lên boong tàu để làm gì?
Câu 4. Theo giáo sư, nhân vật Nê – mô là người như thế nào?
Câu 5. Phó từ trong câu “Ông ta như tự nói với mình và sau mỗi câu lại im lặng hồi lâu.” là từ nào?
Câu 6. Công dụng của dấu ngoặc kép trong câu “Nê-mô chẳng đợi trả lời, và tôi cũng thấy nếu ngắt lời ông ta bằng nhiều câu “vâng”, “tất nhiên”, “rất đúng” trống rỗng thì thật là thừa.” là gì?
Câu 7. Vì sao nhân vật Nê – mô cảm thấy kỳ thú khi quan sát những biểu hiện đầy sức sống của biển?
Câu 8. Theo Nê – mô, vai trò của muối trong nước biển là gì?
Câu 9. Nhân vật “tôi” trong đoạn trích có nói: “Tôi tin là có khả năng xây dựng những thành phố ngầm, những tòa nhà ngầm dưới biển cứ mỗi sáng lại nổi lên mặt nước để dự trữ không khí trong lành giống như tàu Nau-ti-lúx”. Hiện nay điều này đã trở thành hiện thực chưa?
Câu 10. Nếu có cơ hội tham gia chuyến đi biển đầy mạo hiểm song cũng hết sức thú vị như các nhân vật trong tác phẩm thì em có tham gia không? Vì sao?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.A | 3.C | 4.B | 5.D | 6.A | 7.D | 8.A |
Câu 9. Câu nói của nhân vật “tôi” hiện nay đã trở thành hiện thực. Tàu ngầm đã được phát minh và giúp ích cho con người trong cuộc sống. Tàu ngầm cũng được sử dụng cho vận chuyển hàng hải và nghiên cứu khoa học ở đại dương cũng như ở vùng nước ngọt, giúp đạt tới độ sâu vượt quá khả năng lặn của con người.
Câu 10. Học sinh chia sẻ theo cảm nhận của cá nhân, đảm bảo tính thực tế, phù hợp, không vi phạm quy định về đạo đức và pháp luật.
Đề số 4:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Cuộc du hành vào lòng đất" (1864) là cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của Giuyn Véc-nơ. Câu chuyện kể về một giáo sư người Đức tên là Li-den-trúc (Lidenbrock) tin rằng từ những miệng núi lửa có con đường đi thẳng xuống trung tâm Trái Đất. Ông cùng đứa cháu Irai A-xen (Axel) và người dẫn đường Han xơ (Hans) đã trải qua những chuyến phiêu lưu như vì. Sau đây là một đoạn trích từ tác phẩm.
MỘT TRĂM DẶM DƯỚI MẶT ĐẤT
[...] Tôi được biết cái ngã "may mắn" đã hất tôi xuống một đường hầm gần như thẳng đứng. Cuộc di chuyển kinh khủng ấy đã ném tôi vào tay giáo sư, bất tỉnh và máu me đầy người.
– A-xen này, – Giáo sư nói — bị một tai nạn như vậy mà không ảnh hưởng gì đến tính mạng, chủ cũng thấy lại Nhưng từ nay chúng ta không nên rời nhau kéo có ngày không còn nhìn thấy nhau nữa đầu!
“Chúng ta không nên rời nhau!". Như vậy cuộc hành trình chưa kết thúc? Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, chú tôi hỏi:
- Sao vậy, A-xen?
– Chúng ta không phải đang ở trên mặt đất sao?
Không! Ồ! Không lẽ cháu bị điên vì cháu thấy ánh sáng Mặt Trời, cháu nghe tiếng gió thổi và cả tiếng sóng vỗ nữa.
-Chú sẽ không giải thích gì hết vì đó là điều không thể giải thích nổi. Nhưng cháu sẽ được nhìn thấy tận mát và tự hiểu là có những điều mà khoa học địa chất chưa khám phá hết .
[...] Trên bãi thoai thoải này, ở cách mép sông một khoảng là chân những rặng núi sừng sững, cao vút, với những cạnh đã như xé toạc bờ biển, đảm ra khơi thánh những mũi đất. Xa xa, khối núi đá kéo dài in hình trên nền chân trời mù sương. Đây quả thật là một đại dương với đường nét bờ biển thất thường hệt như ở những biển trên mặt đất, nhưng vắng vẻ và hoang dã một cách kinh khủng. Sở dĩ tôi có thể phóng tầm mắt ra tít ngoài khơi vì mọi chi tiết trên biển đều được soi tỏ bằng thứ ánh sáng đặc biệt, không phải ánh sáng Mặt Trời với những tia nắng huy hoàng rực rõ, cũng chẳng phải là anh sáng lạnh lẽo, nhợt nhạt và mở ảo của Mặt Trăng. Khả năng chiếu sáng, sự khuếch tán, sắc sáng trắng và khô, sự tăng nhiệt độ,...., tất cả chứng tỏ ánh sáng này thuần tuý do điện mà ra. Vòm đá hoa cương treo trên đầu tôi giống hệt một bầu trời với những đảm mây ông ánh đổi màu chuyển động. Tôi cứ ngỡ dưới một áp suất lớn như vậy của khí quyển, nước không thể bay hơi được, nhưng vì một lí do nào đó, trên cao lại dày đặc những đám mây lớn.
[…]Trí tưởng tượng của tôi hoàn toàn bất lực trước khoảng rộng bao la ấy! Tôi đứng lặng ngầm tất cả những kì quan này mà tưởng như đang ở một hành tinh nào đó rất xa lạ với con người. Không tài nào tưởng tượng nổi, tôi ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi. Điều này cũng dễ hiểu, vì sau bốn mươi bảy ngày bị cầm tù trong một đường hầm chặt hẹp, nay được hít thở cái không khí ẩm và mặn của biển, còn gì vui sướng hơn! [...]
Câu 1. Nội dung chính của đoạn chữ in nghiêng ở phía trên văn bản Một trăm dặm dưới mặt đất là gì?
A. Kể lại những câu chuyện phiêu lưu và thảm hiếm miệng núi lửa
B. Miêu tả cảnh một giáo sư người Đức thực hiện cuộc du hành trong lòng đất.
C. Giới thiệu khái quát tiểu thuyết Cuộc du hành vào lòng đất của Véc-nơ
D. Kể lại cảnh đoàn thám hiểm khám phá những bí mật trong trung tâm Trái Đất
Câu 2. Đoạn trích trên có cuộc đối thoại của những nhân vật nào?
Câu 3. Không gian trong đoạn trích là không gian nào?
A. Bãi biển và bầu trời
B. Trong lòng chiếc hang khổng lồ
C. Trong hang và trên mặt đất
D. Bầu trời sao và vòm đá hoa cương
Câu 4. Vì sao biển ngầm trong đoạn trích lại có tên là Lin-đen-brốc?
A. Tên biển đã có từ thời xa xưa
B. Do người dân địa phương đặt từ lâu
C. Lấy tên từ một truyền thuyết về biển cả
D. Lấy tên vị giáo sư đã khám phá ra nó
Câu 5. Công dụng của dấu ngoặc kép trong câu “Chúng ta không nên rời nhau!". là gì?
Câu 6. Câu văn nào thể hiện rõ người viết dựa vào kiến thức khoa học?
A. Không tài nào tưởng tượng nổi, tội ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi!
B. Nhưng cháu sẽ được nhìn thấy tận mắt và tự hiểu là có những điều mà khoa học địa chất chưa khám phá hết!
C. Khả năng chiếu sáng, sự khuếch tán, sắc sáng trắng và khô, sự tăng nhiệt độ,..., tất cả chứng tỏ ánh sáng này thuần tuý do điện mà ra.
D. Vòm đá hoa cương treo trên đầu tôi giống hệt một bầu trời với những đám mây óng ánh đổi màu chuyển động.
Câu 7. Xác định số từ trong câu “Sau bốn mươi bảy ngày bị cầm tù trong một đường hầm chật hẹp, nay được hít thở cái không khí ẩm và mặn của biển, còn gì vui sướng hơn!”.
Câu 8. Trí tưởng tượng phong phú của tác giả thể hiện ở việc miêu tả cảnh nào?
B. Cảnh cậu bé A-xen bị hất xuống một đường hầm thẳng đứng
C. Cảnh từng đợt sóng theo nhau xô lên bãi cát vàng mịn.
D. Cảnh khối núi đá kéo dài in hình trên nền chân trời mù sương
Câu 9. Nhận xét về cách viết của tác giả trong đoạn trích trên?
Câu 10. Vì sao ở đoạn cuối, nhân vật “tôi” ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.C | 3.A | 4.D | 5.A | 6.C | 7.C | 8.D |
Câu 9. Nhận xét về cách viết của tác giả trong đoạn trích: Người viết Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng, nhưng có cơ sở khoa học. Đây là đặc trưng của thể loại truyện khoa học viễn tưởng.
Câu 10.
Ở đoạn cuối đoạn trích nhân vật “tôi” lại “ngắm nhìn, ngẫm nghĩ, chiêm ngưỡng mà trong lòng thấy sửng sốt và kinh hãi!” là bởi nhân vật đã trải qua một sự kiện bất ngờ là lọt vào trong một cái đường hầm gần như thẳng đứng khiến nhân vật tôi bất tỉnh. Cậu còn được tận mắt chứng kiến vòm đá hoa cương ở cửa hang giống như những đám mây óng ánh chuyển màu. Tuy nhiên ở đây ánh sáng không phải ánh mặt trời mà là ánh điện nên “tôi” cảm thấy u sầu và ảm đạm. Trở lại thực tại là nhân vật “tôi” đang bị giam trong một cái hang không ước được diện tích và trước mặt là biển cả. Tất cả những điều đó khiến cho nhân vật “tôi” sửng sốt và kinh hãi.
Đề số 5:
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
RƯỢT ĐUỔI VÀ KHÁM PHÁ
(Trích Hai vạn dặm dưới đáy biển - J. Verne)
Tất cả xô tới chỗ Nét : thuyền trưởng, các sĩ quan, anh em, thuỷ thủ. Thật chỉ các kĩ sư và thợ đốt lò cũng bỏ máy và lò mà chạy lên. Pha-ra-gút ra lập tức hãm tàu lại và chiếc tàu chỉ còn chuyển động theo quán tính.
Trời tối như mực. Tôi rất ngạc nhiên không hiểu vì sao Nét có thể nhìn thấy một vật gì đó trong đêm dày đặc như thế này. Tim tôi đập mạnh như vỡ ra. Nhưng Nét không lầm. Một lát sau, mọi người đã nhìn thấy cái mà Nét chỉ.
Cách tàu Lin-côn gần bốn trăm mét, biển hình như được chiếu sáng từ trong ra. Đó không phải là hiện tượng biển có ánh sáng như thường gặp. Ca quái vật nổi lên những lớp nước phía trên và đang nghỉ.
Từ thân nó toả ra cái ánh sáng rực rỡ khó tả mà nhiều thuyền trưởng đã nói đến trong báo cáo của họ. Những cơ quan phát sáng của con vật phổ mạnh mẽ thế nào mới phát ra được ánh hào quang lộng lẫy như vậy! Con vật đó có hình bầu dục lớn, thuôn dài, ở giữa đặc biệt sáng và giảm dần ở hai đầu.
– Đó chỉ là nơi tập trung những chất hữu cơ phát sáng thôi! – một sĩ quan nói.
– Ngài lầm rồi, – tôi kiên quyết phản đối, – Động vật chẳng bao giờ phát ra chất sáng như vậy. Đó là ánh sáng điện... Kìa nhìn xem, nhìn xem kìa! Ánh sáng đang chuyển động khi gần khi xa. Nó đang hướng về phía chúng ta đấy.
Có tiếng kêu la trên boong.
Nghiêm! – Thuyền trưởng Pha-ra-gút hô.
– Cho tàu lùi! Mọi người chạy về vị trí của mình. Kẻ thì về buồng lái, người thì về buồn máy. Tàu Lin-côn về một nửa vòng tròn trên mặt biển.
– Lái sang phải! Cho tàu chạy thẳng! - Pha-ra gút ra lệnh.
Chiếc tàu chiến tăng tốc độ và bắt dấu tránh ra xa điểm sáng.
Tôi đã lầm. Chiếc tàu muốn lảng tránh, nhưng con quái vật đuổi theo với tốc độ lớn hơn.
Chúng tôi nín thở. Có lẽ chẳng phải vì sợ hãi mà vì ngạc nhiên mà chúng tôi cứ đứng sững tại chỗ. Con vật rượt theo chúng tôi như đùa giỡn. Nó lượn quanh tàu lúc ấy đang chạy nhanh mười bốn hải lí một giờ. Nói rồi ánh sáng điện vào tàu rồi trong chớp mắt lại bơi ra cách tàu hai, ba hải lí và để lại phía sau một vệt sáng lấp lánh trông tựa những cuộn khói từ một đầu tàu chạy nhanh phun ra. Bỗng nhiên từ phía sau đường chân trời đen thẫm, con quái vật lấy đà lao thẳng tới tàu Lin-côn với một tốc độ ghê người. Nhưng đến cách tàu khoảng sáu mươi mét, nó đột ngột dừng lại và tắt điện. Không, nó không lặn xuống, vì nếu lặn thì ánh sáng phải giảm đi dần dần. Đằng này nó tắt phụt, tựa như nguồn ánh sáng bỗng bị cạn. Con quái vật lại xuất hiện ở phía bên kia tàu, chẳng biết là đã vòng qua hay chui luồn phía dưới. Từng giây phút có thể xảy ra tai nạn đâm vào nhau. Tôi ngạc nhiên về thái độ của con tàu. Nó bỏ chạy chứ không giao chiến. Chính con tàu có nhiệm vụ tìm diệt quái vật, thế mà giờ đây quái vật lại rượt theo tàu! Tôi lưu ý thuyền trưởng Pha-ra-gút về việc đó. Trên khuôn mặt gan góc của ông ta lộ rõ vẻ hoang mang cao độ.
Câu 1. Trong phần đầu của đoạn trích, con quái vật (sau này giáo sư mới biết là tàu ngầm) đã xuất hiện trong không gian nào?
Câu 2. Việc xây dựng không gian như trong đoạn trích có tác dụng gì?
Câu 3. Câu “– Lái sang phải! Cho tàu chạy thẳng!” là lời nói của nhân vật nào?
Câu 4. Những chi tiết được tuởng tuợng có trong đoạn trích là:
A. Thuyền trưởng đang tìm hiểu về vật thể lạ xuất hiện trên biển
B. Con quái vật phát ra ánh sáng đuổi theo tàu của giáo sư
C. Con tàu trên biển đi đánh bắt cá
D. Thuyền truởng cùng với giáo sư đang khám phá đại dương
Câu 5. Những yếu tố khoa học được nhắc đến trong đoạn trích là gì?
A. Tàu ngầm có thể hoạt động duới biển
B. Con quái vật khổng lồ đang rượt đuổi tàu của giáo sư
C. Thuyền của giáo sư đang khám phá đại dương
D. Giáo sư và thuyền trưởng đang nghiên cứu để phát minh ra tàu ngầm.
Câu 6. Số từ trong câu “Nhưng đến cách tàu khoảng sáu mươi mét, nó đột ngột dừng lại và tắt điện. “ bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 7. Đặc điểm bên ngoài của tàu ngầm đuợc miêu tả qua những chi tiết nào?
A. Có hình bầu dục lớn, thuôn dài
B. Có luồng sáng cực mạnh
C. Có thể chạy với tốc độ rất nhanh và có thể ngụp lặn duới biển
D. Cả ba đáp án trên
Câu 8. Tìm phó từ trong câu “Một lát sau, mọi người đã nhìn thấy cái mà Nét chỉ.”
Câu 9. Đoạn trích trên nói đến hình ảnh con tàu. Theo em, hình ảnh con tàu mà tác giả nhắc đến có giống tàu ngầm trong thực tế không? Vì sao?
Câu 10. Nếu có cơ hội tham gia chuyến đi biển đầy mạo hiểm song cũng hết sức thú vị như các nhân vật trong tác phẩm thì em có tham gia không? Vì sao?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.A | 2.C | 3.C | 4.B | 5.A | 6.B | 7.D | 8.C |
Câu 9.
Hình ảnh con tàu mà tác giả nhắc đến trong đoạn trích giống tàu ngầm hiện nay về hình dáng, tốc độ, cấu trúc…
Câu 10. Học sinh chia sẻ theo cảm nhận của cá nhân, đảm bảo tính thực tế, phù hợp, không vi phạm quy định về đạo đức và pháp luật.
IV. TÙY BÚT, TẢN VĂN
+ Nếu là tuỳ bút chú ý đến những chi tiết con người và sự kiện cụ thể, có thực trong tác phẩm, nhất là những chi tiết trở thành cái cớ để bộc lộ những tình cảm, cảm xúc, suy tư và nhận thức của người viết về cuộc sống. Đồng thời phát hiện xem tác giả có cái nhìn như thế nào khi nhìn nhận, lí giải các sự việc, hiện tượng. Nhận biết được hình ảnh và chất thơ trong thể loại tùy bút.
+ Nếu là tản văn: tìm ra những tín hiệu thẩm mĩ trở thành cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mĩ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật. Khi khai thác tản văn không nên chú ý đến cốt truyện mà nên quan tâm đến cảm xúc và những chi tiết khơi gợi cảm xúc cũng như dấu ấn cá nhân của nhà văn. Chú ý đến ý nghĩa xã hội của hiện tượng trong văn bản và những tình cảm, ý nghĩ của tác giả thể hiện trực tiếp trong văn bản.
- Chú ý các chi tiết, sự kiện, được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của tuỳ bút, tản văn.
– Rút ra được thông điệp, bài học nhân văn mà tuỳ bút, tản văn đem đến cho người đọc.
– Suy nghĩ để cảm nhận tư tưởng, quan niệm, luận bàn của tác giả được về những vấn đề nhân sinh, xã hội.
– Liên hệ với bản thân và cuộc sống thực tại để thấy ý nghĩa của tuỳ bút, tản văn đối với cuộc sống, con người.
Đề số 1
Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:
HẠNH PHÚC TỪ TRONG TÂM
Tuệ Nghi
Thỉnh thoảng, khi thức dậy, tôi lại chào buổi sáng bằng tiếng thở dài. Cuộc đời là một chuỗi những âu lo, làm sao tránh khỏi những lúc hoang mang không biết đời mình rồi sẽ ra sao? Giới hạn giữa được và mất quá mong manh, có rồi lại mất, ngày hôm qua còn là của mình nhưng có ai biết được đến hôm nay hay ngày mai liệu có phải sẽ trở thành của người khác hay không?
Tôi cuống cuồng tìm cách níu giữ những thứ minh mất đi, tôi mệt nhoài trong mỗi phút phải gồng minh hứng chịu những cơn mưa đời không biết đến bao giờ mới tạnh.
Tôi đã từng ước, giá mà tôi được trở lại tuổi thơ, khi mà những ước mơ của tôi chỉ dừng lại ở tấm áo mới, cuốn truyện tranh. Tuổi thơ là khi tôi dễ dàng tìm được cảm giác thoả mãn và hạnh phúc nhất, chỉ cần được nghỉ học một buổi là đã cảm thấy mình ngập tràn trong hưng phấn của năng lượng hạnh phúc mang lại. Nhưng giờ đây tôi rất khó để tìm về cảm giác đó. Hạnh phúc nhất là khi được làm trẻ con, dù rằng thời trẻ con thì cứ mong được làm người lớn.
Chiều tắt nắng, tôi đi bộ tha thẩn trên phố, thấy dòng đời vẫn hối hả, có lẽ tôi đã lạc trong sự hối hả đó quá lâu. Có quá nhiều những áp lực đè nén trong lòng khiến đôi khi tôi không biết mình thực sự cần gì, muốn gì, và đâu mới là thứ thật sự khiến tôi hạnh phúc.
Bất giác, tôi thở dài giữa dòng đời tấp nập những tiếng thở dài khe khẽ. Tôi dừng chân dưới một căn chung cư cũ kĩ, leo hết những nấc cầu thang nhỏ bé đầy rêu phong, ghé vào một quán cà phê nhỏ. Catinat chiều mưa vẫn buồn và lắng đọng như thế, tình khúc Phú Quang da diết đưa tôi ra khỏi những câu hỏi “vì sao" cử bủa vây lấy tôi mỗi lúc lạc lõng.
Buổi chiều bao trùm hình bóng nhỏ nhoi bên góc ban công thẫn thờ nhìn ra phố. Cuộc đời là những niềm vui chưa tày gang, là những nỗi buồn cứ bám riết lấy ta không nguội. Đời dù ô trọc mà vẫn phải gượng cười, đời dù cay đắng mà vẫn phải nuốt ngược vào trong. Những cuộc chiến ở đời, ai thắng ai thua rồi cũng phải về lại với cát bụi. Gọi là cõi tạm mà sao phải khổ như thế.
Tôi để đôi chân trần được nghỉ ngơi trong chốc lát trước khi lại mệt nhoài ngược xuôi trên đường đời. Tôi nhận ra rằng hạnh phúc là vô hình, là khi ngồi ở đây, nhìn qua kẽ lá thấy mưa bắt đầu rơi tí tách, cuộc đời lững thững trôi, gánh hàng rong vẫn xuôi ngược giữa tấp nập thành thị, kẻ khóc người cười, hỉ nộ ái ố, tôi bước ra khỏi những cuộc chiến vô nghĩa trong cô độc. Tôi thứ tha cho những thứ đã làm mình đau đớn, sự tha thứ đó chính là món quà dành cho chính tôi, để tôi có thể thanh thản mà bước tiếp bởi không ai có thể đi xa nếu cứ gánh theo trên vai những uất hận ở đời.
Hạnh phúc là khi tôi được bình an.
Mọi thứ đều sẽ có cách giải quyết, nút thắt nào cũng sẽ có cách để mở, người cần đến sẽ đến và người cần đi sẽ buộc phải ra đi.
(Trích Sẽ có cách đừng lo, Tuệ Nghi, NXB Văn học, 2015, tr.6 – 8)
Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Tác dụng của ngôi kể đối với việc thể hiện nội dung là gì?
Câu 3. Nhan đề “Hạnh phúc từ trong tâm” có ý nghĩa gì?
Câu 4. Văn bản này đề cập đến vấn đề gì?
Câu 5. Phó từ trong câu “Những cuộc chiến ở đời, ai thắng ai thua rồi cũng phải về lại với cát bụi.” là:
Câu 6. Nhận xét nào đúng về cách sử dụng các từ ngữ được gạch chân trong câu văn: Tôi cuống cuồng tìm cách níu giữ những thứ mình mất đi, tôi mệt nhoài trong mỗi phút phải gồng mình hứng chịu những cơn mưa đời không biết đến bao giờ mới tạnh.”
Câu 7. Theo người viết, thế nào là hạnh phúc
Câu 8. Từ nào sau đây là từ Hán Việt
Câu 9. Em có đồng tình với tác giả khi tác giả cho rằng: “Mọi thứ đều sẽ có cách giải quyết, nút thắt nào cũng sẽ có cách để mở, người cần đến sẽ đến và người cần đi sẽ buộc phải ra đi.” không? Vì sao?
Câu 10. Theo em, qua văn bản này, tác giả muốn gửi gắm thông điệp nào về cuộc sống?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3.D | 4.C | 5.A | 6.D | 7.B | 8.C |
Câu 9. Học sinh đưa ra quan điểm của bản thân và lí giải hợp lí.
Ví dụ: HS đồng tình: Lí giải: Mọi việc dù có khó khăn cũng có cách giải quyết, kể cả trong tình huống ta thất bại cũng phải dũng cảm đối diện thất bại, tìm ra nguyên nhân, giải pháp khắc phục.
Câu 10: Theo em, văn bản đưa ra thông điệp:
Hạnh phúc xuất phát từ chính trong tâm ta. Hãy bình tĩnh, vững vàng đối diện với khó khăn, thử thách trong cuộc sống, vượt qua chúng để mang lại hạnh phúc cho chính mình. Hãy trân trọng những gì mình đang có.
Đề số 2
Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:
ĐÀ LẠT VÀ TÔI
Chu Văn Sơn
Tôi đồ rằng, do bất bình trước cái việc tạo hoá đã ném mình vào nắng nung khiến thân nhiệt lúc nào cũng nồng nã vã sáng, xứ nhiệt đới này đã gồng mình cướp lại băng được một phần ôn đới rồi đem về cất giấu tận trên cao nguyên Di Linh làm của để dành. Vì thế mà có Đà Lạt. Đà Lạt được giấu kín như thế hàng kỉ nguyên sau mây mù và rừng núi rậm rạp. Kín đến nỗi chính xứ nhiệt đới cũng từng quên mất nó. Chỉ đến khi một người Pháp tốt bụng là Yersin kiên nhẫn dò tìm và phát hiện ra, thì Đà Lạt mới được khua dậy, được dắt tay ra khỏi lãng quên. Lập tức người Pháp ở Đông Dương chọn đây làm nơi nghỉ dưỡng khi không thể về bản quốc.
Lên đây, họ cảm thấy được hồi hương ngay tại xứ người. Người Việt xem Đà Lạt như một ôn đới gần, một ôn đới nằm gọn trong vòng tay nhiệt đới. Từ Hà Nội bay vào hay Sài Gòn bay ra, họ đều cất cánh từ mùa hạ, sau vài tiếng đồng hồ, đáp cánh xuống mùa thu. Người bị ngập đầu trong guồng quay công việc tìm về đây cho ngày cuối tuần thư giãn, y như thỏi sắt nung được nhúng vào nước lạnh.
Người cầm tù trong nhịp sống tĩnh tại, thời gian biểu quần quanh, tìm về đây như một dịp thau chua rửa mặn, được sống những nhu cầu khuất lấp trong mình. Có phải ngàn thông là một bộ lọc tận tuy vô tư cho Đà Lạt không Bao bọc Đà Lạt trong lòng mình, ru vỗ Đà Lạt trong cái nội xanh đời đời của mình, thông cao nguyên cứ lặng thầm lọc nóng thành mát, đục thành trong tục thành thanh, ổn ã thành êm ả, nhiệt đới thành ôn đới...
[...]Mối nguy cơ đến từ vùng thấp đang lan tràn và lăm le đánh chiếm nổi miền cao này. Cái xô bồ, hỗn tạp, nhiều loạn, quay cuồng chả đời nào chịu buông tha cho những chốn êm đềm yên ả. Sự cách li có là phòng tuyến lâu dài? Sự ẩn dật có thể là trường thành chống đỡ và cách sống chậm nữa, liệu có thể là lá mộc che giữ cho sự bình yên này mãi không? Tôi đọc ra niềm lo âu trong mỗi tiếng thở dài của rừng thông về đêm và những thoáng rùng mình kín đảo từ những đoá hoa hồng, lay ơn, cẩm tú cầu khi những tia nắng đầu tiên gọi về một ngày mới.
Nỗi lo âu dường như cũng tỏ mờ ngay cả trong những làn hương từ mỗi li cà phê trong quán nhỏ. Chẳng thế mà, đang nghi ngút toả lên yên ả vậy, sao chốc chốc làn hương lại chợt ngừng, chợt ngơ ngẩn bởi những thoáng gió lạ lúc nắng mai? Chỉ Đà Lạt mới biết hằng đêm, mỗi khi tiếng chuông điểm canh trên thiền viện ngân trong thanh vắng, thì cũng là lúc ngàn thông vào thiền định trong một lễ cầu an mênh mông thầm nguyện cầu cho xứ sở yên hàn.
(Trích Đà Lạt và tôi, in trong cuốn Tự tình cùng cái đẹp của Chu Văn Sơn, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr.38 – 49)
Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Vẻ đẹp của thiên nhiên của Đà Lạt theo quan điểm của người viết gắn liền với khí hậu gì?
Câu 3. Câu văn “Người bị ngập đầu trong guồng quay công việc tìm về đây cho ngày cuối tuần thư giãn, y như thỏi sắt nung được nhúng vào nước lạnh.” thể hiện ý nghĩa gì?
Câu 4. Nhận xét nào sau đây đúng khi nói về cách sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích:
Câu 5. Từ Hán Việt trong câu “Lên đây, họ cảm thấy được hồi hương ngay tại xứ người.” là:
Câu 6. Phó từ “những” trong câu văn “Nỗi lo âu dường như cũng tỏ mờ ngay cả trong những làn hương từ mỗi li cà phê trong quán nhỏ.” bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 7. Đoạn trích trên thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của người viết:
Câu 8. Phó từ trong câu “Tôi đọc ra niềm lo âu trong mỗi tiếng thở dài của rừng thông về đêm và những thoáng rùng mình kín đảo từ những đoá hoa hồng, lay ơn, cẩm tú cầu khi những tia nắng đầu tiên gọi về một ngày mới.” là:
Câu 9. Em có đồng tình với tác giả khi cho rằng: Cái xô bồ, hỗn tạp, nhiều loạn, quay cuồng chả đời nào chịu buông tha cho những chốn êm đềm yên ả. Sự cách li có là phòng tuyến lâu dài? Sự ẩn dật có thể là trường thành chống đỡ và cách sống chậm nữa, liệu có thể là lá mộc che giữ cho sự bình yên này mãi không? Vì sao?
Câu 10. Theo em, để bảo vệ bình yên cho các danh lam thắng cảnh ở nước ta khỏi sự xô bồ, hỗn tạp cần có giải pháp gì?
| 2. A | 3.B | 4.D | 5.C | 6.A | 7.C | 8.B |
Câu 9.
Học sinh đưa ra được ý kiến của mình và lí giải hợp lí.
Câu 10.
Gợi ý:
Đề số 3:
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
TIẾNG CHIM TRONG THÀNH PHỐ
(1)Hà Nội những năm vừa tiếp quản thập niên 50, 60 là một sân chim vô cùng phong phú. Kể cả những tháng ngày chiến tranh bom đạn cũng không bao giờ vắng tiếng chim. Trên những vòm lá cổ thụ là nơi trú ngụ của hàng đàn chim khuyên lớn. Hửng sáng, những chú chim trống đua nhau hót sổng gọi bạn. Tiếng hót râm ran hàng tiếng đồng hồ. Con chim vào loại bé nhất trong các loài chim ấy không ngờ có giọng hót lảnh lót vang xa đến thế. Lũ chim sẻ bị đánh thức hòa giọng chành chọe dấm dứt rời chỗ ngủ. Những con chích chòe than đậu chót vót trên ngọn cây cất tiếng hót từng hồi dài. Phía vườn Bách Thảo lạch xạch tiếng con chim dẻ quạt luồn lách trong những tàng cây thấp cất tiếng hót trong veo mảnh mai tơ tóc. Hòa giọng lanh chanh sắc nhọn của bầy chim bạc má thoăn thoắt chuyền cành. Những cây cổ thụ trong các đình chùa là nơi trú ngụ của những con chim cú mèo. Ban đêm, chúng lặng lẽ liệng cánh rất thấp dọc theo các con phố tối đèn tìm bắt chuột.
Tháng ba, hoa gạo nở đỏ rực bên hồ Hoàn Kiếm, Bảo tàng lịch sử, Miếu Hai Cô góc Văn Miếu. Từng đàn chim sáo đen, sáo mỏ nghệ, sáo nâu kéo về từ mạn Hòa Bình xôn xao trò chuyện. Chúng còn nán lại sang hết tháng tư khi những quả đa chín vàng rượi quanh hồ. Tháng mười một, mùa quả nhội chín, chim héc có cái mỏ đỏ chót ầm ĩ kéo về phố hàng đàn. Những quả nhội chín chớm chua màu cát là thức ăn loài chim này rất thích. Những con phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Phan Chu Trinh lúc ấy trồng chủ yếu loại cây này.
Quanh năm trên những cây cổ thụ trong thành phố không lúc nào ngớt tiếng chim cu gáy gọi bạn. Chúng chọn những hàng cây lớn ven sông Hồng phía đường Yên Phụ và khu bệnh viện Hữu Nghị làm nơi tá túc. Là nơi có khoảng cách gần nhất để vượt sông sang những bãi bồi ngô lúa bờ bên kia. Ngoài bãi sông trong những tầng cây thấp là tiếng con chim gọi vịt chập chờn theo tiếng sóng. Loài chim này rất hiếm khi có thể nhìn thấy chúng. Nhưng tiếng hót đặc biệt đúng giờ và đúng nơi cứ như thể chúng vĩnh viễn có mặt ở đấy. Đầu hè là tiếng chim sơn ca tha thiết tìm bạn trên những dải cát hồng bãi giữa. Giọng sơn ca thỉnh thoảng vút cao giữa tầng không trong vắt như nhạc xuống từ trời. Con chim xấu mã này có một giọng ca tuyệt vời nhất trong toàn bộ thế giới chim cảnh.
Chim chào mào dạn người sống khắp nơi trong thành phố. Công viên vườn hoa nào cũng rất sẵn. Lũ chào mào hoắng huýt coi tất cả cây cối như nhà riêng của chúng.
Mùa di trú, chim sâm cầm, le le kéo về đậu trên mặt nước Hồ Tây thành những mảng lớn lênh đênh trên sóng. Đàn chim rét mướt giữa sương khói mặt hồ ẩn hiện thần tiên trong những lau lách lan man bên bờ. Cuối bãi sông Hồng kéo dài về phía Hà Nam là những con giang, con sếu co ro một chân im lìm soi bóng nước như bức tượng xám...
(2)Những cánh chim trong thành phố được thảnh thơi bay lượn vui vầy cho đến khoảng giữa những năm 60 của thế kỉ trước. […]
Chim khách và chim quạ biến mất hoàn toàn cho đến tận bây giờ không chỉ ở Hà Nội. Lác đác còn lại vài con chim cu gáy sợ sệt hiếm khi nghe thấy giọng. Những chim nhỏ cũng lần lượt vào nồi bởi số lượng đông đảo. Chào mào và chim sẻ trải qua giai đoạn khốc liệt này chỉ còn rất thưa thớt.
Hồ Tây với việc xây dựng ồ ạt trong những năm gần đây không chỉ mất đi cảnh quan ven hồ. Đàn chim di trú cũng chỉ còn lác đác lai vãng năm về năm không. Ngoài đê sông Hồng đã trở thành phố phường, không bao giờ còn nghe thấy tiếng con chim gọi vịt nữa. Mấy cây gạo ven hồ Hoàn Kiếm và Văn Miếu đã không còn. Lũ sáo đá, sáo nâu nhiều năm rồi biệt tích.
Người Hà Nội không thể thiếu tiếng chim. Nạn săn bắn đã được kiểm soát chặt chẽ từ hơn chục năm rồi. Nhưng thật lạ, những loài chim tưởng như rất dạn người không quay về nữa. Người Hà Nội chơi chim cảnh nuôi nhốt trong lồng. Tiếng hót sung mãn của con sơn ca, con vành khuyên, con chào mào nuôi nhốt nghe ra vẫn có âm hưởng ai oán thế nào?
Đỗ Phấn
Câu 1. Nội dung chính của phần (1) trong văn bản là gì?
D. Tái hiện một thành phố Hà Nội Có rất nhiều công viên, vườn hoa
Câu 2. Nội dung chính của phần (2) trong văn bản là gì?
A. Nêu lên niềm vui của người viết về tiếng chim trong thành phố
B. Phản ánh hiện trạng Hà Nội bây giờ đã vắng đi rất nhiều tiếng chim)
C. Phản ánh hiện thực Hà Nội bấy giờ đang xây dựng nhiều nhà cao tầng
D. Nếu lên cảnh Hà Nội bây giờ rất nhiều người nuôi chim trong lòng
Câu 3. Tác giả sử dụng cách thức nào để miêu tả các loài chim trong thành phố
A. Liệt kê tên các loài chim
B. Miêu tả thời điểm hoạt động
C. Tái hiện âm thanh tiếng hót
D. Tái hiện hình dáng, màu sắc
Câu 4. Theo bài viết, các loài chim trong thành phố Hà Nội được thoải mái bay lượn, không sợ săn bắn vào khoảng thời gian nào?
A. Khoảng cuối những năm 60 thế kỉ trước
B. Khoảng giữa những năm 50 thế kỉ trước
C. Khoảng đầu những năm 50 thế kỉ trước
D. Khoảng giữa những năm 60 thế kỉ trước
Câu 5. Câu văn nào sau đây nêu được nội dung khái quát cho ba câu còn lại?
A. Hà Nội những năm 50, 60 của thế kỉ trước là một sân chim vô cùng phong phú. B. Những con chích choẻ than đậu chót vót trên ngọn cây cất tiếng hót từng hối dài.
thực thành phố vắng tiếng chim?
C. Từng đàn chim sáo đen, sáo mỏ nghệ, sáo nâu kéo về từ mạn Hòa Bình xôn xao trò chuyện
D. Ngoài bãi sông, trong những tầng cây thấp là tiếng con chim gọi vịt chập chờn theo tiếng sóng
Câu 6. Câu văn nào sau đây như một lời than buồn bã của tác giả trước hiện thực thành phố vắng tiếng chim?
A. Chim chào mào dạn người sống khắp nơi trong thành phố.
B. Loài chim này rất hiếm khi người ta có thể nhìn thấy chúng.
C. Lũ chào mào coi tất cả cây cối như nhà riêng của chúng.
D. Giờ người Hà Nội chỉ chơi chim cảnh nuôi nhốt trong lồng.
Câu 7. Qua văn bản trên, có thể thấy tác giả là người như thế nào?
A. Có tình yêu tha thiết với các thành phố nhiều cây xanh
B. Có hiểu biết phong phú và rất yêu quý tiếng chim
C. Có ý thức bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp
D. Có thái độ phê phán việc nuôi chim cảnh trong thành phố
Câu 8. Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu nào?
A. Những con quạ đen khẽ khà kêu khoái trá trên những cây gạo ngoài bài sông cùng với chim khách, chim cà cưỡng.
B. Từng đàn chim sáo đen, sáo mỏ nghệ, sáo nâu kéo về từ mạn Hoà Bình Xôn xao trò chuyện.
C. Ngoài bãi sông, trong những tầng cây thấp là tiếng con chim gọi vịt chập chờn theo tiếng sóng.
D. Giọng sơn ca thỉnh thoảng vút cao giữa tầng không trong vắt như nhạc xuống từ trời.
Câu 9. Thông điệp chính mà tác giả muốn chuyển đến bạn đọc qua văn bản Tiếng chim trong thành phố là gì?
Câu 10. Theo em, cần có những biện pháp nào để bảo vệ các loài chim.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
|
| 3.A | 4.B | 5.A | 6.D | 7.B | 8.D |
Câu 9. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm: Thành phố Hà Nội cần có chính sách và quy định để bảo vệ các loài chim trong thành phố. Mỗi người dân cũng cần có ý thức để bảo vệ các loài chim.
Câu 10. Những biện pháp để bảo vệ các loài chim:
- Không săn bắt các loài chim quý hiếm.
- Xây dựng khu bảo tồn các loài chim quý hiếm.
- Bảo vệ môi trường sống của các loài chim.
- Tăng cường bảo vệ và chăm sóc các loài chim.
- Hạn chế săn bắt và nuôi chim làm cảnh.
- Tuân theo các biện pháp và tuyên truyền các biện pháp này cho người thân và hàng xóm để bảo vệ các loài chim.
Đề số 4:
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
MỘT THỨ QUÀ CỦA LÚA NON: CỐM
Cơn gió mùa thu hạ lướt qua vùng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn ngửi thấy, khi đi qua những cánh đồng xanh, mà hạt thóc nếp đầu tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của bông lúa non không? trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phản phất hương vị mùi hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúc càng ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời.
Đợi đến lúc vừa nhất, mà chỉ riêng những người chuyên môn mới định được,người ta gặt mang về. Rồi đến một loạt cách chế biến, những cách thức làm, truyền tự đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn, các cô gái Vòng làm ra thứ cốm dẻo và thơm ấy. Tất nhiên là nhiều nơi cũng biết cách thức làm cốm, nhưng không có đâu làm được cốm dẻo, thơm và ngon được ở làng Vòng, gần Hà Nội. Tiếng cốm Vòng đã lan khắp tất cả ba kỳ, và đến mùa cốm, các người ở Hà Nội 36 phố phường vẫn thường ngóng trông cô hàng cốm xinh xinh, áo quần gọn ghẽ, với cái dấu hiệu đặc biệt là cái đòn gánh hai đầu cong vút lên như chiếc thuyền rồng ...
Cốm là thức quà đặc biệt riêng của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam. Ai nghĩ đầu tiên dùng cốm để làm quà siêu tết? Không có gì hợp hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi. Hồng cốm tốt đôi ... Và không bao giờ có hai màu lại hòa hợp hơn nữa: màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu bền. (Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy những tục lệ tốt đẹp ấy mất dần, và những thức quý của đất mình thay dần bằng những thức bóng bẩy hào nháng và thô kệch bắt chước nước ngoài: những kẻ mới giàu vô học có biết đâu thưởng thức được những vẻ cao quý kín đáo và nhũn nhặn?).
Cốm không phải là thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một, còn giữ lại cái ấm áp của những ngày mùa hạ trên hồ. Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen, chúng ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ và tinh khiết, không có mảy may chút bụi nào. Hỡi các bà mua hàng! Chớ có thọc tay mân mê thức quà thần tiên ấy, hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve ... Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người, và sự cố tiềm tàng và nhẫn nại của thần lúa. Sự thưởng thức của các bà sẽ được trang nhã và đẹp đẽ hơn và cái vui cũng sẽ tươi sáng hơn nhiều lắm.
Cốm để nguyên chất ăn bao giờ cũng ngon và nhiều vị. Tất cả những cách thức đem nấu khác chỉ làm cho thức quà ấy bớt mùi thơm và chất dẻo đi thôi. Tuy vậy, nhiều người ưa cái thứ cốm xào, thắng đường rất quánh. Thành ra một thứ quà ngọt sắc và dính răng. Như vậy tưởng mua bánh cốm mà ăn lại còn thú vị hơn. Ở Hà Nội, người ta còn làm một thứ chả cốm, nhưng cái thanh đạm của vị lúa không dễ ăn với cái béo tục của thịt, mỡ. Tôi thích hơn thứ chè cốm, nấu vừa đường và không đặc. Ít ra ở đây cốm cũng còn giữ được chút ít vị thơm và chất dẻo, và chè cốm ăn cũng mát và lạnh. Nhưng cũng chắng gì hơn là một lá cốm Vòng tươi sạch trong một chiếc lá sen mới hái về.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. Văn bản đã viết về những phương diện nào?
A. Nguồn gốc và cách thức làm cốm
B. Vẻ đẹp và công dụng của cốm
C. Sự thưởng thức cốm
D. Cả 3 phương diện trên
Câu 3. Theo người viết, ăn cốm phải ăn như thế nào?
Câu 4. Phó từ “cũng” trong câu “Cốm để nguyên chất ăn bao giờ cũng ngon và nhiều vị” bổ sung ý nghĩa gì?
Câu 5. Món cốm vòng cho thấy phong cách ăn uống gì của người Hà Nội?
Câu 6. Câu văn nói rõ nhất giá trị đặc sắc chứa đựng trong hạt cốm?
A. Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam.
B. Không còn gì hợp hơn với sự vấn vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi.
C. Và không bao giờ có hai màu lại hòa hợp hơn được nữa: màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già.
D. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để được hạnh phúc lâu bền.
Câu 7. Nội dung của văn bản trên là gì?
A. Ca ngợi lúa non, cốm, thức quà ngon và độc đáo
B. Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, những cánh đồng, mang trong mình hương vị mộc mạc, giản dị thanh khiết của đồng quê nội cỏ.
C. Những khám phá, phát hiện ra giá trị độc đáo, đặc trưng của thức quà cốm, giản dị
D. Cả B và C đều đúng
Câu 8. Câu văn “Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước .... đồng quê nội cỏ An Nam.” nói đến vấn đề gì ?
A. Kể về nguồn gốc của cốm Vòng.
B. Ca ngợi giá trị của cốm Vòng.
C. Miêu tả cách thức làm cốm Vòng.
D. Bàn về sự thưởng thức cốm Vòng.
Câu 9. Theo em, cái tôi của tác giả thể hiện trong văn bản này như thế nào?
Câu 10. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua văn bản là gì?
GỢI Ý ĐÁP ÁN
1.B | 2.A | 3.D | 4.B | 5.C | 6.A | 7.A | 8.B |
Câu 9. Cái tôi của tác giả được thể hiện trong “Chuyện cơm hến” là cái tôi yêu quê hương, yêu những nét văn hóa ẩm thực độc đáo của quê hương mình.
Câu 10. Thông điệp: Hãy trân trọng, giữ gìn những đặc sản của địa phương, và nuôi dưỡng những nét đẹp văn hoá của quê hương.
Đề số 5:
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
MÙA PHƠI SÂN TRƯỚC
Hồi con nít thích đi xe đạp về nhà ngoại bằng con đường xóm cặp mé sông Rạch Rập. Đường đất dầm dãi suốt một em cần: mùa mưa, chúng' gió chưởng thổi về mới ráo tạnh bùn lầy. Đến Chạp thì những chân trâu cũng bị bôi xoá hết, có thể đạp xe thong dong mà đã đời nghiêng ngó.
Mùa Chạp đi bảy cây số không nghe mỏi. Gió chướng khoác lên làng mạc một vẻ mơ màng, đường uốn lượn theo sống, và dòng chảy đó thẳm suốt thoắt ẩn thoắt hiện sau những lùm cây hoang dại. Dọc đường thấy Tết lấp ló khắp nơi, trên sân nhà người, trên những giản phơi.
Người nhà quê hồi mình con nit toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt sân đất, nên nhà nào cũng cặm cái giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa, sân chim trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củ, hay gối, chiếu. Những ngày hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cảm mốc, khi thì mở bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì mở cơm nguội hay mở lả dừa khô dùng để nhen lửa, mẩy trái đậu bắp giả làm giống cho mùa sau,... Phơi trên giàn mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lung. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên giản, lúa khô đem vô bổ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân xâm xấp nước lúa rảy" đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm gian phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giản bày ra những món ngon chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa,... thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhút hạng, mới cần thứ nắng rỏng rong như thắp lửa, thứ nắng như chảy trên đầu. Mùa Chạp cả làm địa người ta lớp rọng lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mở xẻ làm khô ăn Tết. Mùa địa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giản phơi cũng đầy những con cả năm nhuộm nắng cho đỏ au da thịt.
Mùa Chạp thể nào cũng gặp người ta ép chuối khô. Chuối xiêm chín cây sẵn ngoài vườn, lột vỏ phơi một nắng, rồi đem ép mỏng. Không như cả khô rủ rê bọn ruổi nhặng đến mức phải đốt nắm nhang cắm nơi đầu gió để xua đuổi chúng, mật chuối tươm ướt rượt chỉ mê dụ quyển rũ lũ ong. Kéo tới dập dìu, lão đảo bay đầu như say, những con ong sa đà ở giản phơi cho đến khi những miếng chuối ép mỏng bắt đầu khô quắt, vàng óng như vua nướng trên than hồng. Chuối phơi đủ nắng có thể ăn tới ra Giêng, mật lặn vào trong vừa ăn vừa tợp miếng trà, hoặc ngào qua với khóm, me.... đem dầm nước đá uống cũng ngon thấu trời. Vậy là nước miếng mình tứa ra, trên từng mét đường về nhà ngoại. Tâm hồn mệt nhoài với những món ăn cực kì mời gọi trong sân thiên hạ. Đang thèm tô cơm nguội chan nước dừa ăn với khô lóc nướng thì bỗng nghĩ giờ phải có thịt kho Tàu để ăn với dưa kiệu nhà kia, rồi cái hủ mắm tép dầm nắng sát hàng rào làm mình nhớ nhung chuối chát, khế chua cùng với gừng xắt mịn thì mâm mút tắc" đỏ au đằng kia làm mình làm chết một cách lim dim như tụi kiến Chân rõ ràng không mỏi, nhưng tâm rã rời, cứ chạy theo đeo đuổi mốt trên những giàn phơi. Hụt hơi, chới với. Có lần về nhà kêu má Tết này làm những món này nảy, những món mà mình nhìn thấy mang theo trên suốt chặng đường từ nhà ngoại về. Má cười, người ta có đâu có nghĩa là mình phải có.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 3. Người dân quê của tác giả phơi trên sân những gì?
Câu 4. Từ “má” là từ địa phương của miền nào?
Câu 5. Chủ đề của văn bản là:
Câu 6. Em cảm nhận được điều gì về cái “tôi” của tác giả đã thể hiện trong văn bản?
A. Đó là một cái “tôi” nhẹ nhàng sâu lắng, đầy hoài niệm qua những câu chữ nhẹ nhàng, những kỉ niệm tuổi thơ gắn với sân phơi kí ức.
B. Đó là một cái “tôi” sôi nổi, hào hứng đầy nhiệt huyết khi nhớ về những kỉ niệm của tuổi thơ.
C. Đó là một cái tôi mê đắm, tài hoa, uyên bác
D. Đó là một cái “tôi” khát khao sống, khát khao yêu thương.
Câu 7. Giá trị nội dung của văn bản là:
Câu 8. Tìm phó từ trong câu “Tâm hồn mệt nhoài với những món ăn cực kì mới gọi trong sân thiên hạ.”
Câu 9. Nhận xét về chất trữ tình trong văn bản.
Câu 10. Văn bản giúp em hiểu gì về tình cảm của người viết với quê hương.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
| 2.A | 3.D | 4.C | 5.C | 6.A | 7.D | 8.A |
Câu 9. Nhận xét về chất trữ tình trong văn bản:
- Chất trữ tình nhẹ nhàng
- Chất trữ tình góp phần thể hiện cảm xúc của tác giả, tạo cho bài văn mạch chất trữ tình nên thơ.
Câu 10. Văn bản giúp em hiểu về tình cảm của người viết với quê hương:
Văn bản cho thấy sự gắn bó sâu nặng của tác giả - người con xa quê - với quê nhà. Đó là cảm xúc hoài niệm nhớ nhung về tuổi thơ, tình cảm yêu quê hương tha thiết. Với nhà văn, những hình ảnh, đặc trưng của quê hương luôn khắc ghi trong tâm trí.
Copyright © nguvan.online
